PHẬT LỊCH 2561 - 2018

 

 

ẤN QUANG PHÁP SƯ

VĂN SAO TAM BIÊN

 

 

(Quyển 4)

 

 

 

Chuyển ngữ: Bửu Quang tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Minh Tiến & Huệ Trang

(Theo bản in của Cổ Tấn Báo Ân Niệm Phật Đường, năm 2002)

 

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Quyển 4

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Minh Tiến & Huệ Trang

 

13. Bài tụng nhân lễ khai mạc Bảo Sơn Cư Sĩ Lâm

Như Lai đại pháp là nguồn các pháp, mảy trần chẳng lập, vạn đức vẹn toàn. Khắp cả thế gian và xuất thế gian, nhân quả, sự lư, không ǵ chẳng gồm! Giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, mong thành thánh hiền, tâm địa ắt phải chẳng thẹn bóng áo, tu Giới - Định - Huệ, đoạn tham - sân - si. Tự lợi, lợi tha, cùng chứng Bồ Đề. Ví như dựng nhà, trước phải đắp nền; nền đă kiên cố, không ǵ chẳng thành. Do vậy học Phật, trước hết là phải giữ vẹn luân thường. Luân thường chẳng thiếu, mới hợp đạo chân. Chúng sanh đời Mạt nghiệp chướng sâu nặng, chỉ cậy tự lực, khó khỏi trầm luân. Như Lai xót thương, mở môn Tịnh Độ.

 

Dùng chân tín nguyện, tŕ hồng danh Phật. Chúng sanh vận dụng ḷng Thành cảm Phật; Phật v́ từ bi, cảm ứng đạo giao, như gương hiện bóng. Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối. Nếu được như thế, muôn người tu tập, muôn người văng sanh. Từ đầu đến cuối, dốc cạn thành kính, đừng làm các ác, vâng làm các lành. Dạy xuông sẽ căi, thân làm, người theo. Nh́n vào cảm hóa, lợi ích thật to. Bảo Sơn sáng lập Cư Sĩ pháp lâm, riêng viết đại nghĩa, phát khởi tín tâm. Một pháp Niệm Phật, nhiếp khắp các pháp, dường như hư không, chứa muôn h́nh tượng, thông đạt trọn hết. Nguyện người thấy nghe, đều cùng nức ḷng, ngơ hầu kiếp vận, do đây tiêu diệt. Ḷng người đă chuyển, thiên quyến tự đến, thời vận ḥa b́nh, mùa màng sung túc, hưởng măi thái b́nh.

 

 

14. Ca tụng đức hạnh cao đẹp của Tŕnh thái phu nhân mẹ ông Vương

Nghĩ tưởng Vương mẫu, túc căn thật sâu. Từ bé mẹ đă đỡ tốn công sức, giáo hóa uốn nắn, hiếu dưỡng song thân; lớn lên, lấy ông Vương, một niềm hiếu thuận, giúp chồng quán xuyến, trọn hết phận vợ. Ông Vương qua đời, nuôi dạy con cái, vừa từ, vừa nghiêm, mềm mỏng, cứng rắn, đều cùng rạng ngời. Con đă trưởng thành, cho đi học hỏi, phụng sự đất nước, mong noi tiên giác. Những năm gần đây, con là Bách Linh, thâm nhập Phật pháp, khuyên mẹ nhất tâm, tu tŕ Tịnh nghiệp. Tới lúc lâm chung, niệm Phật qua đời, chưa thấy tướng lành, Linh khá lo nghĩ, càng thêm tinh tấn. Trong khi quán Phật, tưởng nhớ tới mẹ, được thấy mặt mẹ, gần giống mặt Phật. Khi mẹ c̣n sống, mẹ con nương nhau, để cùng sống c̣n. Khi mẹ mất rồi, để khích lệ con, hiện bóng cho thấy. Tuyệt thay, Vương mẫu! Anh hiền khuê các! Nên viết đại lược, để lưu truyền măi.

 

15. Bài tán dương đề trên h́nh ảnh tỳ-kheo-ni Tiên Đức

Từ khi vào Không Môn, ḷng chỉ nghĩ đến Phật, trong suốt mười hai thời, niệm Phật chẳng gián đoạn. Niệm lâu ngày chầy tháng, tâm đă hợp với Phật, biết trước được lúc mất, đến kỳ, ngồi qua đời, nhằm lợi khắp nữ giới, nên viết bài tụng này. Nguyện cho người đời sau, giữ măi hạnh đẹp ấy.

 

16. Bài tán dương đề trên h́nh cư sĩ Cao Hạc Niên

Người chê cư sĩ tánh quá thiên lệch, tôi khen sự thiên lệch ấy chính là Viên. Do Thiên nên chẳng màng gia sản, do Thiên nên hiểu sâu Giáo, Thiền. Do Thiên nên vân du các nơi danh thắng trong cả nước. Do Thiên nên tham học với khắp các bậc cao hiền trong Tông, trong Giáo. Do Thiên nên chuyên tu pháp đặc biệt là Tịnh Độ. Do Thiên nên kết Tịnh duyên với khắp những người cùng hàng. Do Thiên nên chẳng truyền ḍng giống. Sửa nhà thành am để an trụ bậc trinh tiết, ngơ hầu họ được trọn vẹn thiên tánh, nay đă sắp ĺa đời ác Ngũ Trược, lên thẳng chín phẩm sen báu nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới. Do vậy, qua h́nh vẽ của bạn già là Vương Nhất Đ́nh, bèn viết lời chân thật để nêu tỏ duyên do của sự thiên lệch ấy (Cuối Xuân năm Bính Tư, tức năm Dân Quốc 25 - 1936).

 

17. Nêu lên những điểm chánh yếu của sách Sức Chung Tân Lương

Lúc mạng sắp hết, Tứ Đại chia ĺa, mọi khổ đều nhóm. Nếu chẳng phải từ lâu đă chứng tam-muội, thật sợ chẳng dễ ǵ đắc lực được! Huống chi quyến thuộc chẳng am hiểu lợi - hại, thường v́ t́nh cảm thế tục mà phá hoại chánh niệm. Do vậy, Sức Chung Xă được thành lập. Sức Chung ( ) có nghĩa là giúp đỡ cho người sắp mất được văng sanh. Ấy là v́ đang trong lúc ấy, nếu hành nhân được phụ trợ bằng khai thị, hướng dẫn sẽ sanh tâm vui mừng, hoan hỷ, ḷng tham ái chấm dứt, tai nghe danh hiệu Phật, tâm duyên theo cảnh Phật, sẽ tự có thể cảm ứng đạo giao cùng Phật, được Phật tiếp dẫn văng sanh Tây Phương. Ví như kẻ yếu hèn muốn lên núi cao, đằng trước có người lôi, sau lưng có kẻ đẩy, hai bên có người xốc nách d́u đi, sẽ tự chẳng đến nỗi bỏ cuộc giữa chừng. Dẫu cho kẻ lúc b́nh thường trọn chẳng hề nghe đến Phật pháp, lâm chung được thiện tri thức chỉ dạy liền sanh tín tâm. Lại được trợ niệm Phật hiệu khiến cho người ấy theo tiếng niệm của đại chúng mà niệm ra tiếng hoặc niệm thầm trong tâm. Nếu được trợ niệm đúng pháp, không có hết thảy những chuyện phá hoại chánh niệm th́ cũng có thể văng sanh. Do Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, do pháp lực chẳng thể nghĩ bàn, do chúng sanh tâm lực chẳng thể nghĩ bàn, nên được lợi ích thù thắng ấy. Nguyện những ai làm con làm cháu và các quyến thuộc cùng hàng phụ mẫu v.v… đều biết nghĩa này, cùng hành theo đó th́ mới gọi là chân từ, hiếu thảo với cha mẹ, thương yêu người thân vậy.

 

18. Đề từ cho cuốn Nghi Thức Niệm Tụng Của Linh Nham Sơn Tự

Hết thảy kinh Phật và các sách xiển dương Phật pháp, không một loại nào chẳng nhằm làm cho con người lánh dữ, hướng lành, sửa lỗi, hướng thiện, nêu rơ nhân quả ba đời, hiểu rơ Phật tánh sẵn có, vượt khỏi biển khổ sanh tử, sanh lên cơi sen Cực Lạc. Người đọc hăy nên sanh tâm cảm ân, sanh ư tưởng khó gặp gỡ, tay sạch, bàn sạch, giữ ḷng kính, ǵn ḷng Thành, như đối trước Phật, trời, như đến trước mặt các quan dạy bảo đế vương th́ vô biên lợi ích sẽ đích thân đạt được. Nếu phóng túng không kiêng dè, mặc t́nh khinh nhờn, và cố chấp, thấy biết hẹp ḥi, lầm lạc sanh ḷng hủy báng, tội lỗi sẽ ngập trời, khổ báo vô tận. Kính khuyên người đời, hăy lánh xa tội, cầu lợi ích, ĺa khổ được vui vậy!

 

19. Đề từ cho sách A Di Đà Kinh Bạch Thoại Giải Thích

A Di Đà Kinh chính là đạo để hết thảy thánh - phàm cùng tu, cũng là pháp để quyết định liễu thoát ngay trong đời này. Kinh văn tuy rơ ràng, giản lược, nghĩa cực rộng sâu. Cổ đức muốn cho ai nấy đều tu tập, nên xếp kinh này vào khóa tụng hằng ngày. Thường có những thiện tín b́nh dân chẳng thấu hiểu văn lư sâu xa, tuy đọc các trước thuật của cổ đức vẫn chẳng biết nghĩa lư y như cũ. Cư sĩ Hoàng Hàm Chi muốn cho hết thảy mọi người cùng được gội ân Phật, đều được hưởng lợi ích thật sự, liền dùng thể văn Bạch Thoại để viết lời giải thích ngơ hầu những kẻ hơi biết chữ đều được hiểu rơ ràng. Lần đầu in một ngàn bộ, không lâu sau, thư gởi đến xin thỉnh hết sạch, bèn tính cách lưu truyền rộng răi, rút nhỏ khổ sách lại. Những người cùng chí hướng bỏ tiền in tới hai vạn cuốn để mong cho những học nhân sơ cơ tu tŕ Tịnh nghiệp đều cùng được thọ tŕ. Mong rằng những ai có được bản chú giải này sẽ cung kính tu tập, xoay vần lưu thông, khiến cho khắp mọi đồng nhân đều được thọ tŕ. Đem công đức này giúp cho Tịnh nghiệp th́ khi hết báo thân này sẽ lên thẳng chín phẩm, thấy Phật, nghe pháp, chứng Vô Sanh Nhẫn, sự vui sướng ấy làm sao diễn tả được?

Các kinh Đại Thừa đều lấy Thật Tướng làm Thể, đế lư được nói trong các kinh ấy trọn chẳng hơn - kém. Nếu luận về cơ nghi th́ trong sự không hơn - kém, lại có sự hơn - kém lớn lao! Bởi lẽ, đối với các pháp môn được nói trong hết thảy các kinh đều phải tự lực tu tập cho đến khi nào đoạn Hoặc chứng Chân th́ mới có phần liễu sanh tử; c̣n pháp môn được nói trong ba kinh Tịnh Độ chính là phàm phu sát đất dùng tín nguyện sâu tŕ danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương, kiêm thêm “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành”. Tuy đầy dẫy Hoặc nghiệp, vẫn có thể cậy vào Phật từ lực đới nghiệp văng sanh. Đấy chính là điều chưa từng có trong hết thảy các kinh, chính là đại pháp môn của đức Như Lai nhằm làm cho khắp hết thảy dù thánh hay phàm đều cùng thoát khỏi luân hồi lục đạo ngay trong đời này. Nhưng kinh A Di Đà lời văn giản lược, nghĩa lư phong phú, thấu triệt khắp mọi căn cơ, lợi ích của kinh hết kiếp khó thể tuyên nói được! V́ vậy, kể từ khi đức Phật nói ra pháp này đến nay, văng thánh tiền hiền người người đều hướng về, ngàn kinh muôn luận chốn chốn chỉ quy. Kẻ có duyên gặp được xin đừng bỏ lỡ th́ may mắn lắm thay!

 

20. Đề từ cho sách Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quán Thế Âm Bồ Tát thệ nguyện rộng sâu, từ bi rộng lớn, tùy loại hiện thân tầm thanh cứu khổ. Người đời hễ gặp phải tật bệnh, hoạn nạn, nếu có thể vận tâm sửa lỗi, hướng lành, cung kính, chí thành, thường niệm danh hiệu Bồ Tát, không ai chẳng được Ngài rủ ḷng gia bị tùy theo ḷng Thành lớn hay nhỏ. Nhỏ là gặp dữ hóa lành, gặp nạn thành hên; lớn là nghiệp tiêu trí rạng, chướng tận, phước tăng, cho đến siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Đáng tiếc người đời phần nhiều chẳng biết! V́ thế, riêng đọc khắp các kinh điển và các sách vở, soạn thành tụng văn, thêm lời chú thích tường tận, ngơ hầu cả cơi đời đều biết Bồ Tát quả thật là thuốc men cho bệnh ngặt, là gạo thóc trong năm đói kém, là người dẫn đường nơi nẻo hiểm, là bè báu nơi bến mê. Kính mong những ai thấy nghe sách này đều cùng tùy sức của chính ḿnh, lần lượt khuyên chỉ, in tặng, lưu thông, khiến cho hết thảy đồng luân đều được gội từ ân của Phật, cùng thấm nhuần pháp hóa, ngơ hầu an ủi bi tâm độ sanh của Bồ Tát, thỏa măn chí nguyện cảm thánh của đương nhân vậy!

Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không. Nếu nói thiển cận th́ phàm phu đều có thể biết, có thể hành. Nếu nói sâu xa th́ thánh nhân vẫn có những điều chẳng biết! Những kẻ thông minh trong thế gian nếu có hàm dưỡng, từng trải th́ sẽ nhập đạo. Nếu không, ắt sẽ do trí huệ nhỏ nhoi mà tự phụ đến nỗi lầm lạc cậy vào sự hiểu biết của chính ḿnh rồi hủy báng Phật pháp. V́ thế, đức Phật xếp Thế Trí Biện Thông vào tám nạn. Điều này đáng răn dè sâu đậm, thiết thực! Căn bệnh ấy chính là do dùng tri kiến của phàm phu để suy lường cảnh giới của Phật, Bồ Tát. Nếu biết phàm phu quyết chẳng thể suy lường cảnh giới của Phật, Bồ Tát th́ sẽ ngưng dứt được căn bệnh ấy. Đừng nói cảnh giới của Phật, Bồ Tát chẳng thể suy lường được, đối với chủ nhân ông của khởi tâm động niệm, kẻ ấy từ sống đến chết há có biết được, có nh́n thấy chút nào hay chăng? Nếu đích thân biết được, thấy được chủ nhân ông của khởi tâm động niệm nơi chính ḿnh th́ sẽ dần dần biết được cảnh giới của Phật, Bồ Tát.

Những kẻ trí huệ nhỏ nhoi mà cứ tự phụ ví như kẻ mù chẳng thấy được mặt trời, bèn bảo: “Chẳng có mặt trời!” Lũ mù nghe vậy, khen ngợi kẻ ấy: “Kiến thức cao siêu, đích xác, không sai lầm”, chẳng biết đấy chính là tà thuyết tự lầm, lầm người! Há chẳng đáng buồn quá đỗi ư? V́ thế, phàm những bậc đại thông gia lỗi lạc xưa nay, không ai chẳng dùng Phật pháp để làm cái gốc nhằm “cùng lư, tận tánh” ḥng giữ yên cơi đời, giữ cho dân lương thiện. Những vị lập đại công, dựng đại nghiệp, nêu tỏ được những lẽ mầu nhiệm chưa truyền của thánh hiền, đấy đều là do học Phật đắc lực mà được; nhưng kẻ tự phụ thông minh đâu có biết như thế! Kẻ bệnh biết thuốc, lăng tử là khách đáng thương, khôn ngăn cảm khái, buồn than, giăi tấm ḷng trung để thưa bày. Nếu rủ ḷng tiếp nhận th́ may mắn lắm thay!

Hết thảy kinh Phật và những kinh sách xiển dương Phật pháp đều nhằm làm cho con người giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, sửa lỗi hướng lành, hiểu rơ nhân quả ba đời, nhận biết Phật tánh vốn sẵn có, thoát biển khổ sanh tử, sanh lên cơi tịnh Cực Lạc. V́ thế, phải vô cùng cung kính, chớ nên khinh nhờn! Sách này tŕnh bày cặn kẽ Bổn và Tích của đức Quán Âm trong những kiếp xưa, cũng như sự cảm ứng ở phương này. Phân nửa quyển một phần nhiều trích dẫn kinh văn, trọn quyển bốn là những đoạn trích dẫn từ kinh điển. Những quyển khác tuy gồm những trích dẫn từ các sách vở, nhưng đều nhằm chỉ rơ chuyện cứu khổ ban vui của đức Quán Âm th́ cũng giống như kinh. Do ân từ đức thánh ban bố cho nên nói: “Phải tôn kính như tôn kính đức thánh vậy!” Người đọc ắt phải sanh ḷng cảm ơn, sanh ư tưởng khó được gặp gỡ, tay sạch, bàn sạch, giữ ḷng kính, ǵn ḷng thành, như đối trước Phật, trời, như tới trước mặt thầy dạy của đế vương th́ vô biên lợi ích sẽ đích thân đạt được. Nếu buông lung không e dè, mặc sức khinh nhờn và cố chấp nơi sự thấy biết hẹp ḥi của chính ḿnh rồi sanh ḷng hủy báng xằng bậy th́ tội lỗi ngập trời, khổ báo vô tận. Ví như kẻ mù đụng phải núi báu, đâm ra bị thương tổn, chẳng đáng buồn sao?

 

* Kính cẩn tŕnh bày phương pháp xem đọc dành cho những vị chưa từng nghiên cứu Phật học

Ba quyển đầu trong bộ tụng văn này được chia làm hai phần lớn:

1) Từ trang thứ nhất của quyển Một cho đến ḍng thứ sáu của trang hai mươi lăm [trong quyển Một] đều là những bài ca tụng các chuyện thuộc Bổn hay Tích của Bồ Tát trong kiếp xưa trích theo kinh điển.

2) Tiếp theo đó đều là những bài kệ tụng về sự tùy cơ cảm ứng của Bồ Tát ở phương này (tức cơi Sa Bà nói chung và Trung Hoa nói riêng – chú thích của người dịch).

Nếu những vị nào chưa từng nghiên cứu Phật Học th́ khi xem, hăy nên đọc trước từ ḍng thứ bảy trang hai mươi lăm của quyển thứ nhất trở đi cho đến hết quyển thứ ba. Rồi đọc những phần dẫn kinh văn để chứng minh trong quyển thứ tư. Đọc phần kinh văn dẫn chứng xong, lại xem từ trang thứ nhất của quyển Một th́ sẽ chẳng cảm thấy khó hiểu, chẳng nảy sanh ư tưởng không muốn đọc cho hết, chắc chắn sẽ hớn hở, hoan hỷ, sanh ḷng cảm kích lớn lao. Đối với những điều người đời trước đă may mắn tránh được th́ chính ḿnh cũng muốn tránh. Phàm những ǵ người xưa đă may mắn đạt được th́ chính ḿnh cũng muốn đạt được. Bỏ cái tâm chấp trước của phàm phu, thuận theo hoằng nguyện của Bồ Tát, tự xót, xót người, tự thương, thương người. Từ đấy thường niệm thánh hiệu của Bồ Tát, lại c̣n khuyên khắp hết thảy những người cùng hàng [đều niệm danh hiệu Bồ Tát] để ắt đều tiêu trừ nghiệp chướng từ vô thủy, tăng trưởng thiện căn tối thắng, gần là hưởng cái nhân “các duyên thuận thảo, không điều ǵ chẳng tốt lành”, xa là đạt cái quả “siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử”.

 

* Kính khuyên các độc giả phải chú trọng chí thành cung kính để tự đạt được lợi ích thật sự

Pháp thế gian hay xuất thế gian đều lấy ḷng Thành làm gốc. Hễ có ḷng Thành th́ sẽ cảm được thánh ứng; không có ḷng Thành th́ do không cảm, thánh sẽ không ứng. Ví như mặt trăng rạng rỡ giữa bầu trời, hiện bóng trong muôn sông. Nếu nước đục ngầu, xao động, bóng trăng khó thể hiển hiện được. Do nước gây nên như thế, đâu phải lỗi của trăng! V́ thế nói: “Muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp, ắt phải cầu từ nơi cung kính. Có một phần cung kính, tiêu được một phần tội nghiệp, tăng một phần phước huệ. Có mười phần cung kính, tiêu được mười phần tội nghiệp, tăng mười phần phước huệ”. Nếu không cung kính th́ chỉ kết được cái duyên xa, khó được lợi ích thật sự. Nếu lại c̣n khinh nhờn sẽ mắc tội vô lượng.

Hơn nữa, những bài tụng và lời chú giải trong các trang mười sáu, mười bảy, mười tám của quyển Ba nhằm dẫn khởi trí huệ, chứa đựng nhiều Thiền cơ. Những câu nói ấy chỉ có người thật sự có sở ngộ mới hiểu được ư chỉ, chớ nên ḍ đoán, t́m ṭi ư nghĩa dựa theo câu văn! Dẫu cho sẵn tánh thông minh, hễ càng suy lường th́ càng xa. Lời lẽ trong nhà Thiền đều là như thế. Nếu có thể chú trọng ḷng kính, giữ ḷng Thành, chấp tŕ thánh hiệu của Bồ Tát th́ mai kia nghiệp tiêu trí rạng, tất cả những lời lẽ Thiền cơ sẽ đều hiểu rơ từng câu như “mở cửa thấy núi, vẹt mây thấy mặt trăng” vậy!

 

21. Đề từ cho An Sĩ Toàn Thư

* Đọc sách cần biết

Trong sách này, phàm tân truyền của Khổng - Mạnh, đạo mạch của Phật, Tổ, cách vật, trí tri, thành ư, chánh tâm, liễu sanh thoát tử và những lời ăn tiếng nói, xử sự trong thường ngày, khởi tâm động niệm, mỗi mỗi đều chỉ rơ, đáng làm khuôn mẫu. Thật có thể nói là “mượn nhân quả thế gian để chỉ rơ khuôn mẫu huyền nhiệm ḥng trở thành thánh”, quả thật là đạo mầu để Như Lai tùy theo căn cơ độ sanh, là chân thuyên để chúng sanh ĺa khổ được vui. Độc giả hăy nên coi sách này giống hệt như kinh Phật, hăy giữ ḷng kính nể, đừng khinh nhờn th́ không phước nào chẳng đưa tới, không tai nạn nào chẳng tiêu! Kính thưa tŕnh cách đọc gồm mười điều, mong hăy xét cho ḷng ngu thành.

1) Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết hăy nên phát tâm cung kính như gặp vị khách quư, như đối trước bậc tiên triết, ngơ hầu luôn luôn ngộ nhập được dụng ư sâu xa của tác giả.

2) Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết hăy nên phát tâm chí thành, thốt lời khẩn thiết, khen ngợi ông Châu An Sĩ vận tâm cứu thế rộng lớn để soạn thành kiệt tác cứu thế này và vui mừng ḿnh đă hữu duyên được đọc.

3) Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết hăy nên rửa tay, súc miệng, đặt sách trên bàn sạch trong gian pḥng sạch sẽ rồi mới mở ra xem.

4) Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết chỉnh đốn quần áo, ngồi ngay ngắn một lát, sám hối hết thảy những ác niệm, ác ngữ, ác hạnh như ganh ghét, khinh mạn, kiêu cuồng v.v…

5) Lúc đọc tụng, hễ ngộ nhập được một câu một chữ, đều nên khởi ḷng hoan hỷ lớn lao và tùy thời ghi chép những điều tâm đắc, đừng bỏ mặc cho quên mất!

6) Lúc đọc tụng, hăy nên nghĩ rộng răi về ư nghĩa, thoạt đầu là dùng sách để nhiếp tâm, tiếp đó dùng tâm để chuyển nghiệp, cuối cùng tiến tới tâm niệm không ngừng nghỉ thực hành, khuyên dạy rộng răi để chuyển thế giới Ngũ Trược thành thế giới Cực Lạc.

7) Lúc tâm khởi vọng niệm, hăy nên cung kính đặt sách xuống, tạm ngừng đọc.

8) Đọc xong hoan hỷ, theo đúng pháp vâng làm, hăy nên thường khởi ḷng hâm mộ tâm hoằng pháp của ông Châu, tận lực bắt chước làm theo.

9) Đọc hết bộ sách xong, hăy nên nghĩ kĩ rộng răi xu hướng trong xă hội hiện tại để nhiếp hóa rộng lớn, ngơ hầu điều lành được lưu truyền.

10) Đọc hết bộ sách xong, thấy được những chỗ có thể tuyên thuyết phù hợp căn cơ liền v́ người không biết chữ mà phương tiện diễn nói rộng răi để tạo lợi ích lớn lao.

 

* Lời ghi sau sách [An Sĩ Toàn Thư]

Sách này mượn từ ngữ để xiển dương ư nghĩa, tinh tường, tỉ mỉ trọn vẹn. Đối với cách vật, trí tri, thành ư, chánh tâm, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ, cùng lư, tận tánh, xử thế, xuất thế, đều tạo lợi ích lớn lao, đáng coi là bộ sách lạ lùng văn hồi thế đạo nhân tâm bậc nhất. Độc giả cần phải chú trọng cung kính, kiền thành, khiết tịnh, lắng ḷng suy nghĩ lănh hội th́ vô biên lợi ích sẽ đích thân đạt được. Nếu như khinh nhờn, sẽ mắc tội chẳng cạn. Nếu chẳng muốn xem, xin hăy tặng lại cho người khác, đừng cất trên gác cao. Lại mong [độc giả xem xong sẽ] lập đủ mọi cách để xoay vần lưu truyền ngơ hầu hết thảy đồng bào trong hiện tại lẫn vị lai đều cùng thoát khỏi đường mê, đều cùng lên bờ giác.

22. Đề từ cho bản nghiên cứu “người học Phật có nên ăn thịt hay chăng?”

Rền sấm pháp lớn, diễn đại pháp nghĩa, phá chấp, cứu kiếp, lợi ích khôn ngằn.

 

23. Đề từ cho sách Ấn Quang Pháp Sư Gia Ngôn Lục (Bài thứ nhất)

Nhân quả báo ứng là phương tiện lớn lao để thánh nhân Nho - Thích b́nh trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh. Giáo dục trong gia đ́nh chính là thiên chức “củng cố cội gốc, trọn hết bổn phận, vun bồi hiền tài” của hàng thất phu thất phụ. Tín nguyện niệm Phật là diệu pháp để phàm phu đầy dẫy triền phược liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Sách này văn tuy chất phác, vụng về, nhưng nghĩa thật thiết yếu; tựa hồ chỉ để nói riêng với người tu Tịnh Độ, nhưng thật ra ngụ ư đề xướng đạo “nhân quả báo ứng, giáo dục trong gia đ́nh”. Mong những ai có được bộ sách này hăy nên thường giảng nói, hướng dẫn cha mẹ, anh em, vợ con, xóm giềng, làng nước, thân thích, bằng hữu để bọn họ đều giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, ắt sống sẽ dự vào bậc thánh hiền, mất về cơi Cực Lạc, may mắn chi hơn? Nguyện những ai đọc tụng hăy cung kính tin nhận, đừng nên khinh nhờn, hăy lần lượt lưu thông, đừng nên bỏ mặc. Sẽ thấy hiền tài dấy lên đông đảo, thiên hạ thái b́nh, nhân dân yên vui. Đấy chính là điều Bất Huệ thơm thảo cầu mong vậy!

 

24. Đề từ cho sách Ấn Quang Pháp Sư Gia Ngôn Lục (Bài thứ hai)

Pháp môn Tịnh Độ đế lư rất sâu, chỉ có Phật với Phật mới thấu hiểu trọn hết. Bởi lẽ pháp này Đại - Tiểu bất nhị, Quyền - Thật như một; v́ thế trên từ Đẳng Giác Bồ Tát dưới đến phàm phu nghịch ác đều nên tu tŕ, đều có thể tu tập thành tựu. Chúng sanh đời Mạt thiện căn cạn mỏng, nếu chẳng nương vào Phật lực sẽ trông cậy vào đâu? Nếu vâng tin lời Phật, sanh ḷng tin phát nguyện tŕ danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương. Lại c̣n đừng làm các điều ác, vâng làm những điều lành, giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành. Nếu làm được như thế th́ trong vạn người không một ai chẳng được văng sanh! Kinh luận Tịnh Độ văn nghĩa rơ ràng, cách tu tŕ của Tịnh Độ tùy cơ tự lập. Đă không phải lo có những chỗ sâu mầu khôn lường, mà cũng chẳng phiền v́ gian nan, khốn khổ. Lại c̣n chẳng tốn kém tiền tài, hơi sức, chẳng trở ngại nghề nghiệp, làm ăn. Nếu có thể tùy phần, tùy sức, thường luôn nghĩ nhớ th́ thần ngưng, ư tịnh, nghiệp tiêu, trí rạng, tự nhiên thân tâm an lạc, các duyên thuận lợi, niềm vui ấy làm sao diễn tả được! Nguyện người thấy kẻ nghe đều cùng tu tŕ, ai nấy đều ôm ḷng tự lợi, lợi tha, cùng phát nguyện tự lập, lập người, cung kính thọ tŕ, tùy duyên xướng suất, hướng dẫn, xoay vần lưu thông, khiến cho được trọn khắp cơi nước ngơ hầu hết thảy đồng luân đều cùng được gội ân Phật, cùng sanh Tịnh Độ th́ thật là điều may mắn lớn lao!

 

25. Đề từ cho sách Cảm Ứng Thiên Trực Giảng

Nhân quả là phương tiện lớn lao để thánh nhân thế gian lẫn xuất thế gian b́nh trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh. Kinh Thư chép: “Huệ địch cát, tùng nghịch hung, duy ảnh hưởng” (Thuận theo lẽ trời sẽ dẫn đến điều tốt, trái nghịch sẽ hung hiểm, giống như bóng theo h́nh). Lại nói: “Tác thiện giáng chi bách tường, tác bất thiện giáng chi bách ương” (Làm lành th́ trăm điều tốt lành giáng xuống, làm điều chẳng lành th́ trăm nỗi tai ương giáng xuống). Kinh Dịch chép: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (Nhà tích thiện th́ niềm vui có thừa, nhà tích điều bất thiện tai ương có thừa). Đấy đều là những lời nói về nhân quả. C̣n như trong Phật pháp th́ lại càng rơ rệt hơn nữa! Trước là nói đến tận quá khứ, sau là chỉ rơ vị lai. Muốn biết cái nhân trong đời trước th́ những ǵ phải hứng chịu trong đời này chính là nó đấy. Muốn biết quả trong đời sau th́ những ǵ đă làm trong đời này chính là nó đấy. Hiểu rơ điều này th́ thiện - ác báo ứng chẳng sai lệch hào ly. Cát, hung, họa, phước đều do [chính ḿnh] chiêu cảm. Con người dẫu chí ngu, quyết cũng chẳng đến nỗi vui mừng v́ gặp tai họa, tránh lành, hướng dữ! Tiếc là không có những tấm gương tầy liếp, đến nỗi con người thường làm những chuyện trái ngược với điều ḿnh mong cầu! Đấy chính là lư do tại sao những bậc quân tử có ḷng lo cho cơi đời coi chuyện miệt mài lưu truyền sách Cảm Ứng Thiên Trực Giảng là nhiệm vụ gấp rút vậy!

 

26. Đề từ cho sách Âm Chất Văn Đồ Chứng

Đời đă loạn đến cùng cực, ai nấy đều mong b́nh trị, nhưng chẳng t́m ra đạo để đạt đến b́nh trị, chỉ mong mỏi xuông th́ rốt cuộc có ích ǵ đâu? Do vậy, phải nên đề xướng giáo dục trong gia đ́nh và nhân quả báo ứng. Giáo dục trong gia đ́nh phải khởi đầu khi con cái đang c̣n thơ ấu, ngơ hầu chúng nó biết tường tận “hiền từ, hiếu thảo, nhường nhịn, cung kính, ḥa thuận, nhân từ, trung thực” chính là thiên chức của kẻ làm con, làm anh em, làm chồng vợ, làm chủ, làm tớ. Từ đấy, ai nấy trọn hết bổn phận của chính ḿnh để mong đấng sanh ra ta chẳng bị hổ thẹn, để làm kẻ hiền thiện. Lại c̣n tuyên nói nhân quả báo ứng ngơ hầu có pháp tắc để chế ngự cái tâm, chẳng đến nỗi vượt lư, phạm phận th́ những ư niệm tự tư tự lợi xấu ác tự bị tiêu trừ, thiện tâm v́ người v́ vật sẽ tự nảy sanh. Như thế th́ chuyện tranh giành, đánh phá lẫn nhau sẽ bị diệt mất, thiên hạ thái b́nh, nhân dân yên vui. Bởi thế, cùng với những người có cùng một chí hướng lưu thông sách này ngơ hầu người đọc sách sẽ thọ tŕ làm theo, xoay vần lưu truyền th́ may mắn lắm thay!

 

27. Đề từ cho bản in gộp chung tác phẩm Phóng Sanh Sát Sanh Hiện Báo Lục của tiên sinh Giang Thận Tu và bài văn khuyên kiêng giết phóng sanh của Liên Tŕ đại sư

Ông Hoàng Sơn Cốc nói:

Ngă nhục, chúng sanh nhục,

Danh thù, thể bất thù,

Nguyên đồng nhất chủng tánh,

Chỉ thị biệt h́nh khu,

Khổ năo tùng tha thụ,

Ph́ cam vị ngă nhu,

Mạc giao Diêm lăo đoán,

Tự sủy, ứng hà như?

(Thịt ta, thịt chúng sanh,

Tên khác, thể chẳng khác,

Vốn cùng một chủng tánh,

Chỉ là khác h́nh hài.

Khổ năo chúng cam chịu,

Ngọt bùi ta hưởng riêng.

Chẳng đợi Diêm vương xử,

Tự suy ắt biết mà!)

 

Nguyện Vân thiền sư có bài kệ như sau:

Thiên bách niên lai oản lư canh,

Oán thâm như hải, hận nan b́nh,

Dục tri thế thượng đao binh kiếp,

Đản thính đồ môn dạ bán thanh.

(Trăm ngàn năm qua trong bát canh,

Oán sâu tự biển, hận khôn b́nh;

Muốn biết đao binh trên cơi thế,

Lắng nghe ḷ mổ giữa đêm thanh)

 

Từ Thọ thiền sư nói:

Ẩm thực ư nhân nhật nguyệt trường,

Tinh thô tùy phận tắc cơ thương,

Hạ hầu tam thốn thành hà vật?

Bất dụng tương tâm tế giảo lượng.

(Đời người ăn uống bao niên,

Dở, ngon tùy phận khỏi phen đói ḷng,

Nuốt qua cổ họng là xong,

Tính toan tỉ mỉ nhọc ḷng làm chi?)

 

Những vật nuôi dưỡng con người trong thế gian kể sao cho xuể, nấu nướng, nêm nếm đúng cách, vị đều ngon lành. Há nên v́ bụng miệng ta mà giết hại sanh mạng đến nỗi đời đời kiếp kiếp sát hại lẫn nhau trọn chẳng có khi nào dứt, chẳng đáng buồn sao? V́ thế, lưu truyền sách này để mong văn hồi sát kiếp. Nguyện người thấy nghe đều cùng tin nhận th́ may mắn lắm thay!

 

 

28. Đề từ sách Thọ Khang Bảo Giám (Bài thứ nhất)

Không một ai chẳng muốn chính ḿnh và con cháu đều trường thọ, yên vui. Nếu đối với chuyện sắc dục chẳng biết kiêng dè, thận trọng, sẽ gặt lấy hậu quả trái ngược, thật đáng đau thương! V́ thế, Khổng Tử nói: “Thiếu chi thời huyết khí vị định, giới chi tại sắc” (Lúc niên thiếu khí huyết chưa định, phải kiêng dè nơi sắc dục). Mạnh Tử nói: “Dưỡng tâm giả, mạc thiện ư quả dục. Kỳ vi nhân dă quả dục, tuy hữu bất tồn yên giả, quả hỹ. Kỳ vi nhân dă đa dục, tuy hữu tồn yên giả, quả hỹ” (Dưỡng tâm th́ không ǵ hay bằng ít ham muốn. Ai làm người mà ít ham muốn, tuy tâm người ấy có những điều không hợp đạo nghĩa, nhưng những điều ấy cũng ít. Ai làm người có lắm ham muốn, tâm dù có giữ được đạo nghĩa th́ đạo nghĩa ấy cũng chẳng được mấy). Do vậy nói rằng: “Sự sống chết tồn vong của con người tùy thuộc quá nửa nơi con người có ít ham muốn sắc dục hay không?”

Bất Huệ trọn chẳng có sức cứu đời, nhưng ḷng mong duy tŕ tuổi thọ cho người đời. Do vậy, bèn tu chỉnh, bổ sung cuốn sách này để ấn hành, lưu truyền, nhằm mong những ai biết yêu thương chính ḿnh và con cháu hễ có được cuốn sách này đều đọc kĩ càng th́ quan hệ lợi - hại sẽ rơ ràng như nh́n vào ngọn lửa. Trong là răn nhắc con cháu, ngoài là răn nhắc những kẻ cùng hàng. Lại mong xoay vần lưu thông để truyền khắp vũ trụ ngơ hầu hết thảy mọi người cùng hàng đều được sống lâu, mạnh khỏe, đấy chính lời cầu chúc thơm thảo vậy!

 

29. Đề từ sách Thọ Khang Bảo Giám (Bài thứ hai)

Con người từ sắc dục mà sanh, nên tập khí này đặc biệt sâu đậm. Hễ không kiêng dè cẩn thận, phần nhiều sẽ chết v́ sắc dục! Các bậc thánh vương thời cổ v́ yêu thương dân nên đối với chuyện vợ chồng ân ái chẳng tiếc công sai quan truyền lệnh dùng linh gỗ đi khắp nẻo đường, ngơ hầu người dân khỏi phải lo sầu v́ bị mất mạng. Ḷng từ ái thật khôn xiết! Cho đến đời sau, chẳng những chánh lệnh nước nhà chẳng thèm nhắc đến, ngay cả cha mẹ cũng chẳng bảo ban con cái, đến nỗi đại đa số thiếu niên lầm lạc mất mạng, đáng buồn quá sức!

Bất Huệ sống trên cơi đời mấy chục năm, thấy nghe khá nhiều, khôn ngăn bi thương! Do vậy quyên mộ in cuốn sách này để mong những người cùng hàng đều được sống lâu, mạnh khỏe. Mong sao những người có được cuốn sách này ai nấy đều đọc kĩ, xoay vần lưu thông, đừng để phí tâm tư, tiền tài mà trọn chẳng được mảy may lợi ích thật sự nào th́ may mắn lắm thay!

 

30. Đề từ cho sách Chánh Tín Lục của cư sĩ La Lưỡng Phong

Đáng than thay! Người đời phần nhiều tưởng ḿnh là trí, nhưng đối với chân diện mục của chính ḿnh c̣n chưa biết được danh tự, huống hồ những chuyện thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, đời trước, đời sau! Bậc cổ thánh nhân của Nho giáo chú trọng nơi xử thế nên đối với đạo lư sâu xa này chỉ nêu đại lược những nét chánh yếu. Nho sĩ chẳng suy xét sâu xa, liền bảo không có nghĩa ấy! Phật đă dạy rơ ràng rộng răi như đuốc huệ trong đêm dài, phàm những ai có túc căn đều cùng quy hướng. Nhưng bọn Lư Học muốn ngăn trở bước tiến [của hậu học], đặc biệt cực lực bài xích để mong ngăn chặn hết thảy mọi người, chẳng biết người có căn tánh lớn lao quyết chẳng bị bọn chúng khống chế. Đáng than thay! Những kẻ tầm thường cứ lầm tưởng [những lời lẽ xằng bậy của bọn Lư Học] là chánh đáng, chí lư; do đấy, đả phá sự lư nhân quả và luân hồi, cho rằng con người chết đi vĩnh viễn diệt mất, không có thần trí! Do vậy, những kẻ làm ác có lư do lớn lao để lấp liếm [ác tâm, ác hạnh], cho đến ngày nay rối loạn cùng cực không cách ǵ chữa trị được!

 

May mà c̣n có đủ mọi chuyện thể hiện bản lănh của bậc đại tâm. Ông La sao lục, sưu tập những chuyện ấy để cống hiến cho đời hiện tại và vị lai. V́ thế, đặc biệt ấn hành để mong lưu truyền rộng răi. Nguyện những ai thấy nghe đều biết chánh ư của Nho và Thích, lần lượt lưu truyền trọn khắp trong đời hiện tại lẫn vị lai, ngơ hầu đạo Nho được tỏa rạng mà đạo Phật cũng chẳng suy vi, nhân dân được yên vui, giữ đạo một cách dễ dàng, sống là học tṛ của thánh hiền, chết sẽ lên cơi Cực Lạc, xoay chuyển thói tục bạc ác, cùng vun giữ ḷng nhân từ, khoan dung. Một ḷng khăng khăng như thế chắc những bậc trí sẽ nể t́nh chẳng vứt bỏ vậy!

 

31. Đề từ cho bộ Dương Phục Trai Thi Kệ Tục Tập

Mười mấy năm qua, cư sĩ Dịch Viên chuyên tu Tịnh nghiệp, là bậc hướng dẫn tốt lành trong một làng. Hễ gặp cảnh, chạm duyên, liền tùy cơ thù tiếp, thường dùng thi ca, thường khiến cho người khác được mở rộng tâm mục đều phát tín tâm. Năm ngoái, ông ta đă từng lo liệu ấn hành. Năm nay lại có một cuốn Tục Tập, lại muốn ấn tống, gởi cho Quang duyệt, khôn ngăn hoan hỷ, cảm thán tột bậc. Tiếc cho Quang tinh thần lẫn mục lực chẳng đủ, chẳng thể giảo đối thay cho ông ta được, không lúc nào chẳng nuối tiếc, bèn viết dăm lời quê mùa để tỏ tấm ḷng tôi.

 

Thơ của Dịch Viên đúng là lời, phụ nữ, trẻ con nghe kinh ngạc, dung nhiếp ư Phật lẫn ư Tổ, quan trọng nhất là sanh cơi Tịnh! Thơ của Dịch Viên đúng là vẽ. Tâm cảnh, tánh địa phô cặn kẽ. Độ ách khiến cho Ngũ Uẩn không, quy mạng Nguyện Vương khuyên kính lễ. Thơ của Dịch Viên đúng là quẻ. Họa, phước, cát, hung phô rành rành, khiến thoát trọn vẹn cửa ải họa, phước! Tịnh niệm tiếp nối cầu về Tây. Nếu ai thường đọc thơ Dịch Viên, thân - khẩu - ư đều không tỳ vết. Khi sống trọn thành bậc thánh hiền, lâm chung chắc về ao bảy báu. Tôi: Sư tầm thường, rành cơm cháo, trừ niệm Phật, trăm sự bất tài, nguyện các hiền triết khắp pháp giới, đều kết bạn lành nơi hải hội.

 

 

32. Đề từ cho bài tường thuật đại lược hành trạng ông Quách Tử Cố và người phối ngẫu đức hạnh là bà Phùng Nhụ Nhân ở huyện Định Tây, tỉnh Cam Túc

 

Làm phận con nên lấy đạo “siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử” để khuyên cha mẹ, khiến cho ngay trong đời này, cha mẹ được cao dự Liên Tŕ hải hội, thân cận Di Đà Thế Tôn, cùng có thọ lượng, quang minh giống như Di Đà Thế Tôn. Hiếu như vậy mới là chân hiếu! C̣n truyền bá hành trạng của cha mẹ tuy là một trong những hạnh hiếu, nhưng tự hành, dạy người, làm cho khắp những ai thấy nghe đều cùng tu Tịnh nghiệp, cùng sanh Tịnh Độ, cùng chứng Vô Sanh, cho đến cùng thành giác đạo chẳng phải là tốt hơn hay chăng? Vợ chồng ông Quách tận lực phụng dưỡng, chôn cất, dẫu xét theo ḷng hiếu thế tục cũng chẳng dễ dàng cho lắm! Nay nhờ chuyện này để xoay chuyển ḷng người, tôi đặc biệt viết hai mươi tám chữ như sau:

Nêu hạnh đẹp trong làng, trọn vẹn cả đôi bề, khiến khắp kẻ thấy nghe, đều được hưởng chân thuần, vợ chồng nhà ông Quách, đức đẹp đáng khâm phục.

 

33. Đề từ kỷ niệm chuyện pháp sư Trần Không sáng lập Liên Xă

Thật thà niệm Phật!

Để kỷ niệm chuyện pháp sư Trần Không từ đất Tô đến đất Kiềm (Quư Châu), sáng lập Liên Xă, xin khích lệ những người cùng chí hướng bằng mấy lời [như sau]:

Xót thương chúng sanh trong cơi đời, căn độn, nghiệp nặng, chỉ có niệm Phật th́ mới chắc chắn mong thoát được sanh tử. Hăy nên quán tưởng như tù nhân bị dắt ra chợ [để hành h́nh], mỗi bước càng gần với cái chết hơn! Phàm những vị có cùng chí hướng niệm Phật với tôi, ắt đều phải niệm niệm trừ sạch các duyên, quyết muốn giữ ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha. Hăy nên tu Chánh Hạnh niệm Phật, dùng Tín - Nguyện dẫn đường, lấy Niệm Phật làm Chánh Hạnh. Ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh chính là tông yếu của pháp môn Niệm Phật. Do bốn chữ hồng danh chẳng rời niệm, tiếng niệm Phật chẳng ngừng, tâm và Phật tự nhiên khế hợp, tam-muội sẽ tự thành (Ngày Hai Mươi Hai tháng Giêng)

 

34. Đề từ cho tác phẩm Mạc Vương Trí Duệ Nữ Cư Sĩ Ai Văn Lục

Cư sĩ Trí Duệ vừa đọc Văn Sao liền sanh tín tâm, ăn chay niệm Phật, chưa được bao lâu liền biết trước lúc mất, niệm Phật qua đời. Đáng gọi là bậc trượng phu trong nữ giới! Chẳng thẹn mang tên Trí Duệ. Nguyện những vị trượng phu mày râu, những vị hiền thục mềm mỏng chốn khuê các trong cơi đời đều chẳng nhường cho bà ta riêng được giải thoát th́ may mắn lắm thay

(Ngày Mười Bảy tháng Hai năm Kỷ Tỵ, tức năm Dân Quốc 18 - 1929)

 

35. Đề trên chiếc quạt có h́nh Vô Lượng Thọ Phật do cư sĩ Cao Hàng Sanh cất giữ

Ngoài dứt các duyên, trong tâm chẳng rộn, tâm như tường vách, có thể nhập đạo.

 

36. Thuận tay viết về Niệm Phật

Pháp Hoa kinh tạng sâu thẳm u viễn không ai thấu đạt được. Chúng ta có chí tiến nhập th́ xin hăy chí thành khẩn thiết, chuyên tŕ thánh hiệu A Di Đà Phật. Nếu có thể nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối th́ sẽ tự có thể ngầm thông Phật trí, thầm hợp đạo mầu. Trong đời hiện tại sẽ mau chóng thoát khỏi Ngũ Trược, cao đăng chín phẩm, cho đến chứng Vô Sanh Nhẫn, thành đạo Bồ Đề. Lời nói này tuy cực b́nh thường, nhưng quả thật là bí yếu của chư Phật. Nếu bậc thông gia xem đến, chắc chắn sẽ bật cười! (Bài văn này c̣n lưu lại dấu tích ở chùa Linh Nham, nhưng không có đề mục. Tựa đề do Đào (tức ông La Hồng Đào) tự tiện đặt. Huệ Dung ghi)

 

V. Pháp ngữ

1. Tịnh Độ Pháp Môn Thuyết Yếu (Giảng những điều trọng yếu trong pháp môn Tịnh Độ)

(Vương Cầu Thị và Cung Vân Bá ghi)

Nguyên thủy, bản tánh của chúng sanh và Phật vốn không hai, không khác; chỉ v́ chúng sanh chẳng giữ ǵn tự tánh, bị trần lao làm bẩn, tập khí ô nhiễm ngăn lấp đến nỗi mê - ngộ thật khác, chúng sanh và Phật khác biệt thật xa! Chỉ v́ chúng sanh mê có cạn - sâu, căn tánh có lớn - nhỏ, nên đức Như Lai bèn tùy thuận căn cơ để lập giáo, dựa theo căn bệnh để ban thuốc, v́ Thật lập Quyền, khai Quyền hiển Thật. Nơi pháp Nhất Thừa nói đủ mọi lẽ khiến cho kẻ thiện căn chín muồi sẽ lên thẳng bờ giác, kẻ ác duyên sâu nặng sẽ dần dần thoát khỏi trần lao. Do vậy, trong bốn mươi chín năm, tùy theo chủng tánh mà lập ra các giáo pháp Đại, Tiểu, Tiệm, Đốn, Bán, Măn nhằm giáo hóa.

Các pháp môn thuộc Tông, thuộc Giáo phần nhiều cậy vào tự lực. Dẫu cho túc căn sâu dầy, triệt ngộ tự tâm, nhưng nếu Kiến Hoặc và Tư Hoặc c̣n có chút nào chưa sạch hết th́ vẫn luân hồi trong sanh tử y như cũ, không thể thoát ra. Huống chi đă thọ Thai Ấm, vừa chạm cảnh liền sanh mê, kẻ từ giác đến giác ít ỏi, người từ mê vào mê đông đảo! Bậc thượng căn c̣n như thế, hạng trung - hạ cần chi phải nói nữa! Liễu thoát sanh tử thật chẳng dễ dàng! Chỉ có pháp môn Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ chuyên cậy vào nguyện lực của Phật Di Đà, bất luận thiện căn chín muồi hay chưa, ác nghiệp nặng hay nhẹ, thậm chí Ngũ Nghịch, Thập Ác, chỉ cần sanh ḷng tin phát nguyện, tŕ danh hiệu Phật, khi lâm chung chắc chắn được đức Di Đà tiếp dẫn văng sanh Tịnh Độ. Cố nhiên, kẻ thiện căn chín muồi sẽ mau chóng viên măn Phật quả; ngay cả kẻ ác nghiệp sâu nặng cũng may mắn được dự vào ḍng thánh. So với những kẻ cậy vào tự lực th́ sự khó - dễ, được - mất trong đấy chẳng cần phải rườm lời giải thích nữa! V́ thế, pháp môn Tịnh Độ này chính là đạo trọng yếu để tam thế chư Phật độ sanh, là diệu pháp để thượng thánh hạ phàm cùng tu. Các kinh Đại Thừa đều phát khởi lẽ trọng yếu này, lịch đại tổ sư không vị nào chẳng tuân hành.

Cũng có những kẻ do thấy pháp môn Tịnh Độ hết sức đơn giản, hết sức dễ dàng, dẫu là ngu phu ngu phụ cũng tu được, bèn coi thường Tịnh Độ, chẳng biết một môn Tịnh Độ thích hợp khắp ba căn, nhiếp trọn mười giới! Trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử sau khi đă chứng bằng với chư Phật, Phổ Hiền Bồ Tát bèn dùng mười đại nguyện vương để khuyến tấn, khích lệ Thiện Tài và Hoa Tạng hải chúng văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới nhằm mong viên măn Phật quả. Như Thiện Tài đă đạt đến địa vị Đẳng Giác, Hoa Tạng hải chúng không có vị nào là phàm phu, Nhị Thừa, toàn là những người thuộc bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ, phá vô minh, chứng Tam Đức, mà vẫn phải hồi tâm niệm Phật, nguyện văng sanh Tây Phương! Hơn nữa, trong Hoa Tạng Hải có vô lượng Tịnh Độ, nhưng cần phải hồi hướng Tây Phương; đủ biết văng sanh Cực Lạc chính là cửa ngơ nhiệm mầu để xuất thế, là đường tắt để thành Phật.

Hơn nữa, Vĩnh Minh thiền sư nhằm dạy cho người tu hành đường lối trọng yếu đích xác, đă lập ra bốn bài kệ Liệu Giản:

 

1) Có Thiền có Tịnh Độ,

Ví như cọp đội sừng,

Đời này làm thầy người,

Đời sau làm Phật, Tổ.

2) Không Thiền, có Tịnh Độ,

Vạn tu, vạn người về,

Nếu được thấy Di Đà,

Lo chi không khai ngộ.

 

3) Có Thiền, không Tịnh Độ,

Mười kẻ, chín chần chừ,

Ấm cảnh nếu hiện tiền,

Chớp mắt đi theo nó.

 

4) Không Thiền, không Tịnh Độ,

Giường sắt với cột đồng,

Vạn kiếp lẫn ngàn đời,

Không có người nương tựa.

 

Bốn bài Liệu Giản này của ngài Vĩnh Minh chính là cương tông của Đại Tạng, là khuôn phép để tu tŕ. Trước hết cần phải hiểu đích xác thế nào là Thiền, thế nào là Tịnh, thế nào là Có, thế nào là Không, rồi mới theo văn mà phân tích, sẽ biết mỗi một chữ đều đích đáng, không thể thay đổi một chữ nào được!

Thiền chính là Chân Như Phật Tánh chúng ta vốn sẵn có, tức bản lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra, tức “linh tri ly niệm, không Năng, không Sở, vừa Tịch, vừa Chiếu”, tức cái được gọi là “thuần chân tâm thể”. Tịnh Độ chính là tín nguyện tŕ danh, cầu sanh Tây Phương (chứ không phải chỉ riêng cho “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”). “Có Thiền” là tham cứu cực lực đến mức “niệm tịch, t́nh vong”, thấy thấu triệt bản lai diện mục, minh tâm kiến tánh. “Có Tịnh Độ” là chân thật phát tâm, sanh ḷng tin, phát nguyện, tŕ danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương. Thiền và Tịnh Độ là ước theo Giáo, ước theo Lư. “Có Thiền, có Tịnh Độ” là ước theo căn cơ, ước theo tu. Một đằng là Lư, một đằng là Sự. Lư tuy là như thế, nhưng phải cần theo đúng Lư để khởi Hạnh, Hạnh phải đạt đến cùng cực nhằm chứng Lư, chính ḿnh phải chuyên gắng nhằm thật sự đạt được. Nếu tham Thiền chưa ngộ, hoặc ngộ chưa triệt để, đều chẳng thể gọi là “có Thiền”. Nếu niệm Phật nhưng không có tín nguyện, hoặc có tín nguyện nhưng không chân thật, thiết tha, chỉ hờ hững, hời hợt, lằng nhằng cho xong chuyện, hoặc hạnh tuy tinh tấn nhưng nhân địa chẳng thật, tâm lưu luyến trần cảnh, cho đến cầu phú quư trong đời sau, cầu sanh lên cơi trời hưởng lạc đều chẳng thể gọi là “có Tịnh”!

 

1) Có Thiền có Tịnh Độ,

Ví như cọp đội sừng,

Đời này làm thầy người,

Đời sau làm Phật, Tổ.

 

Người ấy đă triệt ngộ Thiền Tông, minh tâm kiến tánh, lại c̣n thâm nhập kinh tạng, biết cặn kẽ pháp môn Quyền - Thật của đức Như Lai, nhưng trong các pháp chỉ chọn một pháp tín nguyện niệm Phật, tự lợi, lợi tha. Người ấy có đại trí huệ, đại biện tài, tà ma, ngoại đạo nghe danh vỡ mật, như cọp lại đội sừng. Có ai đến cầu học sẽ tùy cơ thuyết pháp, nên dùng Thiền Tịnh Song Tu để tiếp độ bèn dùng Thiền Tịnh Song Tu để tiếp độ. Nên dùng “chuyên tu Tịnh Độ” để tiếp độ bèn dùng “chuyên tu Tịnh Độ” để tiếp độ. Bất luận thượng - trung - hạ căn không một ai chẳng được thấm nhuần ân trạch ấy, há chẳng phải là “nhân thiên đạo sư” ư? Đến khi lâm chung, được Phật tiếp dẫn văng sanh Thượng Phẩm, trong khoảng khảy ngón tay, hoa nở thấy Phật, chứng Vô Sanh Nhẫn, dẫu địa vị thấp nhất cũng là chứng được bậc Sơ Trụ trong Viên giáo, có thể hiện thân làm Phật trong một trăm thế giới, nên bảo là “đời sau làm Phật, Tổ”.

 

2) Không Thiền, có Tịnh Độ,

Vạn tu, vạn người về,

Nếu được thấy Di Đà,

Lo chi không khai ngộ?

 

Người ấy tuy chưa minh tâm kiến tánh, nhưng quyết chí nơi Tịnh Độ, cầu sanh Tây Phương, chí thành niệm Phật, cảm ứng đạo giao, chắc chắn được Phật nhiếp thọ. Kẻ tận lực tu tập cố nhiên được văng sanh. Ngay như kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác khi lâm chung mười niệm cũng đều được Hóa Thân của đức Phật đến tiếp dẫn, chẳng phải là “vạn tu, vạn người về” hay sao? Đă sanh về Tây Phương, thấy Phật, nghe pháp, tuy có nhanh hay chậm, nhưng đă cao dự ḍng thánh, rốt ráo chẳng thoái chuyển, dần dần chứng thánh quả th́ sự khai ngộ cần ǵ phải nói đến nữa? V́ thế, bảo là: “Nếu được thấy Di Đà, lo chi không khai ngộ?”

3) Có Thiền, không Tịnh Độ,

Mười kẻ, chín chần chừ,

Ấm cảnh nếu hiện tiền,

Chớp mắt đi theo nó.

 

Người ấy tuy biết đại lược về tâm tánh, nhưng Kiến Hoặc, Tư Hoặc chưa đoạn hết, cần phải giồi mài cho hết sạch, chẳng c̣n sót chút nào th́ mới có thể thoát ĺa sanh tử. Nếu c̣n mảy may chưa hết, sẽ vẫn luân hồi trong lục đạo y như cũ, khó trốn tránh được! Biển sanh tử sâu thẳm, đường Bồ Đề xa vời, nếu liền mạng chung, nẻo về sẽ chẳng thể lường được! Trong mười người, hết chín người là như thế. V́ vậy nói: “Thập nhân, cửu tha lộ” (Mười kẻ, chín chần chừ trên đường). Tha () là “tha đà” ( ), tức là như thế tục thường nói là “chần chừ”. “Ấm cảnh” tức là cảnh nơi Trung Ấm thân, chính là những cảnh hiện ra khi lâm chung bởi sức của thiện nghiệp hay ác nghiệp [đă tạo] trong đời này và bao kiếp. Trong khoảng chớp mắt sẽ theo nghiệp lực đi thọ sanh ngay, chẳng thể làm chủ được mảy may nào! Như người mang nợ, chủ nợ nào mạnh sẽ lôi đi trước; tâm t́nh lắm mối, hễ thiên trọng nơi nào sẽ đọa vào nơi đó. V́ thế nói: “Ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó”.

 

4) Không Thiền, không Tịnh Độ,

Giường sắt với cột đồng,

Vạn kiếp lẫn ngàn đời,

Không có người nương tựa.

Người ấy đă chưa triệt ngộ, lại chẳng cầu sanh Tịnh Độ, vẫn hời hợt, hờ hững tu các pháp môn khác (chứ không phải là nói về kẻ vùi đầu tạo ác, chẳng tu hành), đă chẳng thể giữ cho Định - Huệ được cân bằng nhằm đoạn Hoặc, chứng Chân; lại chẳng biết cậy vào Phật từ lực để đới nghiệp văng sanh, dùng công đức tu tŕ suốt cả một đời để cảm phước báo trời người trong đời sau. Trong đời này đă không có chánh trí, đời sau sẽ bị phước báo chuyển, hưởng phước càng lớn, ác nghiệp càng nhiều. Đă tạo ác nghiệp, khó tránh khỏi quả báo. Hễ một hơi thở ra không hít vào được nữa sẽ đọa địa ngục, đền trả nợ cũ, nên nói là “giường sắt với cột đồng”. Kẻ tạo nghiệp như thế ví như kẻ mù chẳng thấy được mặt trời, tuy chư Phật, Bồ Tát rủ ḷng từ bi nhưng do kẻ ấy bị ác nghiệp ngăn chướng, chẳng thể hưởng lợi ích, bao kiếp thọ khổ. V́ thế nói: “Không có người nương tựa”.

Phàm hết thảy các pháp môn đều chuyên cậy vào tự lực, chỉ có pháp môn Tịnh Độ chuyên cậy vào Phật lực. Trong hết thảy pháp môn, hết sạch Hoặc nghiệp rồi mới có thể liễu sanh tử; c̣n pháp môn Tịnh Độ đới nghiệp văng sanh liền dự vào ḍng thánh. Hơn nữa, khi đức Phật tại thế, sắc lực và tâm nghiệp của chúng sanh thù thắng, dẫu nương cậy tự lực vẫn chứng đạo. Nay đang nhằm thời Mạt, căn hèn, chướng nặng, tri thức hiếm hoi, nếu bỏ Tịnh Độ th́ không có cách ǵ giải thoát được! Vĩnh Minh thiền sư sợ cơi đời không biết nên đặc biệt viết ra Liệu Giản này để dạy đời sau. Thật đúng là bè báu trong bến mê, là đèn sáng nơi ngơ tối.

Tu tŕ pháp môn Tịnh Độ niệm Phật, hăy nên lấy Tín - Nguyện - Hạnh làm tông. Tín là dốc ḷng tin tưởng Phật lực. Trong khi tu nhân, Di Đà Như Lai đă phát ra bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng độ sanh, trong ấy có nguyện “[người nào] niệm danh hiệu ta mà chẳng sanh về nước ta, thề chẳng thành Phật”. Hiện tại, do Ngài đă nhân viên, quả măn, nay ta niệm Phật ắt sẽ được văng sanh. Kế đấy, tin vào Phật lực từ bi nhiếp thọ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con nhớ mẹ giống như mẹ nhớ con, chắc chắn sẽ được tiếp dẫn. Tiếp đó, tin tưởng pháp môn Tịnh Độ như trong bài Tứ Liệu Giản của Vĩnh Minh thiền sư đă nói so với các pháp khác, sự lớn - nhỏ, khó - dễ, được - mất, sai biệt vời vợt. Dẫu có những vị thầy khác xưng tán những pháp khác cũng chẳng lay động được ta. Thậm chí chư Phật hiện ra trước mặt khuyên lơn, an ủi, bảo tu các pháp môn khác cũng chẳng thoái chuyển. Đấy mới thật sự gọi là Tín vậy! Nguyện là nguyện trong đời này thề văng sanh Tây Phương, chẳng cần phải nhiều đời tu tập ngoi lên, hụp xuống trong uế độ, từ mê vào mê nữa! Lại nguyện hễ được văng sanh Tây Phương rồi sẽ trở lại Sa Bà độ thoát hết thảy chúng sanh. Hạnh là chân thật nương theo lời dạy để khởi Hạnh.

Trong chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông [của kinh Lăng Nghiêm] có câu: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc Tam-ma-địa, ấy là bậc nhất”. Do vậy biết pháp Niệm Phật phải nên nhiếp trọn sáu căn. Trước khi nhiếp trọn sáu căn th́ trước hết phải nhiếp được hai hay ba căn. Hai hay ba căn là ǵ? Chính là tai, miệng, tâm vậy. Miệng niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật sao cho từng câu từng chữ rơ ràng, rành mạch, trong tâm niệm cho rơ ràng rành mạch, tai nghe cho rơ ràng, rành mạch. Hễ có chỗ nào hơi không phân minh th́ đấy chính là không chân thật, thiết tha, có vọng tưởng [xen tạp] (Chỉ niệm mà không nghe th́ dễ sanh vọng tưởng). Niệm Phật cố nhiên phải sao cho từng câu từng chữ phân minh, chẳng để sự suy nghĩ xen vào.

Ngoài ra, xem kinh cũng giống như thế, đừng một mặt vừa xem, một mặt lại phân biệt; [nếu không], sẽ được lợi ích ít ỏi, t́nh tưởng sẽ nhiều. Xưa kia có người chép kinh do chí thành chép kinh, chuyên tâm nhất ư, chỉ chú tâm chép kinh, không có t́nh kiến ǵ, đến khi trời đă tối, vẫn cứ viết chép không ngừng. Chợt có người bảo: “Trời đă tối rồi, sao c̣n chép kinh được?” Lúc ấy, người chép kinh t́nh niệm vừa động, chẳng thể viết được nữa. Ôi! Phân biệt sáng - tối chính là vọng kiến của chúng sanh, là phàm t́nh của chúng sanh vậy! V́ thế, đang trong lúc chuyên tâm nhất ư, vọng tận, t́nh không, chỉ biết chép kinh, chẳng biết trời đă tối, cũng chẳng biết hễ trời đă tối sẽ không có ánh sáng nên không thể chép kinh được nữa! Tới khi có người nhắc nhở, khuấy động, do vô minh động nên t́nh tưởng bèn chia ra. Vọng niệm vừa động, ngay lập tức, sáng sủa và tối tăm liền tách bạch nên chẳng thể chép kinh được nữa. Do vậy, biết rằng đầu mối của đạo dụng công là chuyên nhiếp, chẳng quan tâm đến t́nh tưởng. Nếu đă không có suy tưởng th́ đâu có tà kiến nữa! Tà kiến đă không c̣n, đấy chính là chánh trí!

Hơn nữa, người tu Tịnh Độ hăy nên đề xướng nhân quả. Đối với người thượng trí, cố nhiên biết cội gốc nằm nơi luân thường, hiểu rơ những ǵ nên làm và không nên làm. Đối với kẻ trung - hạ, nếu chẳng nói tới nhân quả, giải thích tách bạch tường tận, nêu bày rơ rệt sự tích nhân quả báo ứng, làm sao họ sẽ dè dặt nơi hành vi, bó buộc thân tâm cho được? V́ thế, nhân quả là cửa ngơ ban đầu để nhập đạo, nhưng tin tưởng chuyên dốc nơi nhân quả cũng chẳng phải là dễ! Bậc Sơ Quả trong Tiểu Thừa, bậc Sơ Địa trong Đại Thừa chính là những vị thật sự có thể chuyên dốc tin tưởng nhân quả vậy. Từ bậc Sơ Địa trở xuống, từ bậc Sơ Quả đổ lại, hễ gặp duyên trái nghịch giết - trộm - dâm - dối sẽ không thể giữ ǵn được, sẽ thuận theo đó mà khởi Hoặc tạo nghiệp.

Nhưng kẻ thông minh vẫn xem nhẹ nhân quả, cho rằng nhân quả bất quá chỉ để nói với kẻ căn cơ trung - hạ, chẳng biết rằng: Hễ chỉ hiểu ư nghĩa của nhân quả một cách thô thiển th́ chẳng đáng gọi là Tín! Tuy biết nhưng chẳng tận tụy vâng hành th́ cũng chẳng đáng gọi là Tín. Chỉ có bậc thánh nhân thuộc Sơ Quả, Sơ Địa, hay Dự Lưu mới có thể “chẳng c̣n phải mang thân sau”. Hễ chẳng c̣n phải mang thân sau th́ chẳng c̣n là kẻ bị chi phối bởi Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, nên đáng gọi là “có ḷng tin chuyên dốc”. V́ thế, ngài Mộng Đông nói: “Kẻ khéo bàn về tâm tánh ắt chẳng bỏ ĺa nhân quả, nhưng kẻ tin sâu nhân quả rốt cuộc ắt sẽ hiểu tâm tánh thật rơ rệt”. Đấy chính là nguyên do v́ sao trong thế gian người niệm Phật đông đảo mà bậc thật sự liễu sanh tử lại hiếm hoi!

Chỉ v́ người niệm Phật không có ḷng tin sâu đậm, nguyện thiết tha, chỉ cầu phước báo, mơ tưởng phú quư trong đời sau. Chẳng biết rằng hễ mơ tưởng đời sau được phú quư th́ cũng ví như ngửa mặt bắn tên lên trời, hễ tên bay hết sức sẽ lại rơi xuống, chẳng những vô ích mà c̣n bị tổn hại. Dẫu cho đời này niệm Phật cảm được phước báo trời người, có phước báo nhưng không có chánh trí. Do có phước báo nên có quyền thế, địa vị, phú quư, nhưng do không có chánh trí nên ngu si, chẳng tin nhân quả. Phàm những kẻ chẳng tin nhân quả lại có địa vị, quyền thế, phú quư th́ sẽ như hổ thêm cánh, càng thêm tàn ác! V́ thế, phước báo càng lớn, tạo nên oan nghiệt càng nhiều. Đă tạo ác nghiệp, sẽ phải chịu ác báo. Đấy gọi là “tam thế oán thân” (kẻ oán, người thân trong ba đời).

V́ vậy, người niệm Phật trọn chớ nên có ḷng cầu phước báo, hăy nên lấy “mạnh mẽ tiến thẳng lên trước nhằm văng sanh Tây Phương” làm pháp mầu nhiệm để liễu sanh thoát tử. Do vậy, ngài Triệt Ngộ thiền sư nói: “Thật v́ sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu, tŕ danh hiệu Phật”. Mười sáu chữ này chính là cương tông lớn lao của pháp môn Niệm Phật. Ngài lại nói: “Một câu Di Đà là tâm yếu của đức Phật ta, theo chiều dọc thông suốt năm thời, theo chiều ngang bao trùm tám giáo”. Thật vậy đó! Một câu Di Đà vi diệu khó nghĩ lường, chỉ có Phật với Phật mới biết được rốt ráo, từ bậc Đẳng Giác trở xuống vẫn c̣n chưa hiểu trọn hết. Do vậy nói: “Bồ Tát biết được chút phần”, bọn phàm phu chúng ta càng phải nên tin tưởng hành theo.

 

2. Pháp ngữ khai thị sau cuộc chiến ở vùng Giang - Chiết

Hiện thời chiến sự vùng Giang - Chiết đă yên, nhưng trong nhất thời nhân dân khó thể khôi phục được như cũ. Thương thay! Nhân dân mắc phải sự khổ ác dữ dội này, nói chung là do ác nghiệp đời trước cảm thành ác báo khổ sở cùng cực ấy. V́ thế, phải đem nhân quả ba đời nói với hết thảy những ai hữu duyên, khuyên họ đừng tạo những nhân gây ra nghiệp báo ấy nữa th́ tương lai sẽ tự chẳng phải nhận lănh cái quả ác báo ấy. Những thứ nhân ác ấy phần nhiều đều do sát sanh ăn thịt mà dấy lên! Phàm với hết thảy mọi người đều nên khuyên họ hăy lấy “kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, ăn chay, niệm Phật” như là một diệu pháp vô thượng nhằm giải quyết vấn đề từ căn bản. Tiếc thay! Con người chỉ biết có ḿnh, chẳng biết có người khác th́ làm sao suy tính tới hết thảy loài vật được? Tới khi ác báo xảy đến, con người bị xử phạt, giết chóc so với lúc loài thú bị hành hạ, giết chóc nào có khác chi? Kinh dạy: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Hễ sợ nhân th́ chẳng phải nhận lănh quả, chứ sợ quả th́ trọn chẳng có mảy may ích lợi ǵ! Nếu đổi cái tâm sợ quả thành cái tâm sợ nhân th́ thế giới sẽ tự thanh b́nh, yên ổn vậy!

 

3. Năm đoạn khai thị (Trần Cảnh Phiên ghi chép)

1) Dạy về phương pháp tu hành:

Phàm tu hành th́ phải nên chuyên ṛng, chớ nên xen tạp. Pháp Niệm Phật vượt trỗi hết thảy. Cầu siêu cho người đă khuất, hoặc cầu cho cha mẹ tăng tuổi thọ và hết thảy mong cầu đều được như nguyện, nhưng phải lấy cầu sanh Tây Phương làm chủ. Muôn vàn chớ nên cầu phước báo trong đời sau. Nếu cầu đời sau sẽ không được hưởng lợi ích văng sanh. Hăy nên đọc kĩ Văn Sao sẽ tự biết duyên do về mặt Sự lẫn mặt Lư. Đối với những căn bệnh của con người hiện thời và phương thuốc để chữa trị th́ trong Văn Sao cũng đều có nói. Nói chung, lấy đề xướng nhân quả báo ứng làm căn cứ để văn hồi thế đạo nhân tâm.

 

2) Dạy về phương pháp tu hành:

Dụng công tu hành cố nhiên phải nên chuyên ṛng; nhưng phàm phu vọng tưởng tơi bời, nếu chẳng dùng kinh chú để giúp thêm, chắc sẽ đến nỗi hờ hững, lười trễ, biếng nhác! Nếu có thể thống thiết như khi chôn cất cha mẹ, như cứu đầu cháy th́ Nhất Hạnh tam-muội quả thật là hay nhất. C̣n nếu niệm Phật hờ hững, băi buôi, th́ lâu ngày chắc sẽ trở thành lười nhác, buông xuôi, bỏ lửng, v́ thế chẳng bằng kiêm tŕ kinh chú sẽ chắc chắn hơn. Ông cầu tôi quyết đoán, tôi nói với ông duyên do để ông tự quyết định. Nói chung, do tâm sanh tử thiết tha, thành kính khăng khăng một niềm th́ chuyên niệm hay kiêm niệm đều được cả. Nếu không, chuyên niệm sẽ trở thành hờ hững, coi thường, kiêm niệm sẽ trở thành tràn lan, lộn xộn. Ấy là v́ căn bản không chân thật, thiết tha, nên đến nỗi hết thảy đều khó được lợi ích.

 

3) Nêu [lư do v́ sao sách] Pháp Hải Thê Hàng chẳng khế cơ:

Soạn sách lập ngôn quả thật chẳng phải là chuyện nhỏ nhặt đâu nhé! Xin hăy nhất tâm niệm Phật, đợi đến khi nghiệp tiêu trí rạng xong, rồi mới viết lách để làm cho hết thảy những kẻ sơ cơ đều được lợi ích th́ mới ḥng ít mắc phải khuyết điểm “giáo pháp chẳng phù hợp căn cơ”. Xét ra, cuốn sách ấy của ông chưa từng chỉ rơ gốc bệnh của con người hiện thời và cách chữa trị. Tuy giảng chung chung về Phật lư cũng có thể khiến cho người khác sanh ḷng tin, nhưng đối với kẻ sơ cơ, do phần lớn những từ ngữ được nêu trong sách là những danh từ riêng [trong Phật pháp], họ sẽ chẳng hiểu rơ, ắt sẽ đến nỗi cật vấn lẫn nhau, vô sự sanh sự, đâm ra chẳng có quan hệ khẩn yếu chi đối với chuyện niệm Phật! Đấy chính là lư do tại sao Quang không tán thành ư tưởng soạn sách của ông. Đă không tán thành, há có thể sửa đổi đại lược, phê b́nh đại lược hay sao? Mong ông biết rơ nguyên do, chẳng đến nỗi vẫn mơ màng trong mộng mà thôi!

 

4) Dạy không cần phải chú trọng vào thơ văn:

Cuốn Pháp Hải Thê Hàng của ông chẳng có thứ tự, thơ văn cũng chẳng thật sự theo thứ lớp. Chỉ nên cẩn thận đọc kĩ những sách có ích cho thân tâm và sốt sắng niệm Phật, không cần phải chú ư đến thơ văn. Nếu qua sách vở mà hiểu được duyên do th́ niệm Phật sẽ được lợi ích, tự nhiên thơ văn sẽ vượt trỗi. Nếu không, cũng chỉ là gượng ép, áp đặt; xét ra, chẳng dính dáng ǵ tới tâm pháp cả!

 

5) Dạy về chuyện tổ chức, điều hành Đồng Thiện Hội

Phàm làm chuyện công ích, chớ nên chấm mút chút nào. Nếu không, chẳng những là dối người mà c̣n đúng là dối ḷng, dối Phật nữa đấy! Sửa ác, hướng lành, cần phải luận từ nơi khởi tâm động niệm. Há nên công khai làm chuyện dối người ư? Những kẻ mù quáng khuấy rối hiện thời đều là những kẻ cực ngu si chẳng biết nhân quả, chẳng biết tội phước báo ứng. Nếu bọn họ có chân tâm, trí huệ, dẫu dùng cái chết để uy hiếp buộc họ làm như vậy, họ cũng chẳng chịu làm! Mong hăy chú ư [điều này] th́ may mắn lắm thay.

 

4. Pháp ngữ khai thị tại Tịnh Nghiệp Xă

(Kư Trần ghi)

Hôm nay là ngày đầu tiên của Phật Thất, tôi đem lai lịch của Phật Thất để nói cho quư vị nghe. Hiện thời, mọi nơi mở Niệm Phật Thất rất nhiều, phương pháp tu tập và những lời lẽ khai thị phần lớn cũng giống nhau. Trước hết, nay tôi tŕnh bày nhân duyên của Phật Thất lần này, rồi sẽ nói tới đại cương của pháp Niệm Phật. Như vậy, tông chỉ của pháp Niệm Phật sẽ được minh bạch. Nếu không, chẳng biết căn bản, chắc chắn sẽ không thể đặt nền tảng vững vàng được, chắc sẽ bị kinh giáo hoặc lời lẽ của thiện tri thức xoay chuyển đến nỗi bỏ pháp này để tu các pháp môn khác.

Pháp Niệm Phật như thuốc A Già Đà. Tiếng Phạn A Già Đà, tiếng Hán là Phổ Sanh, cũng dịch là Tổng Trị v́ nó sanh khắp [mọi sự an lạc, công đức] và trị chung mọi căn bệnh vậy. Pháp môn này cũng giống như thế, trừ được tám vạn bốn ngàn phiền năo. Do vậy, pháp môn Niệm Phật bao trùm khắp muôn h́nh tượng, hết thảy các pháp, không pháp nào chẳng lưu xuất từ pháp giới này. Hết thảy các pháp không pháp nào chẳng quy hoàn pháp giới này. Do nó nắm giữ hết thảy các pháp nên không pháp nào chẳng được trọn vẹn, không căn cơ nào chẳng gồm thâu! Đức Phật chỉ muốn làm cho chúng sanh siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, nhưng chúng sanh căn cơ không giống nhau, tâm nguyện mỗi người mỗi khác. Nếu có chúng sanh cầu phước, cầu thọ, cầu tài, cầu con v.v… chỉ cần thành tâm mong cầu, hễ có cầu ắt ứng. Tuy đấy là pháp thế gian, nhưng nhằm để tiếp dẫn kẻ hạ căn gieo thiện căn dần dần cho nên cũng làm cho họ được măn nguyện. Nếu luận nơi bổn ư của đức Phật th́ chỉ là muốn khiến cho chúng sanh nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, cậy vào Phật từ lực, lâm chung tiếp dẫn văng sanh Tây Phương. Hễ được văng sanh sẽ liền thoát khỏi nỗi khổ luân hồi trong tam giới, từ đấy tiến tu dần dần cho đến khi thành Phật th́ mới là thật nghĩa rốt ráo của Niệm Phật.

 

Nhân duyên thứ nhất: Nếu luận về nhân duyên dẫn đến [pháp hội Niệm Phật Thất này] th́ sẽ phải nói rất dài. Từng nhớ năm Dân Quốc 11 (1922), Quang đến đất Thân (Thượng Hải), trụ tại chùa Thái B́nh. Cư sĩ Giang Dịch Viên do chiếc tàu thủy Đại Thăng bị hỏa hoạn, muốn làm Phật sự [để cầu siêu cho các nạn nhân], Quang khuyên ông ta nên mở Niệm Phật Thất. Lại khuyên người chủ quản công ty ấy tham dự Niệm Phật Thất cho đến măn thất. Ấy là v́ niệm Phật có lợi ích thù thắng hơn công đức của những thứ Phật sự khác; v́ muốn cho những người bị chết cháy, chết đuối được hưởng lợi ích chân thật cho nên khuyên chuyên nhất niệm Phật!

 

Năm trước, vợ ông Giang mất, muốn làm Phật sự, gởi một trăm đồng cậy Quang làm Phật sự. Do vậy, bèn mở một Niệm Phật Thất tại chùa Pháp Vũ núi Phổ Đà. Đêm viên măn Phật Thất, khá có linh cảm. Đối với niệm Phật, ông Giang đă sẵn mang ḷng hết sức thiết tha, cả nhà bị ông ta cảm hóa, niệm Phật cũng rất thiết tha, chân thật. Do vậy trong khi tang ma, cả nhà đều niệm Phật. Chẳng phải chỉ có như vậy, do ông Giang khá có tiếng tăm nơi quê hương, ông cũng thường luôn khuyên người làng niệm Phật. Người trong một vùng đều bị ông ta cảm hóa. Phàm người làng đến phúng điếu, toan tế vong, ông ta đều khước từ, bảo với họ: “Phàm ai đến điếu tang, hăy niệm Phật [trong thời gian cháy hết] một cây hương sẽ tốt hơn là tế lễ nhiều lắm”. Do vậy, dân làng chia ra mấy ban, mỗi ngày một ban đến niệm Phật, niệm tới mấy ngày mới hết.

Do có nguyên nhân này, con của ông Giang tên là Hữu Bằng vào đêm viên măn Phật Thất tại chùa Pháp Vũ nằm mộng thấy nhận được nhiều lá thư, liền cầm một bức lên Phật đường trên lầu để xem. Ngọn đèn trong Phật đường sáng hơn ánh chớp, bóc bức thư ra th́ chính là một bức vẽ về cảnh tượng trong thế giới Cực Lạc. Pháp Vũ mở Phật Thất có tất cả mười sáu vị Tăng nhân. Trước hôm mở Phật Thất một ngày, Quang đối trước Tăng chúng nói: “Quư vị niệm Phật phải thật thà, khẩn thiết th́ ḿnh lẫn người mới đều được lợi ích”. Do vậy, mỗi vị tăng sĩ đều nghiêm túc. Đấy cũng là một cái nhân tạo nên sự linh cảm. T́nh h́nh đại lược về chuyện này đă được đăng tên tờ Lâm San của Cư Sĩ Lâm. Muốn biết những nét chánh yếu, có thể t́m đọc [trong báo ấy].

Năm ngoái, cha của cư sĩ Giang Dịch Viên mất, ông ta cũng gởi tiền cậy Quang mở Phật Thất. Năm nay, bạn ông ta là Ngô Trường Vinh có mẹ vừa mất, cũng gởi tiền cậy mở Phật Thất. Thư ấy gởi đến Phổ Đà th́ hôm mồng Ba tháng đó Quang sang Thượng Hải. Mồng Bốn đến Nam Kinh, mồng Bảy trở về đất Hỗ, mới biết chuyện ấy, liền bàn bạc với ḥa thượng Chân Đạt chùa Thái B́nh, nhưng chùa Thái B́nh đă nhận lời mở thất niệm Phật cho nhà ông Triệu Trúc Quân, chẳng thể cùng tiến hành được. Lại chuyển sang bàn bạc với cư sĩ Quan Biệt Tiều để lấy Phật Giáo Tịnh Nghiệp Xă làm đạo tràng. Quan cư sĩ chấp thuận; do vậy, hôm nay mở đạo tràng Phật Thất tại đây.

Cư sĩ Giang Dịch Viên b́nh sinh thích niệm Phật nhất, đề xướng pháp môn Niệm Phật chẳng tiếc sức thừa, khá có linh cảm. Năm ngoái, vùng Vụ Nguyên bị hạn hán, Dịch Viên khuyên mọi người nhất tâm niệm Phật, chẳng đầy mấy bữa trời mưa một trận lớn. Do vậy, lập ra Phật Quang Liên Xă, người tham dự liên xă đông lắm, cũng lôi kéo Quang làm hội trưởng danh dự. Niệm Phật có đủ mọi chuyện linh cảm khác nhau. Những chuyện như cầu mưa, cầu tạnh và lành bệnh v.v… đều khá rơ rệt, đủ biết niệm Phật lợi ích lớn nhất. Đấy chính là nhân duyên thứ nhất.

Ngoài ra, năm ngoái cư sĩ Lư Vân Thư do người em dâu bệnh nặng, đến chùa Thái B́nh muốn làm Phật sự, tôi khuyên ông ta mở Niệm Phật Thất. Bệnh của người em dâu đă được rất nhiều y sĩ chữa chạy nhưng chẳng lành. Vị thầy thuốc cuối cùng thương cô ta bị đau khổ khó thể chịu đựng đă khuyên nên uống thuốc độc cho mau chết. Do vậy, Vân Thư lập cách cầu Phật gia bị nên đến đây bàn bạc với Quang, Quang bảo mở Niệm Phật Thất. Không lâu sau, Quang trở về núi, cũng chẳng biết cô ta được lợi ích ra sao! Đến mồng Bảy tháng Tư năm nay, Quang sang Cư Sĩ Lâm thăm pháp sư Đế Nhàn. Ông Lư Vân Thư cũng đến, cho biết năm ngoái vào hôm đầu tiên của Niệm Phật Thất, cô em dâu ông ta nằm mộng thấy cô ta đến Tam Thánh Đường cùng với tăng chúng niệm Phật, niệm Phật rất lâu, rất thanh thản, thoải mái, bệnh liền nhẹ dần. Vân Thư bảo cô ta: “Tôi đă niệm Phật cho mợ ở chùa Thái B́nh chứ không phải là Tam Thánh Đường”. Cô em dâu căi: “Không phải chùa Thái B́nh, mà là Tam Thánh Đường”. Sau này, hỏi thăm mới biết chùa Thái B́nh chính là hạ viện của Tam Thánh Đường núi Phổ Đà. Đủ thấy người bị bệnh nếu biết niệm Phật vẫn được Phật lực gia bị khiến cho bệnh được lành. Chuyện này là một chứng cớ rơ ràng vậy!

Trong tháng Bảy năm nay, chính ông Lư Vân Thư bị bệnh. Đang lúc bệnh nặng, thỉnh mấy vị cư sĩ niệm Phật; về sau, do hôn mê bất tỉnh nhân sự bèn thôi. Kế đó, nghĩ tới chuyện năm ngoái đă từng v́ người em dâu mở Niệm Phật Thất, bèn sai người đến chùa Thái B́nh hỏi tôi và ḥa thượng Chân Đạt. Do hai người chúng tôi cùng trụ tại Phổ Đà, ông Lư liền gởi thư xin chúng tôi sang Thượng Hải mở Niệm Phật Thất. Do nhằm tháng Bảy, đă qua khỏi kỳ dâng hương tại Phổ Đà, gặp đúng dịp thanh nhàn, chúng tôi liền mở Phật Thất tại Tam Thánh Đường núi Phổ Đà, chọn ngày Mười Bốn tháng Bảy để khai đàn, ngày Hai Mươi viên măn. Hôm Mười Ba, Quang liền gởi thư cho Vân Thư; hôm Mười Bảy, ông ta gởi thư trả lời cho biết bệnh đă khỏi được tám chín phần. Hiện thời, Lư Vân Thư đă hoàn toàn lành bệnh, chỉ có điều sức lực vẫn chưa được b́nh phục hoàn toàn. Lư Vân Thư bệnh nặng như thế mà nhờ Phật Thất gia bị liền được khỏi hẳn bệnh. Linh nghiệm như thế, đấy là một chứng cớ rơ rệt thứ hai vậy.

Phần thứ hai là cương lănh. Con người hiện thời phần nhiều chuộng lạ, chuộng bày vẽ phô trương, như pháp hội Hộ Quốc Nhân Vương, pháp hội Kim Quang Minh, pháp hội tŕ chú Lăng Nghiêm, pháp hội Đại Vân Luân v.v… Những thứ pháp hội ấy có công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn, nhưng do người đời nay tài lực ít ỏi, thể lực kém cỏi, tuy nói là “cử hành”, nhưng khó thể đạt được lợi ích thù thắng, v́ đấy không phải là chuyện ai cũng có thể thực hiện được. Nếu niệm Phật, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát th́ không một ai chẳng thể làm được! Cho nên về mặt lợi ích, không có một pháp hội nào sánh bằng niệm Phật! Bởi lẽ, pháp môn Niệm Phật thích hợp khắp ba căn, phù hợp căn cơ nhất. Dẫu là đứa con nít bé tẹo vẫn có thể làm được, chứ nếu niệm kinh th́ chỉ có một số ít người biết niệm, chẳng phải ai cũng đều biết niệm!

Bốn hay năm năm (5 năm) trước, từ Tứ Xuyên có gởi tới một thông cáo, cho biết vùng Xuyên Trung chiến sự không ngớt, muốn cầu cho chiến tranh ngưng dứt, khuyên hết thảy mọi người niệm chú Lăng Nghiêm. Cần phải biết rằng: Những người có thể tụng đọc chú Lăng Nghiêm th́ trong ngàn người khó kiếm được một kẻ! Họ c̣n in ra rất nhiều bản [chú Lăng Nghiêm] cho người ta đeo và dán trên đầu cửa. Sự việc khá phiền phức, tốn kém lại nhiều, sao bằng niệm Phật hoặc niệm chú Đại Bi hoặc niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, so ra thẳng chóng, thích đáng hơn! V́ thế, tôi thấy những kẻ xướng suất, đề nghị tụng chú Lăng Nghiêm thật nực cười! Bởi lẽ, họ chỉ chú trọng phô trương, chứ không quan tâm đến thực chất. Đă là như thế th́ lợi ích sẽ kém xa niệm Phật, bởi một câu A Di Đà Phật chính là vô thượng Bồ Đề giác đạo được chứng bởi chính đức Phật. Nếu chúng ta có thể dùng danh hiệu này để tự huân tập [cái tâm ḿnh] th́ lâu ngày chầy tháng khí phận sẽ tương đồng với Phật.

Huống chi câu Phật hiệu ấy không một ai chẳng thể niệm được. Dẫu lười nhác, biếng trễ chẳng chịu niệm, nhưng nghe âm thanh niệm Phật của mọi người cũng có lợi ích. So sánh đôi bên, cố nhiên niệm Phật vượt trỗi niệm kinh nhiều lắm! Do niệm Phật giản tiện tột bậc, ngay như kẻ chẳng niệm Phật nhưng nghe âm thanh niệm Phật lọt qua tai liền được gieo thiện căn. Do vậy, một câu Phật hiệu này rót vào trong tám thức điền, trong tương lai khi gặp duyên sẽ nảy sanh. Ví dù bị oán quỷ, bệnh ngặt bức bách, niệm Phật sẽ đều trừ được. Do vậy, phàm những người có tín tâm niệm Phật hăy nên đem điều này khuyên khắp mọi người khác tu tŕ, chứ chẳng phải chỉ riêng với cha con, người trong nhà là nên khuyên chỉ, ngay cả với hết thảy những ai hữu duyên cũng đều nên khuyên chỉ như thế.

Hỏi: Một pháp Niệm Phật v́ sao lại có thể coi là thích hợp khắp cả ba căn?

Đáp: Tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cực nặng lúc sắp mạng chung, tướng địa ngục hiện, nghe thiện tri thức dạy niệm Phật bèn niệm mười tiếng hoặc niệm mấy tiếng liền được đức Phật tiếp dẫn văng sanh Tây Phương. Do kẻ ấy bị khổ sở bức bách, phát tâm khẩn thiết, nên được thành tựu; chẳng thể nào đem so với kẻ niệm Phật hờ hững, hời hợt để rồi sanh ḷng nghi. Đấy là hạ căn. Nếu luận về thượng căn th́ từ bậc Sơ Phát Tâm Trụ cho đến Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ đều phải niệm Phật hồi hướng văng sanh ḥng viên măn Phật Quả. Do vậy, nói: “Hết thảy pháp môn đều phải lấy niệm Phật làm chỗ quy túc”. Nếu chỉ ham cao chuộng xa, bàn nói điều huyền lẽ diệu th́ sẽ như đếm vật báu của người khác, chính ḿnh chẳng được nửa xu, rốt cuộc chính ḿnh chẳng được hưởng dùng chi hết! V́ phải đạt tới mức “nghiệp tận, t́nh không” th́ mới có thể liễu sanh tử; nếu chỉ nói xuông, có ích ǵ đâu?

Cần biết rằng: Kiến Hoặc và Tư Hoặc chính là căn bản sanh tử. Chưa đạt đến địa vị “nghiệp tận, t́nh không”, sẽ do đâu mà liễu sanh tử được? Niệm Phật cậy vào Phật từ lực nên lợi ích sâu rộng.

V́ thế, Thanh Lương quốc sư nói: “Ngu phu, ngu phụ cắm cúi niệm Phật liền có thể ngầm thông Phật trí, thầm hợp đạo mầu”. Pháp môn Niệm Phật hợp với thời cơ đời Mạt Pháp nhất.

Ḥa Thượng Thiện Đạo nói: “Nếu luận về học Giải th́ hết thảy pháp môn đều phải nên học. Nếu luận về tu tŕ, cần phải chọn lấy một môn khế lư, khế cơ th́ mới có lợi ích thật sự”.

Pháp môn Niệm Phật nhân trùm biển quả, quả tột nguồn nhân, là khế lư, khế cơ nhất, con người hiện thời đều nên tu tŕ. Nhưng pháp môn Niệm Phật cũng có rất nhiều lối, cầu lấy một đường lối thỏa đáng th́ chỉ có Tŕ Danh. Ngay như cách tu Quán Tượng, Quán Tưởng cũng có khuyết điểm! Bởi lẽ, tâm địa chẳng sáng suốt, không hiểu rơ cách Quán, chắc là ma sự sẽ dấy lên. Nếu quán Thật Tướng th́ ai có thể khế nhập thấu triệt được? Do vậy, người niệm Phật chớ nên chú trọng những ǵ cao xa, mà hăy nên chuyên chú nơi những ǵ thực tiễn.

Hễ tưởng nghĩ đến đời sau th́ niệm Phật sẽ thật thiết tha, sẽ tự nhiên đạt được những cảnh giới khá tịnh diệu trong hiện tại. Quang khuyên [các hành nhân tu Tịnh Độ] chỉ nên mong đạt được nhất tâm, đừng mong tưởng cảnh giới. Nếu không, khó tránh khỏi bị ma dựa! Trong tháng Tư năm nay, có người gởi thư đến kể những cảnh giới cực kỳ hiểm ác, Quang viết thư cho ông ta, khuyên nên nhiếp tâm tịnh niệm. Tất cả cảnh giới đều là huyễn hóa; với cảnh giới tốt đẹp đừng nên hoan hỷ, với cảnh giới xấu ác đừng nên sợ hăi, chúng sẽ tự tiêu diệt. Cần biết rằng: “Ngàn sông bóng nước, ngàn trăng rọi; muôn dặm không mây, muôn dặm trời”. Nếu đạt tới lúc tâm và Phật tương ứng th́ có cảnh giới hay không cảnh giới đều được cả! Chưa đạt đến lúc tâm tương ứng với Phật, cứ lầm lạc muốn thấy cảnh giới thù thắng, nhiệm mầu, th́ chính là cái gốc để chuốc lấy ma sự đấy!

Cổ nhân nói: “Học đạo trong các môn khác như con kiến ḅ lên núi cao; niệm Phật văng sanh như đă nương theo gió căng buồm lại c̣n thuận nước”. Kinh Hoa Nghiêm bao gồm trọn vẹn các pháp, xét đến chỗ quy túc th́ chính là hồi hướng văng sanh Tây Phương. Các kinh Đại Thừa không kinh nào chẳng tán dương Tịnh Độ, nhưng bốn kinh Tịnh Độ chuyên giảng đến tột cùng. Ở Tây Thiên th́ các vị Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ v.v… tự hành, dạy người, đều cùng chỉ quy Tịnh Độ. Nơi Đông Độ, từ khi Viễn Công sáng lập Liên Xă ở Lô Sơn trở đi, Đàm Loan, Đạo Xước, Thiên Thai, Thiện Đạo v.v… đời nào cũng nghe nói có người, ấy là v́ Phật đă sớm biết chúng sanh đời sau căn khí mỏng yếu nên đặc biệt mở ra pháp môn Niệm Phật. V́ thế, các vị Bồ Tát, tổ sư cực lực đề xướng để mong hết thảy chúng sanh đều cùng liễu sanh thoát tử ngay trong đời này. Tục ngữ có câu: “Thiểu thật thắng đa hư, đại xảo bất như chuyết” (Thật ít hơn dối nhiều, khéo quá chẳng bằng vụng). Pháp môn Niệm Phật phải tu bằng thật hạnh, nên lúc lâm chung Liên Tŕ đại sư dặn ḍ đại chúng rằng: “Xin mọi người hăy thật thà niệm Phật”. Nếu các vị thật thà niệm Phật sẽ chẳng phụ ḷng đức Như Lai đại từ bi đă nói ra pháp môn đặc biệt này!

 

5. Pháp ngữ khai thị tại Tố Thực Đồng Duyên Xă (Hội cùng kết duyên ăn chay) ở Nam Kinh

(Hoàng Sám Hoa và Cung Huệ Vân kính ghi)

Ấn Quang vô tri vô thức, ít tham cứu, ít học hành, nay được các vị đại cư sĩ chèo kéo, quả thật hổ thẹn sâu xa. Trộm nghĩ Phật pháp có năm thừa:

 

1) Nhân Thiên thừa: Nhân thừa tŕ Ngũ Giới, được sanh trong loài người. Thiên thừa hành Thập Thiện, được sanh lên cơi trời trong Dục Giới. Nếu c̣n hành thêm Tứ Thiền, Tứ Định th́ sẽ sanh trong các cơi trời Sắc Giới hay Vô Sắc Giới.

 

2) Thanh Văn thừa: Tu Tứ Đế, đắc Tứ Sa Môn quả.

3) Duyên Giác thừa: Quán Thập Nhị Nhân Duyên, đắc Bích Chi Phật quả.

4) Bồ Tát thừa: Tu lục độ, vạn hạnh, chứng Bồ Tát quả.

5) Phật thừa: Hành đại từ đại bi, thành Chánh Đẳng Chánh Giác.

Tu Nhân Thiên thừa kiêm hành Bồ Tát thừa và Phật thừa th́ chắc chỉ có ḿnh pháp môn Tịnh Độ đó chăng? Ấy là v́ Nhân Thiên thừa chỉ tu Ngũ Giới, Thập Thiện, đều là công đức hữu lậu; chỉ có pháp môn Tịnh Độ này có thể vượt tam giới, liễu sanh tử! Người tu Tịnh Độ ắt phải giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính ḿnh, cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng ḥa, vợ thuận; lại c̣n dùng Tứ Hoằng Thệ Nguyện để mở rộng cái tâm, tự hành, dạy người, khiến cho khắp mọi người trong là cha mẹ, vợ con, ngoài là xóm giềng, làng nước đều cùng tu Ngũ Giới, Thập Thiện và tu pháp môn Tịnh Độ. Dùng tín nguyện sâu niệm Phật cầu sanh Tây Phương, người ấy tuy là phàm phu nhưng thật ra là Bồ Tát. V́ sao vậy? Do cái tâm rộng lớn!

Xưa kia có một vị Sa Di theo hầu một vị tôn giả đi đường, Sa Di chợt phát nguyện tự lợi lợi tha “trên cầu Bồ Đề, dưới hóa độ chúng sanh”, tôn giả liền bảo Sa Di đi trước. Sa Di chợt xoay chuyển ư nghĩ: “Chúng sanh nhiều như thế, làm sao để có thể độ thoát cho hết được! Chẳng thà tự lợi th́ hơn”. Khi ấy, tôn giả liền bảo bước theo sau ngài. Sa Di lại chợt xoay chuyển ư nghĩ: “Vẫn phải nên độ thoát chúng sanh!” Tôn giả lại bảo Sa Di đi trước. Sa Di lấy làm lạ, hỏi lư do, tôn giả bảo: “Thoạt đầu, con phát đại Bồ Đề tâm tức là Bồ Tát, ta tuy là La Hán nhưng vẫn thuộc Tiểu Thừa. V́ thế phải mời con đi trước. Kế đó, con lại lui sụt Bồ Đề tâm, ta là thánh nhân, con là phàm phu nên theo đúng lẽ phải đi sau. Sau đấy con lại phát Bồ Đề tâm, nên ta vẫn phải thỉnh con đi trước”. Do câu chuyện này thấy rằng: Phát Bồ Đề tâm công đức vô lượng vô biên! Chúng ta muốn tăng trưởng thiện căn không thể nào chẳng phát tâm Bồ Đề.

Nay đang thời mạt kiếp, lễ giáo suy vong; muốn văn hồi thế đạo nhân tâm, ắt trước hết phải đề xướng nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi. Thánh nhân thế gian nói về nhân quả như “nhà tích thiện ắt niềm vui có thừa, nhà tích điều bất thiện ắt tai ương có thừa”, “làm lành trăm điều tốt đẹp giáng xuống, làm điều bất thiện trăm sự tai ương giáng xuống” v.v… lời lẽ đơn giản, nhưng ư nghĩa bao trùm; người đời sau quen thói chẳng suy xét. C̣n các bậc thánh nhân xuất thế gian th́ nói nhân quả tường tận tột bậc. Nhờ đấy, bậc thượng trí liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, kẻ tư cách trung hạ do xét thấy “làm ác mắc quả ác, làm lành được báo lành” cũng gắng sức làm lành. Dẫu là kẻ cùng hung cực ác cũng có phần kiêng sợ chẳng dám làm! V́ thế, nhân quả báo ứng thật sự là một pháp thông trên thấu dưới.

Cũng có kẻ bảo thuyết nhân quả báo ứng là Tiểu Thừa, chẳng biết lục độ vạn hạnh cũng là nhân quả. Từ đức Như Lai đă thành Đẳng Chánh Giác cho đến phàm phu đọa trong địa ngục A Tỳ đều không ǵ chẳng phải là nhân quả! Bởi thế, Phật giáo đề cao, giảng rơ nhân quả, có lợi sâu đậm cho con người vậy thay! Xưa kia Văn Vương cai trị bằng ḷng nhân, ân trạch thấm đến cả xương khô, nhưng chưa đầy hai ba trăm năm, phong tục giết người tuẫn táng đă trọn khắp thiên hạ. Lại c̣n cho rằng “càng giết nhiều càng vẻ vang”, thiên tử, chư hầu, sĩ đại phu đều tùy theo khả năng mà giết, rốt cuộc đến khoảng mấy trăm, mấy ngàn người! Ngay như Tần Mục Công là một vị vua hiền, vẫn giết hơn một trăm bảy chục người để tuẫn táng. Ba vị họ Tử Xa chính là bầy tôi hiền của đất nước nhưng đều bị giết để tuẫn táng, huống hồ những kẻ khác ư? Nguyên nhân đều là v́ chẳng biết đến nhân quả ba đời vậy! Từ khi Phật pháp truyền vào Trung Quốc trở đi, chưa hề nghe sử sách chép có chuyện tuẫn táng. Đấy cũng chưa hề chẳng phải là do thuyết nhân quả ba đời của đức Như Lai tạo nên!

Đang trong thời buổi này, sát kiếp lừng lẫy, càng phải nên đề xướng kiêng giết, ăn chay. Sát kiếp do sát nghiệp cảm thành. Sát nghiệp lớn nhất chính là ăn thịt. Do ăn thịt nên cảm vời hết thảy thiên tai, nhân họa, hạn hán, lụt lội, mưa dầm, ôn dịch, sâu rầy. Ăn thịt gây hại quá nhiều, nói chẳng thể hết được, đành nêu một thí dụ để chỉ rơ. Xưa kia vào thời Liệt Quốc, ở nước Lỗ có hai gă dũng sĩ, mỗi người ở một nơi. Một hôm gặp nhau, mua rượu cùng uống, một gă nói: “Không thịt chẳng thành cuộc vui! Hăy nên mua thịt”. Gă kia nói: “Tôi với anh đều có thịt, cần ǵ phải t́m thịt ở đâu nữa?” Liền cắt thịt của nhau ăn, lại c̣n cắt thịt của chính ḿnh để dâng cho nhau đến nỗi chết ngắc!

Trong cái nh́n của chúng ta, hai gă ấy là kẻ đại ngu, nhưng [chúng ta] chẳng biết rằng “kẻ ăn thịt là v́ chẳng hiểu rơ nhân quả báo ứng”. Mai kia con người chết đi [đầu thai] làm loài thú, thú chết đi thành người, ăn thịt lẫn nhau, có khác chi đâu? Chẳng qua khác biệt ở chỗ cách đời hay cùng thời mà thôi, nhưng c̣n tệ hơn! Hai gă dũng sĩ chết v́ ăn thịt lẫn nhau, nhân quả báo ứng trong một lúc đều xong hết; chứ kẻ ăn thịt nhân quả dây dưa không dứt, báo ứng cũng chẳng có lúc nào xong. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Do con người ăn dê, dê chết thành người, người chết thành dê. Như thế cho đến mười loại chúng sanh, chết chết sống sống ăn nuốt lẫn nhau”. Kinh đă dạy rơ ràng như thế, thật đáng kinh hăi! Ở đây, tôi lại lược thuật vài nghĩa để làm sáng tỏ đạo lư [v́ sao] “không nên ăn thịt”.

1) Do cái tâm bất nhẫn: Hết thảy những loài có linh tánh đều cùng một thể. Do thương dân mà yêu vật, nguyên khí thái ḥa tràn ngập nhân gian. Do vậy, biết rằng giết chóc sanh linh là chuyện hoàn toàn chẳng có nghĩa lư ǵ cả! Hết thảy chúng sanh đều tham sống sợ chết, sao ta nỡ ḷng tàn hại sanh mạng để thỏa thích miệng bụng?

2) Nhân quả báo ứng: Hết thảy sanh linh đều do xưa kia chẳng biết nhân quả nên bị đọa lạc trong loài súc sanh. Nay ta giết chúng để ăn thịt, mai sau khi chúng đă hết ác báo, sát nghiệp của ta mới thành, ta cũng sẽ làm thịt trên thớt của chúng! Do vậy, kiêng giết, ăn chay chẳng phải là tính toán cho sanh linh mà cũng là tính kế cho chính thân ta vậy!

Ông Lưu Ngọc Thụ giữ chức Hàn Lâm đời Minh, đỗ thuyền ở Tô Châu, mộng thấy một người đàn ông to lớn đến cầu cứu, tự xưng là thiên tướng quân Tào Hàn, do tàn sát Giang Châu nên đời đời mang thân lợn: “Nơi ḷ mổ ở ngay trước bến thuyền, trong chốc lát, con lợn bị giết đầu tiên chính là tôi đấy. Xin hăy cứu vớt!” Ông ta tỉnh giấc quả nhiên thấy gă đồ tể sắp giết lợn liền mua đem về thả trong một ngôi chùa tại Xương Môn. Hễ có ai kêu “Tào Hàn”, con lợn ấy đều quay đầu ngó. Điều này có thể chứng tỏ con người biến thành súc sanh, súc sanh biến thành người. Những chuyện về hoạt Diêm Vương, hoạt tiểu quỷ được chép trong sách vở rất nhiều. Đấy đều là thiên địa quỷ thần hé lộ một chút tin tức về nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi để răn nhắc người đời vậy.

3) Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ, quyến thuộc của ta trong quá khứ! Chúng ta đă biết rơ nhân quả luân hồi: Trong một đời có cha mẹ quyến thuộc trong đời ấy. Trải qua nhiều kiếp sống, sẽ có cha mẹ, quyến thuộc trong nhiều kiếp sống. Cha mẹ, quyến thuộc trải nhiều kiếp số như thế luân hồi trong sáu nẻo, trong số ấy có những người làm ác, khó tránh khỏi đọa trong tam đồ. V́ thế, đối với lục đạo chúng sanh, chúng ta phải coi như cha mẹ, vợ con. Lẽ nào con hiếu cháu hiền lại ăn nuốt cha mẹ ư? Há có cha mẹ hiền từ nào lại ăn nuốt con cái ư? Hễ suy nghĩ đến điều này sẽ chẳng nỡ ăn mà cũng chẳng dám ăn nữa!

Ngay cả cúng giỗ tổ tiên cũng chớ nên dùng thịt, bởi lẽ, mang tiếng là kính trọng chứ thật ra đă làm hại tổ tiên! C̣n như dùng thịt để dâng cho cha mẹ, đều khiến cho cha mẹ tổn phước, mắc họa ương! Cha mẹ là người có phước đức thiện căn th́ phước đức thiện căn ấy sẽ bị hao tổn. Nếu là kẻ không có phước đức thiện căn th́ ta đă tăng thêm ác nghiệp giết hại cho họ. Xưa kia, lúc đức Phật tại thế, một bà góa nhân giỗ đầu của chồng đi mua thịt về cúng. Trên đường đi gặp Như Lai, Như Lai dạy: “Thịt này là do chồng bà chuyển biến thành. Há nên dùng thịt của chồng để cúng giỗ hồn chồng?” Theo lẽ đó mà suy th́ kính trời đất, tế quỷ thần cũng chớ nên dùng thịt. Thiên địa quỷ thần lẽ đâu chẳng hiểu sâu xa nhân quả, lại tham thứ thịt bẩn thỉu, tanh tưởi ấy mà đến chứng giám, hưởng nhận ư? Do vậy kẻ dùng huyết nhục để cúng tế muốn cầu phước, đâm ra lại mắc họa!

4) Hết thảy chúng sanh đều là chư Phật trong vị lai. Bởi lẽ, hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ làm Phật. V́ thế, họ là vị lai chư Phật. Hơn nữa, trong loài súc sanh đôi khi có Phật hay Bồ Tát hóa hiện trong ấy nhằm tạo phương tiện độ sanh như chuyện Bạc Hà được chép trong Thanh Lương Chí: Một vị Tăng ở Ngũ Đài gặp một vị Tăng lạ lùng lấy ra một bức thư dặn giao cho Bạc Hà, nhưng không nói rơ địa chỉ. Một hôm [vị Tăng ấy] đi qua Vệ Huy thấy một lũ trẻ nhỏ hô “Bạc Hà”, vị Tăng hỏi: “Bạc Hà ở đâu?” Bọn trẻ chỉ con lợn đang nằm dưới vách tường, bảo: “Chẳng phải là nó đó sao?” Tăng cầm thư gọi “Bạc Hà”, rồi ném thư cho lợn. Con lợn đứng lên như người, dùng hai chân trước nhận lấy, bỏ thư vào miệng rồi chết đứng. Khi ấy mới biết con lợn ấy chính là do Bồ Tát biến hiện.

Gă đồ tể [chủ nhân của Bạc Hà] giết lợn rất nhiều. Nếu đem con lợn sắp bị giết đến trước mặt Bạc Hà th́ nó liền để mặc cho giết, trọn chẳng chạy trốn, kêu gào. V́ thế, gă đồ tể yêu mến Bạc Hà, mỗi lần muốn giết lợn, cứ dắt Bạc Hà đi ṿng quanh con lợn ấy th́ cũng giống như đă giết chết con lợn đó rồi! V́ thế vẫn nuôi [Bạc Hà] nhiều năm không giết. Hơn nữa, con lợn ấy sạch sẽ, thích ăn bạc hà nên đặt tên như vậy. Thoạt đầu, vị Tăng ấy nhận lá thư của vị Tăng lạ lùng rồi ra đi, giữa đường suy nghĩ: “Thư này sẽ giao đến nơi đâu?” bèn lén bóc ra, thấy đại ư viết: “Độ chúng sanh nếu [họ đă] được độ thoát th́ hăy mau quay về để lâu ngày khỏi bị mê mất”. Vị Tăng lấy làm lạ, dán phong thư lại. Đến nay mới biết Bạc Hà chính là đại Bồ Tát vậy. Đi quanh con lợn một ṿng th́ bầy lợn liền chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Oai đức thần lực ấy há nghĩ bàn được chăng?

Thêm nữa, Đường Văn Tông (809-840) thích ăn nghêu, một bữa nọ có con nghêu ngậm chặt vỏ không tách ra được. Vua liền đích thân tách ra, thấy bên trong có tượng Quán Âm Đại Sĩ bằng thịt ṣ, trang nghiêm dị thường, Do vậy, có thể biết là có c̣n nên ăn thịt hay không? Nếu ăn lầm phải thân Phật, Bồ Tát hóa hiện th́ tội lỗi ấy sẽ chẳng thể nào kể xiết! Nếu chúng ta biết được lư này sẽ tự chẳng dám ăn thịt mà cũng chẳng nỡ ăn thịt.

Chúng ta hăy nên thật v́ sanh tử phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu tŕ danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương, chẳng cần phải tu pháp nào khác nữa! Nếu cậy vào tự lực để tu Thiền Định ḥng liễu sanh tử sẽ rất ư là khó! Do pháp ấy cần phải đạt đến mức nghiệp tận t́nh không, đoạn sạch Kiến Hoặc, Tư Hoặc mới thoát khỏi sanh tử. Lúc đức Phật tại thế, chẳng thiếu người đoạn sạch được Kiến Hoặc, Tư Hoặc chẳng c̣n sót; nhưng trong thời đại Mạt Pháp, căn tánh kém hèn, thật chẳng dễ có bậc đoạn Hoặc chứng Chân! Chỉ có một môn Tịnh Độ là có thể vào lúc lâm chung cậy vào Phật từ lực văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, tức là đă liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh rồi!

 

Hơn nữa, chớ nên coi pháp môn Tịnh Độ quá nhẹ, v́ hàng Pháp Thân đại sĩ như Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền v.v… đều chẳng thể vượt ra ngoài pháp môn này được! Mà cũng chớ nên nghĩ là quá khó, bởi lẽ, hễ ai có tâm đều có thể thành Phật. Chỉ tŕ vạn đức hồng danh của A Di Đà Phật th́ như đă được trao bằng khoán văng sanh. Kẻ tu Tịnh Độ hăy nên hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện Nghiệp, ba điều nơi thân, bốn điều nơi miệng, ba điều nơi ư đều tốt lành. Đấy là chánh nhân tịnh nghiệp của tam thế chư Phật. Kế đó, thọ tŕ Tam Quy, trọn đủ Ngũ Giới, chẳng phạm oai nghi. Tiếp đến là tin sâu nhân quả, phát Bồ Đề tâm, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả, nhưng đều phải lấy điều thiện thế gian như hiếu dưỡng cha mẹ v.v… làm căn bản.

 

Nếu y theo các pháp môn khác th́ đều phải cậy vào tự lực, giống như vượt qua biển cả, hễ kẻ nào có cánh th́ sẽ có thể bay vượt qua, chứ kẻ chỉ nổi được th́ chưa đủ để trông cậy, huống hồ kẻ chẳng thể nổi được ư? Cậy vào Phật lực giống như ngồi thuyền vượt biển, trong khoảnh khắc liền đến bờ kia. Lại như thân phận thường dân muốn được quư hiển, thật chẳng phải là chuyện dễ! Nhưng vương tử vừa mới sanh ra đă là người nối ngôi vua! Tự lực, tha lực, khó - dễ, được - mất trong đấy chẳng thể nào cùng một lúc nói cho xiết được! Thường thấy kẻ tự xưng là thông Tông thông Giáo chẳng tin vào pháp môn Tịnh Độ, lại c̣n cho đấy là hạnh dành cho bọn ngu phu ngu phụ hành tŕ, sao chẳng nh́n vào chuyện đă xảy ra cho Đại Trí luật sư, Ngũ Tổ Giới, Thảo Đường Thanh vậy?

 

Đại Trí luật sư thoạt đầu rất miệt thị Tịnh Độ, sau đọc Tục Cao Tăng Truyện, thấy pháp sư Huệ Bố nói: “Cơi ấy tuy tịnh, nhưng ta chẳng muốn. Giả sử trong mười hai đại kiếp sống trong hoa sen, hưởng các khoái lạc, sao bằng ta ở trong đời ác Ngũ Trược giáo hóa chúng sanh ư?” liền sanh phỉ báng. Về sau do bị bệnh nặng, mới biết chính ḿnh trọn chẳng có mảy may bản lănh ǵ để trông cậy, liền phát nguyện đến hết báo thân này hoằng dương Tịnh Độ. Suốt hai mươi mấy năm, tay chẳng rời kinh Phật, lấy Tịnh Độ làm chỗ nương tựa, quy hướng. Thiền sư Ngũ Tổ Giới, thiền sư Thảo Đường Thanh công hạnh cao cả vượt trỗi những kẻ tầm thường, chỉ v́ chưa thể đoạn sạch Kiến Hoặc, Tư Hoặc, nên vẫn phải luân chuyển trong nhân gian. V́ thế biết liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh mà bỏ Tịnh Độ th́ không có kế sách tốt đẹp nào cả!

 

Pháp môn Niệm Phật cần phải đầy đủ Tín - Nguyện - Hạnh. Tín đă sâu, ắt sẽ phát nguyện thiết tha. Nguyện đă phát thiết tha, ắt sẽ dốc sức hành tŕ. Chỉ niệm Di Đà chẳng cần kèm thêm pháp nào khác nữa. Hăy nên dùng ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, chấp tŕ danh hiệu Phật, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, tâm niệm tai nghe, từng câu từng chữ phân minh. Niệm cho phân minh, nghe cho phân minh sẽ là chánh nhân văng sanh. Đă dùng pháp này để tự hành, ắt lại phải đem pháp này dạy bảo người khác th́ công đức giáo hóa ấy sẽ quy về chính ḿnh. Quả thật là tư lương văng sanh tối thắng!

 

Nhưng trước hết hăy nên khuyên cha mẹ, anh em, vợ con trong nhà chính ḿnh, lấy thân làm gốc, từ thân đến sơ. Thêm nữa, nhờ vào công đức niệm Phật, không những có thể văng sanh Tây Phương mà c̣n có thể tiêu trừ những tai họa lạ lùng, ngang trái. Phàm bệnh tật do oán nghiệp chẳng thể chữa trị được mà nếu chí thành niệm Phật th́ lâu ngày sẽ đều được khỏi bệnh. Bởi lẽ, thầy thuốc chỉ trị được bệnh, chứ không thể trị được nghiệp. Chỉ có niệm Phật là trị được thân bệnh lẫn tâm bệnh, không có ǵ chẳng trị được! Cúi mong các vị cư sĩ đều nên phát tâm Bồ Đề, đề xướng nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, ăn chay, niệm Phật, ấy gọi là “dùng quả địa giác làm nhân địa tâm” cho nên được “nhân trùm biển quả, quả tột nguồn nhân”, thật đáng gọi là pháp hy hữu rất khó có vậy! (Tháng Bảy năm Bính Dần - 1926)

6. Pháp ngữ khai thị tại Thế Giới Phật Giáo Cư Sĩ Lâm (Hiển Ấm bút kư)

Vấn đề quan trọng nhất trong Phật pháp chính là liễu sanh tử. Nếu luận về đại sự liễu sanh tử ấy th́ rất khó khăn. Bọn phàm phu chúng ta căn cơ kém cỏi, hiểu biết nông cạn; đă thế, trong đời ác Ngũ Trược tà sư ngoại đạo thật đông! Muốn liễu thoát sanh tử, rốt cuộc phải như thế nào mới liễu thoát được? Chỉ có pháp môn Niệm Phật, dùng ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, tinh tấn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ [th́ mới liễu thoát được]. Trong Phật pháp có nhiều phương tiện, tham Tông học Giáo đều có thể liễu thoát sanh tử, cớ sao cứ phải nhất định niệm Phật vậy? Ấy là v́ tham Tông nghiên Giáo đều phải cốt sao đạt đến mức cùng cực, nếu như thật sự tu chứng được th́ mới có hy vọng. Đấy chính là hoàn toàn cậy vào tự lực, há nói dễ dàng ư?

Niệm Phật là nương tựa vào Phật lực gia bị, tức là kiêm cậy vào Phật lực, tự nhiên chắc chắn có chỗ nắm vững được! Ví như vượt biển, cậy vào tự lực sẽ giống như bay vượt qua biển, c̣n cậy vào Phật lực như ngồi thuyền Từ. Bay vượt qua biển khó thể chẳng lo bị rơi xuống; ngồi thuyền Từ chắc chắn có bữa đến được bờ kia. Sự khó - dễ, an - nguy trong ấy chắc mọi người đều đă phân biệt đến nơi đến chốn rồi! Nói chung, cậy vào tự lực để tham Thiền ngộ đạo liễu sanh tử, nhưng chưa về đến nhà (chưa chứng đến mức rốt ráo) th́ thường là chẳng dễ dàng thực hiện được! Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ chỉ cần tín nguyện chân thiết hành tŕ kiên cố, sẽ có công năng liễu thoát.

Nếu luận về sự khó - dễ giữa tự lực và tha lực cũng như [sự khó - dễ] giữa Thiền và Tịnh th́ nói rơ ràng nhất, minh bạch nhất, không chi bằng Tứ Liệu Giản của Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư. Chiếu theo Tứ Liệu Giản để nói th́ người chẳng thông Tông thông giáo cố nhiên phải nên niệm Phật, nhưng kẻ thông Tông thông Giáo lại càng phải niệm Phật! Tuy thông nhưng chưa chứng nói chung đều phải niệm Phật để liễu sanh thoát tử th́ mới đúng đạo lư. Vĩnh Minh đại sư chính là A Di Đà Phật hóa thân, đại từ, đại bi khai hóa chúng sanh.

 

Tứ Liệu Giản như sau:

 

Có Thiền có Tịnh Độ,

Ví như cọp đội sừng,

Đời này làm thầy người,

Đời sau làm Phật, Tổ.

 

Không Thiền, có Tịnh Độ,

Vạn tu, vạn người về,

Chỉ được thấy Di Đà,

Lo chi không khai ngộ.

 

Có Thiền, không Tịnh Độ,

Mười kẻ, chín chần chừ,

Ấm cảnh nếu hiện tiền,

Chớp mắt đi theo nó.

 

Không Thiền, không Tịnh Độ,

Giường sắt với cột đồng,

Vạn kiếp lẫn ngàn đời,

Không có người nương tựa.

 

Bài kệ Tứ Liệu Giản gồm mười sáu câu trên đây đúng là thuyền Từ, mong mọi người hăy nên chú ư! Muốn hiểu rơ ư nghĩa của bài Tứ Liệu Giản này th́ trước hết cần phải hiểu rơ ràng thế nào gọi là Thiền, thế nào gọi là Tịnh, thế nào gọi là Có, thế nào gọi là Không. Đă thấy rơ được ư nghĩa của bốn chữ “Thiền, Tịnh, Có, Không” này rồi th́ mới hiểu rơ được ư nghĩa của Tứ Liệu Giản. Do vậy, tôi đem ư nghĩa của “Thiền, Tịnh, Có, Không” quyết trạch đại lược như sau:

Nói tới Thiền chính là “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, hoặc như trong Giáo gọi là “đại khai viên giải, triệt chứng bản giác lư thể của nhất niệm linh tri”. Do vậy, phải đích thân thấy được bản lai diện mục th́ mới được kể là “có Thiền”. Nếu không, chẳng thể coi là Có! Nói đến Tịnh th́ là pháp môn “tín sâu, nguyện thiết, cầu sanh Tịnh Độ” như đă dạy trong ba kinh Tịnh Độ. Tự tâm tịnh th́ quốc độ tịnh, do tự lực cảm nên Phật lực ứng. Điều cần thiết bậc nhất là ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, hạnh tinh tấn dũng mănh. Do vậy, cần phải có ḷng tin quyết định không nghi. Chí thành khẩn thiết phát nguyện, lại c̣n hành tŕ nhất định chẳng thay đổi th́ mới kể là “có Tịnh Độ”. Nếu không, chẳng thể kể là có [Tịnh Độ] được! Người đời thường nghĩ ngồi như đă chết khô, khán chết cứng một câu thoại đầu là “có Thiền”, niệm Phật sơ sài, loáng thoáng vài câu bèn kể là “có Tịnh Độ”. Ấy chính là lầm lẫn lớn lao lắm đấy!

Nói chung, “có Thiền” chính là có công phu minh tâm kiến tánh. “Có Tịnh Độ” là Niệm Phật đến mức chắc chắn được văng sanh. Đấy chính là đạo lư khẩn yếu nhất! Nhưng minh tâm kiến tánh chỉ là khai ngộ chứ vẫn chưa chứng, trọn chẳng thể liễu sanh tử. “Hễ ngộ được th́ không c̣n sanh tử” chẳng phải là lời lẽ của người đă chứng nhập! Hăy nên biết rằng: Ngộ là mở mắt, ngộ rồi mới có đường lối để chân tu thực chứng. Kẻ chưa ngộ chẳng khỏi tu mù, luyện đui, sụp hầm, sa hố! Do bởi lẽ ấy, trước hết cần phải khai ngộ. Đấy chính là công phu ban đầu. Nếu bàn đến chuyện “muốn về được đến nhà” th́ chính là dốc sức tiến bước để làm chuyện “đang cháy lại đổ thêm dầu” đấy chăng?

Câu thứ nhất trong Tứ Liệu Giản “Có Thiền, có Tịnh Độ” nghĩa là đă có công phu đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Lại c̣n có ḷng tin chân thật, phát nguyện cầu sanh Tây Phương. Đại triệt đại ngộ giống như mănh hổ, lại có bản lănh niệm Phật để liễu sanh tử th́ há chẳng phải là như cọp mọc sừng ư? Do vậy, nói: “Ví như cọp đội sừng”. Dùng sở ngộ và sở hạnh của chính ḿnh để giáo hóa chúng sanh. Kẻ nên dùng Thiền cơ để độ bèn giảng Thiền. Kẻ nên dùng Tịnh tông để độ được bèn giảng Tịnh. Nên dùng Thiền Tịnh Song Tu để độ bèn dùng pháp môn Thiền Tịnh để hóa độ. Do vậy lời lẽ chẳng phí uổng, không căn cơ nào chẳng nhiếp, mở mắt cho chúng sanh, làm bậc thầy khuôn mẫu cho trời người, nên nói là: “Hiện đời làm thầy người”. Bởi lẽ, người minh tâm kiến tánh niệm Phật cầu sanh sẽ thấy thấu triệt tự tánh Di Đà, quyết chứng được duy tâm Tịnh Độ, khi lâm chung sẽ Thượng Phẩm Thượng Sanh. Trong khoảng khảy ngón tay, hoa nở thấy Phật, liền chứng được địa vị Sơ Trụ trong Viên giáo, phân thân làm Phật trong một trăm thế giới, tùy loại ứng hiện hóa độ chúng sanh. Đấy gọi là chân tinh tấn, đấy gọi là đại trượng phu, tương lai làm Phật, làm Tổ, chân ngữ, thật ngữ! Ngưỡng mong đại chúng hăy tin tưởng chắc thật!

Bài kệ Liệu Giản thứ hai nói tới kẻ chưa từng đại triệt đại ngộ, cậy vào sức của chính ḿnh quyết khó mong liễu sanh tử! Do vậy, phát nguyện cầu Phật tiếp dẫn, tu hành pháp môn Tịnh Độ nên nói: “Không Thiền, có Tịnh Độ”. Chỉ cần tin tưởng sâu xa, chỉ cần phát nguyện, chỉ cần niệm Phật th́ bất luận là ai đều có thể văng sanh. V́ thế nói: “Vạn tu, vạn người về”. Nếu có ai chẳng thông hiểu đạo lư, niệm Phật chỉ cầu phú quư, cầu sanh lên trời th́ những người như thế chẳng thể kể là “có Tịnh Độ”. Chẳng được sanh về Tây Phương th́ chỉ trách chính ḿnh chẳng phát nguyện, chẳng thể trách móc từ phụ Di Đà không đến tiếp dẫn! Nếu có thể phát nguyện cầu sanh th́ nói chung sẽ được văng sanh. Đă được văng sanh, đích thân thấy Phật Di Đà, nghe giảng diệu pháp, tức thời khai ngộ. Trong một đời liền chứng A Bệ Bạt Trí, địa vị Bất Thoái Chuyển. V́ thế nói: “Chỉ được thấy Di Đà, lo chi không khai ngộ”. Nh́n từ đây, pháp môn Tịnh Độ quả thật là không một điều tốt đẹp nào chẳng có!

Bài kệ Liệu Giản thứ ba nói tới những kẻ tuy có thể đại triệt đại ngộ, nhưng nếu chẳng phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, do v́ chưa về đến nhà sẽ chẳng hưởng sự an thân lập mạng được, nên nói: “Hữu Thiền, vô Tịnh Độ, thập nhân cửu tha lộ” (Có Thiền, không Tịnh Độ, mười kẻ, chín chần chừ). Nói: “Thập nhân, cửu tha lộ” (Mười kẻ, hết chín kẻ chần chừ trên đường) nghĩa là “tuy có thể khai ngộ” nhưng chưa nhất định chứng đến nơi đến chốn, v́ thế nói là “tha lộ” (chần chừ trên đường). Có kẻ [chép câu Liệu Giản này thành] “thập nhân cửu thác lộ” (mười người chín lầm đường) th́ hai chữ “thác lộ” là sai! Há có bậc Thiền gia đại triệt đại ngộ nào lại là kẻ lầm đường ư? Bậc đại triệt đại ngộ nhưng chưa thật sự đạt đến địa vị an thân lập mạng, cho nên sợ rằng khi phải qua cửa ải sanh tử chưa chắc đă có thể đích xác làm chủ được. Khi lâm chung sẽ theo nghiệp lưu chuyển, bị các nghiệp thiện hay ác trong nhiều đời ngăn lấp mà thọ sanh, đáng kinh sợ, đáng sợ hăi thay! Thật chẳng bằng cầu Phật tiếp dẫn là ổn thỏa, thích đáng nhất, đáng nương tựa nhất. V́ thế nói: “Ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó”. “Ấm cảnh” ở đây chỉ cho nghiệp cảnh thiện ác từ vô thủy đến nay, chứ không phải là Ngũ Ấm Ma Cảnh. Há bậc Thiền gia đại triệt đại ngộ lại chẳng nhận biết Ngũ Ấm Ma hay sao? Có lẽ ấy hay chăng?

Bài kệ thứ tư: “Không Thiền, không Tịnh Độ” là nói đến những kẻ chẳng biết tu tâm. Đă không có công phu minh tâm kiến tánh, lại chẳng hành tŕ phát nguyện niệm Phật th́ đúng là nguy lắm. Đấy chính là những kẻ tu tâm nhưng chưa khai ngộ, nói chung là hạng tu mù luyện đui, chẳng thể giải thoát. Tuy nhiên, hễ tu th́ có phước báo, không ǵ chẳng phải là nghiệp nhân sanh tử. Phước báo lớn, tạo nghiệp càng sâu. Phước hết, họa tới, tội báo khó trốn khỏi được! Nỗi khổ trong địa ngục há thể nào may mắn tránh khỏi được ư? Sanh tử luân hồi nương tựa vào ai? Do vậy đọc xong bốn bài kệ Liệu Giản này đúng là “mắt ngó tới, ḷng kinh hăi”. Mong mọi người đều biết nỗi khổ sanh tử, phát Bồ Đề tâm. Kẻ không có Tịnh Độ hăy mau mau phát nguyện tu hành, biến thành “có Tịnh Độ”. Kẻ có Tịnh Độ vẫn phải tinh tấn dũng mănh, lấy quyết định sanh về Tây Phương làm điều kỳ vọng. Khẩn yếu lắm đấy!

Mọi người phải hiểu rằng cậy vào tự lực để tu tŕ th́ chính ḿnh sẽ có những loại lực nào? Chỉ là nghiệp lực từ vô thủy đến nay! Do vậy, muôn kiếp ngàn đời khó được giải thoát! Cậy vào hoằng thệ đại nguyện lực của A Di Đà Phật sẽ tự nhiên hoàn thành chỉ trong một đời. Thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Đă đến núi báu, đừng trở về tay không! Lại phải nên biết rằng: Pháp môn Niệm Phật chẳng phải là chuyên dành cho hạng hạ căn mà chính là thích hợp khắp cả ba căn. Bất luận lợi căn, độn căn, thượng trí, hạ ngu, cho đến Đẳng Giác Bồ Tát đều hướng đến pháp môn này th́ sau này mới có thể thành Phật. Do vậy, trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử tham học với khắp các bậc đại thiện tri thức, chứng nhập các môn Đà La Ni trong pháp giới hải hội. Cuối cùng, Phổ Hiền Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Nh́n từ chỗ này, pháp môn Tịnh Độ đúng là pháp môn cao thượng nhất, viên măn nhất. Nếu báng bổ [niệm Phật] là hạnh của bọn ngu phu ngu phụ th́ đúng là báng Phật, báng Pháp, là chủng tử địa ngục! Kẻ chẳng tin Tịnh Độ ngu cuồng đọa lạc, là kẻ đáng thương tột bậc!

Sở dĩ pháp môn Tịnh Độ cao thượng như thế là v́ những giáo lư tu tâm thông thường hoàn toàn cậy vào tự lực, chỉ có Tịnh Độ là kiêm cậy vào Phật lực, là giáo lư đặc biệt, chẳng phải là giáo lư phổ thông. Dùng tầm mắt phổ thông để nh́n giáo lư đặc biệt, tự nhiên sẽ thấy chẳng thỏa đáng! Giáo lư phổ thông cậy vào tự lực giống như tiến thân trên đường công danh, phải lên cao từng bước. Tịnh Độ là giáo lư đặc biệt cậy vào Phật lực, ví như sanh trong cung vua, vừa lọt ḷng mẹ liền là người nối ngôi vua. Sự khó - dễ, cong - thẳng, chẳng cần phải là người trí mới biết được! Tịnh Độ đạo tuy cao quư, nhưng pháp chẳng có lạ lùng, đặc biệt ǵ, chỉ cần tâm thiết tha cầu Phật, tự nhiên sẽ được Phật gia bị. Hăy nên biết rằng: Phật nghĩ nhớ, che chở chúng sanh c̣n hơn cha mẹ yêu con. Do vậy, hễ có cảm ắt có ứng; nhưng Phật tánh thiên chân sẵn có của chúng ta chiếu trời soi đất, hằng cổ, hằng kim, dẫu là kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác, linh quang sẵn có của hắn ta vẫn chẳng giảm một mảy may nào! Nhưng như gương sáng bị bụi phủ, kẻ ngu cho là chẳng có quang minh, trọn chẳng biết lau chùi để trừ trần cấu th́ quang minh lại hiển hiện rành rành.

Do vậy, niệm A Di Đà Phật tức là dùng Phật niệm để thay cho vọng niệm. Đấy chính là phương pháp khử trần cấu tốt nhất. Niệm tới niệm lui không ǵ chẳng nhằm hiển lộ A Di Đà Phật sẵn có trong tự tâm. Tự lẫn tha tương ứng, cảm ứng đạo giao, diệu nghĩa văng sanh không thể nói xuể! Người niệm Phật chỉ cần chí thành khẩn thiết, tâm giống như tâm Phật, hành hạnh giống như hạnh Phật, có một phần cung kính được một phần lợi ích, có một phần kiền thành được một phần thụ dụng. Mong mọi người hăy nỗ lực!

Hiện thời, thế đạo ngày một suy, nhân tâm ngày một hoại, muốn bổ cứu từ căn bản th́ phải chú trọng nơi giáo dục trong gia đ́nh. Trị quốc, b́nh thiên hạ, phải bắt đầu từ tề gia. Do vậy, quyền lực “trị quốc, b́nh thiên hạ” phụ nữ chiếm quá nửa. Phụ nữ chú trọng nơi mẫu giáo (sự dạy dỗ của mẹ), mẹ dạy con noi theo quy củ, tập quen từ thuở bé, lớn lên sẽ thực hiện. Nhân cách tốt đẹp phải được bắt nguồn từ tuổi măng sữa. V́ thế, chức trách, nhiệm vụ “giúp chồng dạy con” của phụ nữ lớn lắm.

Những vị nữ cư sĩ phải biết phụ nữ được gọi là Thái Thái là v́ vào buổi đầu khai quốc của nhà Châu, Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự đều hiền đức tột bậc, là bậc mẫu nghi của thiên hạ. Do vậy, gọi phụ nữ là Thái Thái. Các vị nữ cư sĩ hăy nên biết danh xưng Thái Thái đáng tôn, đáng quư, ai nấy tận hết chức trách bổn phận giúp chồng dạy con để làm cơ bản trị quốc b́nh thiên hạ, ngơ hầu danh xứng với thực. Nói đến chỗ cùng cực của tu tâm th́ vẫn là hai câu: “Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành”. Hai câu ấy đứa trẻ lên ba cũng nói được, nhưng ông lăo tám mươi làm không xong! Người rốt ráo làm được hai câu ấy đă ở vào địa vị chư Phật. Do vậy, mong hết thảy những thiện nam tín nữ tu tâm hăy hết sức chú ư. Ngàn lời vạn lẽ nói chung là “phải tu tâm để liễu sanh tử!” Nếu luận tới chỗ mấu chốt khẩn yếu nhất của tu tâm để liễu sanh tử th́ là “đừng làm các điều ác, vâng hành các điều lành, phát nguyện niệm Phật”. Mong mọi người ghi nhớ mấy ư nghĩa này cẩn thận, chắc chắn sẽ tự nhiên giải quyết xong sanh tử, chứng Phật đạo. Xin hăy gắng lên!

 

7. Pháp ngữ khai thị tại Thế Giới Phật Giáo Cư Sĩ Lâm ngày lễ kỷ niệm đức Thích Ca thành đạo (Cổ Nông tốc kư)

Hôm nay là ngày đức Phật Thích Ca thành đạo mà cũng là ngày chúng ta thành đạo. V́ sao vậy? Vào ngày hôm nay, sau khi đức Phật Thích Ca thành Phật liền v́ chúng sanh nói mọi pháp thành Phật; chúng ta chỉ y theo pháp để tu nhân liền có thể thành tựu Phật quả, chẳng khác ǵ đức Phật Thích Ca. Trong kinh Phạm Vơng, đức Phật đă thọ kư cho chúng ta: “Ta là Phật đă thành, các ông là Phật sẽ thành”. Đại chúng biết ḿnh là “Phật sẽ thành” liền có thể mạnh mẽ gắng sức, chẳng c̣n tự coi rẻ, phụ bạc chính ḿnh nữa, quét sạch hết thảy nghiệp chướng, tích tập hết thảy công đức, trong tương lai thành đạo. Nay đă quyết định, nên nói: “Cũng là chúng ta thành đạo!”

Kinh Pháp Hoa dạy: “Như Lai vốn v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời, muốn làm cho chúng sanh khai Phật tri kiến, thị Phật tri kiến, ngộ Phật tri kiến, nhập Phật tri kiến”. Có nghĩa làđức Phật đă nói ra mọi pháp môn không ǵ chẳng nhắm tới mục đích muốn làm cho chúng sanh được thành Phật”. Nhưng v́ chúng sanh căn khí bất nhất: Kẻ căn khí lớn lao bèn tu tập đại pháp, thành Phật ngay trong đời hiện tại; kẻ căn khí nhỏ nhoi chẳng thể tu đại pháp, đức Phật bèn lập phương tiện, dạy họ Tiệm Tu (tu dần dần theo từng bước). Tuy vẫn có người có thể liễu sanh tử ngay trong đời hiện tại, nhưng hết sức ít ỏi. Do ḷng đại từ đại bi, ngoài hết thảy các pháp môn cậy vào tự lực, đức Phật lập nên một pháp môn cậy vào Phật lực, tức là pháp môn dạy chúng sanh “niệm Phật văng sanh Tịnh Độ”. Do vậy, bất luận căn khí lớn hay nhỏ đều được cậy vào Phật lực để liễu sanh thoát tử; đại sự nhân duyên của đức Phật ta cũng nhờ vào đây mà được viên măn.

Hiện thời, chúng ta thọ mạng ngắn ngủi, trí huệ lại ít ỏi, hăy đều nên nương theo pháp môn Niệm Phật để tu tŕ ḥng văng sanh Tây Phương. Chớ nên tự đại, coi Tây Phương chẳng đáng để sanh về, khinh rẻ pháp môn Niệm Phật! Cần biết rằng: Niệm Phật tức là tâm quư vị là Phật. Nếu không niệm Phật, tâm quư vị chẳng phải là Phật! Quán kinh dạy: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Nếu ai không niệm Phật th́ vẫn chẳng thể vô niệm được! Đă không thể vô niệm mà lại chẳng niệm Phật, ắt sẽ niệm lục phàm, vọng tưởng điên đảo đều thành cội rễ sanh tử. Do vậy, phải nên niệm Phật. Đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng ĺa niệm ấy. Niệm tới, niệm lui, niệm đến khi cái gốc sanh tử bị cắt đứt; lúc tới Tây Phương sẽ là Thượng Phẩm Thượng Sanh.

Các tông thuộc bên Giáo, tánh - tướng, giáo - lư tinh vi, sâu xa, mênh mông, rộng lớn, chẳng dễ ǵ nghiên cứu. Dẫu có ai có thể nghiên cứu đi nữa th́ cũng chỉ là [thấu hiểu] đạo lư nơi mặt ngôn ngữ, văn tự, chứ chưa phải là [thấu triệt] đạo lư nơi tâm tánh! Muốn thấu triệt rốt đạo lư nơi tâm tánh th́ hết sức ít người làm được như thế! Đấy chính là pháp môn cậy vào tự lực. Trong nhà Thiền hoặc bên Mật Tông, lư phần nhiều mầu nhiệm, nhưng kẻ nào căn cơ cạn mỏng sẽ chẳng thể lănh ngộ được! Dụng công bên Tông th́ tuy “đại triệt, đại ngộ, minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật” vẫn mới chỉ là bước đầu trong cửa Thiền! Đă ngộ rồi lại c̣n phải tu đạo, rộng hành lục độ vạn hạnh, đoạn trừ tập khí phiền năo trong hết thảy cảnh. Dụng công bên Giáo th́ trước hết phải đại khai viên giải, giống như triệt ngộ bên Tông. Đă khai ngộ rồi, cũng phải rộng hành phương tiện, đoạn trừ tập khí phiền năo, hết sức khó khăn!

Pháp môn Niệm Phật là đới nghiệp văng sanh. Sau khi văng sanh liền chẳng thoái chuyển, thọ mạng vô lượng, thành tựu ngay trong một đời. Những kẻ tu Thiền Tông đă triệt ngộ mà niệm Phật văng sanh th́ cố nhiên sẽ là Thượng Phẩm Thượng Sanh, chứng địa vị Bồ Tát, liền có thể hóa thân trong [những thế giới ở các] phương khác để làm Phật sự trọn khắp. Nếu chẳng niệm Phật văng sanh, hễ chưa đoạn trừ được tập khí phiền năo th́ vẫn chẳng thể liễu sanh thoát tử. [Do vậy] chẳng bằng pháp môn Niệm Phật, bất luận ngộ hay không, dẫu c̣n chưa đoạn được tập khí phiền năo, chỉ cần được văng sanh là đă liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh! Kẻ tu Mật Tông “tam mật tương ứng, thành Phật ngay trong thân này” nếu chẳng khéo dụng tâm sẽ dễ bị ma dựa. Dẫu khéo dụng tâm, tu pháp môn [Mật Tông] này sẽ liền cách biệt với các pháp môn khác, chẳng bằng tu pháp môn Tịnh Độ phần nhiều chẳng gây trở ngại ǵ cho các pháp môn khác. V́ thế, kẻ tu Mật Tông nếu đạt được lợi ích th́ cố nhiên là tốt đẹp, nhưng nếu bị ma dựa sẽ trở thành hạng bỏ đi!

Đạo Phật ta có vô lượng pháp môn, nhưng nói chung phải lượng theo thân phận của chính ḿnh, chọn lựa pháp [thích hợp với căn cơ của chính ḿnh] để tu, đừng để đến nỗi “cầu được lợi ích, đâm ra bị hao tổn!” Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn thường được mười phương chư Phật dùng để hạ hóa chúng sanh, chư đại Bồ Tát dùng để thượng cầu Phật đạo. Căn cơ không phân biệt đại hay tiểu đều tu tŕ được. Có tiện nghi lớn lao, tu tập nhanh chóng! Đừng nghe ai nói pháp nào bèn tu theo pháp đấy. Hôm nay Trương Tam, bữa mai Lư Tứ. Ngoài cửa miệng nói đến nỗi hoa trời rơi tán loạn, nhưng chẳng có mảy may nào hữu ích cho tâm địa! Do vậy, từ xưa tới nay các vị đại pháp sư, đại tông sư, không vị nào chẳng đề xướng pháp môn Tịnh Độ. Có vị nào không đề xướng là v́ không hiểu biết pháp môn rộng lớn này vậy!

Nay hăy thử nói, chỉ có pháp môn này là “trước khi chưa thành Phật th́ cậy vào pháp này để tự tu; sau khi đă thành Phật rồi th́ nhờ vào đó để độ đời”. Thích hợp khắp ba căn, giúp ích cho cả phàm lẫn thánh, trên đến bậc Đẳng Giác Bồ Tát, dưới đến chủng tử A Tỳ, cao th́ chẳng thể vượt khỏi pháp này, hèn th́ cũng được dự vào trong ấy, rộng lớn viên măn, không c̣n ǵ hơn được nữa! Để chứng minh, hăy nh́n vào kinh Hoa Nghiêm: Thiện Tài Bồ Tát đi qua một trăm thành, tham học với khắp các tri thức. Trong lần tham học thứ năm mươi ba, tới chỗ Phổ Hiền Bồ Tát. Khi ấy Thiện Tài đă chứng được địa vị Đẳng Giác bằng với chư Phật, nhưng Phổ Hiền sau khi khen ngợi công đức thù thắng của Như Lai xong, đối trước Thiện Tài và các vị Pháp Thân đại sĩ thuộc bốn mươi mốt địa vị trong hội Hoa Nghiêm, dạy họ hăy rộng phát mười đại nguyện vương, dùng công đức ấy để hồi hướng văng sanh Cực Lạc thế giới. Ấy là v́ bỏ pháp này đi th́ sẽ không có cách nào để thành tựu Phật quả viên măn được! [Trong hội Hoa Nghiêm], những vị nghe pháp ấy, [địa vị của họ] thấp nhất cũng là Sơ Phát Tâm Bồ Tát. Công đức do tu mười đại nguyện vương ấy đều phải đem hồi hướng văng sanh Tây Phương th́ mới có thể tấn tu tốt đẹp được.

Hơn nữa, lấy chương Hạ Phẩm Hạ Sanh trong Thập Lục Quán Kinh để làm chứng th́ kẻ căn tánh kém hèn Ngũ Nghịch lúc lâm chung, tướng địa ngục hiện, gặp thiện tri thức dạy niệm Phật, bèn cậy vào nguyện lực của Phật để diệt tội văng sanh, liền được liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Pháp môn Tịnh Độ thần diệu khó thể nghĩ tưởng! Nếu là người tin tưởng pháp này đến cùng cực rồi tu tập pháp môn này, dẫu vạn con trâu cũng không thể kéo lại được! Nhưng tu pháp môn Niệm Phật này muốn sanh về Tây Phương, phải vâng giữ “tu thiện, đoạn ác” nơi ba nghiệp thân - miệng - ư th́ đức hạnh mới hợp với Phật, lâm chung tự nhiên cảm Phật đến nghênh tiếp; v́ thế gọi là “tịnh nghiệp”. Hễ tịnh được nghiệp th́ tâm sẽ tịnh, tâm đă tịnh sẽ tự cảm thông dễ dàng. Thập Lục Quán Kinh coi “hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết, tu Thập Thiện Nghiệp” là Tịnh nghiệp chánh nhân. V́ sao vậy? Đấy là cách cất nhà phải xây móng cho chắc chắn! Nếu nền móng không chắc chắn, tuy xây nhà cho cao, chẳng khỏi bị sụp đổ!

Muốn sanh về Tây Phương th́ cần phải làm người tốt. Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành. Hai câu ấy nếu nh́n từ mặt chữ sẽ thấy sao mà dễ dàng đến thế! Nhưng xét trên thực tế, Cừ Bá Ngọc tṛn năm mươi tuổi mới biết bốn mươi chín năm trước sai trái, bảo: “Phu tử dục quả kỳ quá, nhi vị năng dă” (Phu tử muốn giảm bớt lỗi, nhưng chưa thể làm được). Khổng Tử đọc kinh Dịch, ba lần đứt dây buộc lề sách, nói: “Giả ngă sổ niên, tốt dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hỹ” (Cho ta sống thêm mấy năm để học Dịch cho xong, ḥng không phạm lỗi lớn vậy). Dù hiền hay thánh đều không thể gánh vác nổi hai câu ấy.

Xưa kia, ông Bạch Cư Dị làm Thái Thú Hàng Châu, tới yết kiến Ô Khoa thiền sư, hỏi: “Thế nào đại ư của Phật pháp?” Sư đáp: “Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành”. Chữ “ác” ấy bao trùm thân - miệng - ư, bốn mươi mốt phẩm vô minh. Bậc Đẳng Giác đại sĩ hễ c̣n có một phần vô minh chưa phá được th́ tam đức chẳng trọn vẹn, tức vẫn là ác! Hơn nữa, chín pháp giới đều là ác, [chỉ có] Phật pháp giới mới là thiện. Do vậy hai câu này chính là đại ư của Phật pháp. Ông Bạch Cư Dị nói: “Hai câu ấy đứa trẻ lên ba cũng nói được!” Sư đáp: “Ông lăo tám mươi tuổi làm không xong!” Đấy chính là tổng giới luật, hễ tu được [tổng giới luật này] th́ hết thảy giới luật đều tu được! Những người đă làm được như thế lại c̣n niệm Phật th́ chưa có ai chẳng văng sanh Tây Phương.

Hôm nay các vị ăn cháo Lạp Bát là v́ những nhân duyên nào? Cần biết rằng: Đấy chính là ư nghĩa kính mừng ngày Phật thành đạo vậy. Nhưng v́ sao phải ăn vào buổi chiều? V́ sao vậy? Do v́ trước khi thành đạo, đức Phật đă dùng Nhũ Mi. Vốn là v́ trước khi thành đạo, đức Phật Thích Ca là Thái Tử Tất Đạt Đa (Siddhārtha), mười chín tuổi xuất gia, tu tập các pháp Thiền thế gian suốt năm năm, biết đấy chẳng phải là rốt ráo, bèn vào núi Tuyết (Hy Mă Lạp Sơn), tư duy Phật đạo. Sáu năm khổ hạnh, mỗi ngày ăn một hạt mè, hoặc một hạt lúa mạch, đến nỗi h́nh dung khô kháo, gầy ṃn chẳng kham. Ra khỏi núi, tới tắm trong sông Ni Liên Thiền, vịn cành cây bước lên, thân không có sức gượng được nữa. Khi ấy, chư thiên biết Thái Tử Tất Đạt Đa sắp tới Bồ Đề Đạo Tràng thành đạo, Phật cần phải có tướng hảo trang nghiêm, bèn hóa thành cô gái chăn ḅ dâng lên Phật loại Nhũ Mi nấu với sữa đă được luyện chín lần.

Thế nào là Nhũ Mi nấu với sữa đă được luyện chín lần? Đấy là trước hết vắt sữa của một ngàn con ḅ cho năm trăm con ḅ khác uống. Tiếp đó vắt sữa của năm trăm con ḅ ấy cho hai trăm năm mươi con ḅ khác uống. Rồi lại vắt sữa của hai trăm năm mươi con ḅ ấy cho một trăm hai mươi con ḅ khác uống. Rồi lại vắt sữa của một trăm hai mươi con ḅ ấy cho sáu mươi con ḅ khác uống. Rồi lại vắt sữa của sáu mươi con ḅ ấy cho ba mươi con ḅ khác uống. Rồi lại vắt sữa của ba mươi con ḅ ấy cho mười lăm con ḅ khác uống. Rồi lại vắt sữa của mười lăm con ḅ ấy cho tám con ḅ khác uống. Cuối cùng đem sữa của tám con ḅ ấy ḥa với gạo thơm, nấu thành Nhũ Mi. Thái Tử ăn món Nhũ Mi ấy, h́nh thể khôi phục như cũ, tướng hảo viên măn, bèn đến dưới cội Bồ Đề, ngồi đoan nghiêm tư duy, đoạn sạch phiền năo. Vào lúc sao Mai vừa mọc nhằm ngày Tám tháng Chạp, đức Phật trông thấy sao Mai bèn hoát nhiên đại ngộ, tâm kính mở toang, rạng ngời, đắc Chánh Đẳng Giác. Đấy chính là chuyện đức Phật thành đạo vào đúng ngày hôm nay.

Cháo Lạp Bát chính là phỏng theo Nhũ Mi; đức Phật dùng Nhũ Mi rồi thành Phật đạo. Bọn chúng ta liền ăn cháo Lạp Bát để mừng Phật thành đạo, nhân duyên là như vậy đó. Do vậy, Tây Vực coi Nhũ Mi là phẩm vật dâng cúng quư trọng nhất. Khi đức Phật c̣n tại thế, phần nhiều [tín đồ] đem sữa cúng Phật. Tới khi đức Phật đă diệt độ rồi, có một vị cư sĩ dùng thuần sữa để nấu thành cháo cúng dường một vị đại đức, đại đức ăn xong liền than thở. Vị cư sĩ hỏi nguyên do, đại đức nói: “Cháo của cư sĩ tuy thật ngon lành, nhưng vị chẳng thể bằng uống nước lă khi đức Phật c̣n tại thế. Do ta phước bạc, chúng sanh báo kém, cho nên than thở!” Đức Phật phước đức sâu dày, [thời đức Phật c̣n tại thế] nước c̣n có vị ngon hơn sữa; [c̣n ngày nay] chúng sanh bạc phước, sữa chẳng bằng nước! Chúng sanh đời Mạt càng bạc phước hơn nữa! Đừng nghĩ tưởng làm chuyện vượt phận!

Pháp môn Niệm Phật mọi người đều nên tu tŕ, hăy nên cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng kính trọng vợ, vợ phục tùng chồng. Là hiền nhân trong cơi đời, là đệ tử Phật trong đạo xuất thế. Dùng những điều ấy để dạy người, phải rất chú trọng lấy thân làm gương th́ mới có thể làm cho người khác sanh ḷng tin. Ấy gọi là “dùng lời lẽ để dạy sẽ bị tranh căi; dùng thân để dạy mọi người sẽ thuận theo”. Bất luận tại gia hay xuất gia đều phải nên như thế, đừng nên bàn huyền nói diệu. Dẫu có thể bàn nói th́ cũng phải giẫm chân trên Thật Tế. Chỉ có thể bàn nói, chứ không hưởng dùng được th́ cũng giống như bánh vẽ, chẳng thể đỡ đói được đâu! Tu Phật pháp giống như ăn, phải không đói mới hay! Trong Tịnh Độ Thi của thiền sư Sở Thạch đời Minh có đoạn:

 

Tây Phương hữu lộ thiểu nhân đăng

Nhất cú Di Đà tối thượng thặng

Bả thủ lao tha, hành bất đắc,

Đản đương tự khẳng năi tương ưng

(Tây Phương có nẻo nào ai bước,

Di Đà thánh hiệu tối thượng thừa,

Nắm tay lôi đi chẳng chịu theo,

Riêng ai tự chịu mới đi được)

 

8. Pháp ngữ khai thị nhân thánh đản đức Phật Thích Ca tại Thế Giới Phật Giáo Cư Sĩ Lâm (Hy Giác tốc kư)

Thưa chư vị! Ngày hôm nay đức Phật Thích Ca đản sanh. V́ sao đức Phật giáng sanh trong nhân gian? Không điều ǵ chẳng nhằm nêu gương cho chúng sanh trong đời Mạt. Kinh Pháp Hoa dạy: “Đức Phật v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong thế gian”. Đại sự chính là khai - thị - ngộ - nhập tri kiến Phật. Chúng sanh vốn có Phật tánh, nhưng đă bị mê mất bởi nghiệp, cho nên dùng Giới - Định - Huệ tu tŕ để quay trở lại cái sẵn có. Nhưng chúng sanh căn cơ bất nhất, pháp môn liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh chẳng dễ tu tŕ, chúng sanh chưa dễ ǵ đảm đương được! Do vậy, lại đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Độ.

Pháp môn Tịnh Độ đơn giản nhất, dễ dàng nhất, thích hợp khắp ba căn, thâu tóm trọn vẹn lợi căn lẫn độn căn. Ấy là v́ dùng một pháp Niệm Phật cũng có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Cần biết rằng: Pháp môn Tịnh Độ lớn lao, không ǵ ra ngoài phạm vi của nó được, là chỗ quy túc của hết thảy pháp môn. Hành giả chớ tưởng ḿnh đă triệt ngộ th́ không cần phải nương vào pháp môn này để tu tập; nếu vậy, sợ rằng nói đến chuyện liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh sẽ chẳng dễ dàng đâu!

Người niệm Phật phải sanh ḷng tin, phát nguyện, tŕ danh hiệu Phật, nguyện sanh Tây Phương, không có lư nào ĺa bỏ ba món Tín - Nguyện - Hạnh được! Chỉ cần ḷng tin sâu đậm, nguyện thiết tha, chẳng cần phải đạt đến nhất tâm bất loạn, đều có thể nương theo oai lực tiếp dẫn của đức Phật văng sanh Tây Phương. Nếu là bậc đại triệt đại ngộ mà lại c̣n niệm Phật th́ chắc chắn sẽ được Phật tiếp dẫn, phẩm vị càng cao hơn.

Tham Thiền chỉ quan tâm dạy người tham phải chú trọng vào khai ngộ; nhưng khai ngộ rồi, nếu đoạn sạch được phiền năo th́ tốt. Nếu không, sợ rằng chưa dễ ǵ nói đến chuyện liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh đâu nhé! Lại có kẻ tŕ chú nói “thành Phật ngay trong thân hiện tại!” Nhưng “thành Phật ngay trong thân hiện tại” bất quá chỉ là có thể thấy được vị Phật nơi tự tánh, chứ hoàn toàn chưa chứng được quả vị Phật! Kẻ tŕ chú chẳng hiểu giáo lư, chẳng trọng giới hạnh, chỉ mong đắc thần thông. Do cái tâm dũng mănh ấy sẽ khiến cho oán thân trong bao kiếp nhiều đời hiện tiền, dễ dàng bị ma dựa! Nếu dùng cái tâm như thế để tiêu trừ tội chướng, giúp sức cho việc tu tŕ, vẫn cần phải niệm Phật th́ may ra mới có cảnh giới tốt đẹp được!

Hơn nữa, người tu hành chớ nên chưa đắc đă nói là đắc, chưa chứng bảo là chứng. Đấy là phạm vào giới đại vọng ngữ, tuyệt đối chớ nên phạm! Xưa kia có cư sĩ X… nói đă đắc quả A La Hán, có người hỏi: “Đă đắc quả sao không hiện một chút thần thông biến hóa?” Nhưng rốt cuộc hắn ta chẳng thể làm được, mà phiền năo cũng trọn chẳng thể trừ được! Há có bậc La Hán nào chẳng trừ được phiền năo ư? Chư vị đừng coi rẻ pháp môn Niệm Phật! Quán Âm, Thế Chí đều là cổ Phật thị hiện, Văn Thù, Phổ Hiền là đại Bồ Tát vẫn cầu sanh Tịnh Độ. Lũ phàm phu bọn ta há nên coi rẻ? Pháp môn Niệm Phật là biển cả của hết thảy pháp môn, chứ những pháp môn khác giống như ng̣i, rạch nhỏ nhoi, chẳng thể nào sánh bằng được đâu! Chư vị phải thật sự v́ sanh tử, phát Bồ Đề tâm. Người đời học Phật thường chẳng chân thật. Họ [mong muốn] hiểu thông suốt kinh điển, nghiên cứu, t́m ṭi, học hiểu nghĩa lư, chẳng qua chỉ nhằm mong trở thành đại thông gia mà thôi. Bậc đại thông gia đoạn được một tầng phiền hoặc, sợ chẳng dễ dàng đâu! Hiện thời, pháp sư Đế Nhàn đang giảng Triệt Ngộ Thiền Sư Ngữ Lục tại Giác Viên Tịnh Nghiệp Xă, chư vị nên thường xuyên đến đấy nghe. Đối với pháp tŕ chú của Mật Tông, Ấn Quang trộm nghĩ là nên nhờ vào đấy để tiêu trừ tội nghiệp, đừng nên lầm lạc cầu thần thông! Kính mong mọi người hăy lưu ư, tiếp nhận lời hèn của nạp tăng, phát tâm niệm Phật. Cổ nhân đă nói: “Nắm tay lôi theo, đi chẳng được!” Phải nhờ người khác lôi kéo th́ phi lư quá! Mong chư vị ai nấy đă sẵn có Phật tâm th́ hăy thật thà niệm Phật!

 

9. Khai thị về Niệm Phật tại chùa Pháp Tạng, Thượng Hải (Mă Khế Tây ghi)

Pháp môn Niệm Phật lớn lao không ǵ ra ngoài phạm vi của nó được, chí viên, chí đốn, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, nhưng cần phải hiểu rơ ràng nguyên do. Hễ hiểu rơ lư th́ sanh ḷng tin phát nguyện không ai chẳng được lợi ích. Nếu không, sẽ bị các thứ cảnh giới khác xoay chuyển, chẳng thể sanh ḷng tin chân thật, phát nguyện thiết tha. Dù có công phu niệm Phật cũng chẳng thể đạt được lợi ích nơi Phật. Các pháp môn do đức Phật nói đều phải cậy vào tự lực để văng sanh, cần phải nghiệp tận t́nh không. Nếu không, sợ rằng sẽ vất vả gian nan lắm đấy! Nếu đă có thể nghiệp tận t́nh không, lại c̣n có thêm công phu niệm Phật, ắt sẽ Thượng Phẩm Thượng Sanh, sẽ có cùng một khả năng như Quán Âm Đại Sĩ “nên dùng thân nào để độ bèn hiện thân ấy để thuyết pháp”.

Nếu chưa đạt đến mức nghiệp tận t́nh không, chẳng thà cứ chất phác niệm Phật, chẳng ôm ḷng khinh mạn, chẳng suy đoán bằng ư thức th́ khi lâm chung mới mong được cảm ứng đạo giao. Ấy là v́ pháp môn Niệm Phật hoàn toàn cậy vào Phật lực, chẳng như những môn khác đều là tự lực. So sánh giữa Phật lực và tự lực th́ có khác ǵ sự cách biệt giữa bầu trời và mặt đất! Do vậy, từ xa xưa ngu phu ngu phụ thật thà niệm Phật đa số văng sanh, nhưng bậc thông Tông thông Giáo phần nhiều chẳng thể khoác tay họ [ngao du trong cơi Cực Lạc] được! Thật đáng tiếc thay! Người tu hành cần phải biết Sa Bà khổ, Cực Lạc vui, phải nguyện ĺa Sa Bà khổ, nguyện được Cực Lạc vui, chớ nên cầu phước báo trời người. Ví như đang ở trong tù ngục mong được về quê hương. Nhưng thế giới Sa Bà chính là một nhà tù lớn, thế giới Cực Lạc mới là quê nhà tốt lành.

 

Cổ nhân có thơ như sau:

Tự thị bất quy, quy tiện đắc,

Cố hương phong nguyệt hữu thùy tranh?

(Tự chẳng muốn về, về liền được!

Gió trăng quê cũ, há ai giành?)

 

Các vị nếu nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ có ai tranh giành Tây Phương với ḿnh đâu nhỉ? Muốn trở về quê nhà, chớ nên do dự bảo “hăy đợi mấy năm nữa” th́ sẽ chẳng thể tương ứng với Phật được đâu! Chí thành khẩn thiết tới mức “ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha” th́ chính là chủng tử Tây Phương, bởi lẽ một môn Tịnh Độ lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm tông, như ba chân của cái đỉnh, thiếu một chẳng thể được! Nếu chuyên đề cao hành tŕ chẳng coi trọng tín - nguyện th́ sẽ chấp Sự, phế Lư, vẫn thuộc vào pháp môn tự lực, mắc cùng một khuyết điểm giống như kẻ chấp Lư phế Sự, chuyên cậy vào tự tánh duy tâm, chẳng cậy vào Phật lực! Do vậy, đại sư Ngẫu Ích nói: “Được văng sanh hay không hoàn toàn do có tín nguyện hay không? Phẩm vị cao hay thấp hoàn toàn là do tŕ danh sâu hay cạn”. Lời luận định ấy sát sao thay! Chẳng thể không biết vậy!

Trong những lời thuyết pháp của cổ nhân, giảng giải tới mức cùng tận không bờ mé th́ chỉ có bài Tứ Liệu Giản của ngài Vĩnh Minh quả thật đă chỉ ra một con đường thênh thang cho chúng sanh đời Mạt trở về quê nhà. Xin tŕnh bày đại lược:

 

Có Thiền có Tịnh Độ,

Ví như cọp đội sừng,

Đời này làm thầy người,

Đời sau làm Phật, Tổ.

 

Hai chữ Thiền - Tịnh ở đây cần phải phân biệt cho minh bạch! Cần nhất là phải biết thế nào là có Thiền, thế nào là có Tịnh Độ! Người đời thường tưởng khán thoại đầu, tham cứu câu “người niệm Phật là ai” là “có Thiền”, c̣n chấp tŕ danh hiệu là “có Tịnh”. Sai rồi! Thiền tức là Chân Như Phật Tánh sẵn có, tức tâm thể thuần chân của chúng ta, tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, vừa Tịch, vừa Chiếu, không Năng, không Sở, đấy chính là cái được Tông môn gọi là “bản lai diện mục trước khi được cha mẹ sanh ra”! Tịnh là tín nguyện tŕ danh, cầu sanh Tây Phương, chứ không phải chỉ là “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”. “Có Thiền” là phải đổ công tận lực tham cứu sâu xa tới mức sơn cùng, thủy tận, niệm cực, t́nh vong! Một mai thấy thấu suốt bản lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra, hăm ḿnh vào nơi đất chết t́m ra lẽ sống th́ mới đáng gọi là “có Thiền”. “Có Tịnh” là phải thật sự v́ sanh tử, phát Bồ Đề tâm, thượng hoằng, hạ hóa, tự lợi, lợi tha không hề phải hổ thẹn. Nếu người ấy triệt ngộ Thiền Tông, minh tâm kiến tánh, biết trọn đủ các pháp môn Quyền, Thật của Như Lai, nhưng chỉ lấy “tín nguyện niệm Phật” làm đường lối chung cho Chánh Hạnh th́ tà đạo sẽ bặt dấu, ma vương, ngoại đạo vỡ mật, như hổ mọc sừng, oai mănh không ǵ địch lại được, thượng - trung - hạ căn đều được lợi ích, chẳng phải là bậc đạo sư của trời - người hay sao? Trong tương lai Thượng Phẩm Thượng Sanh, chứng tới bậc Đẳng Giác trong Viên Giáo, há chẳng phải là đời sau sẽ làm Phật, làm Tổ ư?

 

Không Thiền, có Tịnh Độ,

Vạn tu, vạn người về,

Nếu được thấy Di Đà,

Lo chi không khai ngộ.

 

Người ấy tuy chưa minh tâm kiến tánh, nhưng do quyết chí cầu sanh Tây Phương nên dũng mănh tinh tấn, cũng được Phật tiếp dẫn, chứng các quả vị. Trong số những người đạt đến quả vị, không ai chẳng đại triệt đại ngộ. Do vậy nói: “Nếu được thấy Di Đà, lo chi không khai ngộ”. A Di Đà Phật đại từ đại bi có bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng độ sanh. Không chỉ bậc thượng thiện xưng danh liền có thể văng sanh, ngay cả Ngũ Nghịch, Thập Ác nếu khởi ḷng hổ thẹn lớn lao, phơi bày sám hối, bất luận một niệm hay mười niệm, ắt Phật cũng nhiếp thọ. Mưa đúng thời thấm đẫm các vật; muôn vật không vật nào chẳng được thấm ướt, lợi ích. Biển cả dung nạp các sông, dẫu trăm sông [đổ vào biển, biển] cũng đều dung nạp trọn. Vạn người tu, vạn người về, quả là sự thật không sai!

Có Thiền, không Tịnh Độ,

Mười kẻ, chín chần chừ,

Ấm cảnh nếu hiện tiền,

Chớp mắt đi theo nó.

 

Đây là nói về kẻ tham Thiền nhưng chẳng niệm Phật. “Thiền” [ở đây] là tuy đă minh tâm kiến tánh, nhưng nếu Kiến Tư phiền năo c̣n có chút nào chưa trừ th́ vẫn luân hồi trong lục đạo y như cũ, không thoát ra được! Biển sanh tử sâu thẳm, đường Bồ Đề xa vời, chùng ch́nh giữa đường, chần chừ, dây dưa. V́ thế nói: “Thập nhân, cửu tha lộ” (Mười kẻ, chín chần chừ). “Tha” () là “tha đà” (蹉跎), nói theo cách thông thường là chần chừ. “Ấm cảnh” chính là cảnh Trung Ấm Thân khi mạng chung mới hiện ra, đều tùy theo nghiệp lực thiện hay ác chi phối mà thọ sanh trong đường lành hay nẻo ác. Ngũ Tổ Giới, Thảo Đường Thanh, Chân Như Triết đều là những vết xe đổ trước đây. Sở ngộ và kiến địa của ba vị ấy cao siêu như thế mà vẫn chẳng khỏi mê mờ, cần chi phải bàn tới lũ phàm phu chúng ta nữa đây! Chữ “miết nhĩ” (瞥爾) [trong câu “miết nhĩ tùy tha khứ” (chớp mắt đi theo nó)] là một cái chớp mắt, ví cho sự nhanh chóng. Có người hiểu chữ “Ấm cảnh” chỉ cho cảnh Ngũ Ấm Ma; có kẻ giải thích chữ “tha lộ” là lầm đường, đều sai hết! Há có ai triệt ngộ Thiền Tông, hiểu sâu giáo lư lại chẳng hiểu cảnh giới Ngũ Ấm để rồi lạc đường hay chăng? Điều này quan hệ rất lớn, chẳng thể không biết!

 

Không Thiền, không Tịnh Độ,

Giường sắt với cột đồng,

Vạn kiếp lẫn ngàn đời,

Không có người nương tựa.

 

Người đời hờ hững, hời hợt, chẳng thật sự nỗ lực tham cứu, chẳng có ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, hoặc lại c̣n kiêm tu các môn khác đều đáng gọi là “Không Thiền, không Tịnh Độ”. Tuy cảm được phước báo trong đời sau, nhưng do phước tạo nghiệp, do nghiệp đọa địa ngục. Giường sắt, cột đồng, không người nương tựa, tuy có Phật lực cũng chẳng làm sao được! Triệt Lưu đại sư nói: “Người tu hành chẳng liễu sanh tử là sự oán trong đời thứ ba”, đáng sợ thay!

Vĩnh Minh thiền sư chính là hóa thân của A Di Đà Phật. Tất cả những câu kệ đề xướng niệm Phật [của Ngài] đều là khế cơ lẫn khế lư. Bốn bài Liệu Giản này đúng là bài cảnh sách vô thượng cho người tham Thiền lẫn tu Tịnh. Tuy hạn cuộc trong âm vận của lời kệ, lời lẽ ngắn gọn, ư châu đáo, lại càng chẳng thể thêm vào hay bớt đi một chữ nào được! Người học hăy nên nghiên cứu cặn kẽ! Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt, những pháp môn khác đều là pháp môn thông thường. Tách rời hai pháp này th́ đôi đằng đều có ích, hợp lại th́ đôi bên đều bị hại. Đối với pháp tắc tu tŕ th́ hăy nên nói lời tốt lành, làm chuyện tốt lành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng xướng, vợ theo, ai nấy giữ vẹn luân thường, chẳng trái nghịch pháp thế gian th́ mới đáng gọi là “đệ tử chân thật của đức Phật”. Nếu không, Danh Giáo c̣n chẳng dung, sẽ là tội nhân đối với Như Lai.

Niệm Phật quư tại nhiếp tâm. Ngài Đại Thế Chí nói: Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, nhập tam-ma-địa, ấy là bậc nhất”.

Đủ biết khi niệm hăy nên buông xuống vạn duyên, nhiếp trọn sáu căn, miên miên mật mật, thẳng thừng mà niệm, sẽ có lúc đắc tam-ma. Tam-ma cơi này dịch là Chánh Tu, Chánh Kiến, hoặc dịch là Chánh Định. Trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm, đức Phổ Hiền dùng mười đại nguyện vương khuyên dạy Hoa Tạng hải chúng quay về Cực Lạc. Hoa Nghiêm Hải Chúng đều thuộc địa vị đại Bồ Tát mà vẫn c̣n phải quy hướng văng sanh. Đủ biết [pháp môn Tịnh Độ] như trời che khắp, như đất chở đều, đại địa, núi, sông, vũ trụ, vạn hữu, có ǵ vượt ra ngoài trời đất được chăng? Pháp môn Tịnh Độ nhiếp trọn các pháp môn khác, cũng chẳng khác ǵ! Cơi đời thay đổi, vận số suy vi, người đời Mạt Pháp căn tánh kém hèn, muốn cầu hoát nhiên phá vô minh, đoạn Hoặc, chứng Chân, rất ư là khó! Tự ḿnh chưa độ được mà muốn độ người ta th́ có khác ǵ kẻ chết đuối trong biển lại toan cứu người! Kính khuyên các vị hiền nhân chớ nên ngă mạn, ngạo nghễ, hăy cứ nên tin chân thành, nguyện thiết tha, nương theo từ lực niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ mới nên!

 

VI. Sớ

1. Sớ quyên mộ để chuộc cá, chuyển dời ao phóng sanh từ Tây Hồ [sang nơi khác]

Phàm [kẻ nào] ở trong sanh tử luân hồi sẽ đều phải theo nghiệp thọ sanh. Thoạt là người, lại thoạt biến thành vật. Lúc đang làm người, cậy mạnh hiếp yếu, cậy đông hiếp ít, chẳng biết vun bồi phước cho mai sau, mặc t́nh tạo các ác nghiệp; đến khi phước đời trước đă hết, sát nghiệp đă sâu, khó khỏi đọa trong dị loại: Miệng chẳng nói được, tâm không trí huệ, mưu mẹo, thân không có sức mạnh chống chọi, chỉ đành mặc cho con người mổ, nấu, cắn, nhai. Nhưng xét tới tận cùng cái tâm loài vật th́ ḷng ham sống sợ chết, ư niệm khi gặp nguy hiểm mong được cứu vớt, thảm thê không thể nào diễn tả được! Do vậy, các bậc hiền triết thời cổ phần nhiều yêu tiếc sanh mạng loài vật, chẳng nỡ sát thương. Như Tử Sản nuôi cá, Tương Tử thả chim bồ câu, Tùy Hầu giúp rắn, Dương Bảo cứu chim sẻ. Đấy đều vốn do cái tâm bất nhẫn mà làm chuyện cứu vớt, chứ vẫn chưa biết đến những nghĩa “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, trong vị lai sẽ đều thành Phật và từ vô lượng kiếp đến nay, lần lượt làm cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc” v.v…

Đến khi Phật giáo truyền sang phương Đông, những nghĩa này được tỏa sáng rực rỡ trong cơi đời. Do vậy, những bậc quân tử sẵn ḷng nhân từ nhằm để báo ân, nhằm tránh tai kiếp, đă hết sức chú ư kiêng giết, phóng sanh, tŕ trai, ăn chay. Nhưng đại đa số chưa nghe Phật pháp vẫn quen thói coi đó là thường, mặc t́nh giết chóc nhằm thỏa thích cái miệng. Do bởi lẽ ấy, ươm thành tai kiếp đao binh. Hăy thử nghĩ trong tai kiếp đao binh, con người bị giết chóc có khác ǵ loài vật bị mổ xẻ để cung ứng cho bụng miệng cho mấy? Nếu nghĩ như vậy th́ ư niệm giết thân chúng nó để thỏa thích miệng ta chẳng bị tiêu diệt hay sao? Hơn nữa, ta đă tham sống, há chúng thích chết? Như ta vừa bị cỏ sắc đâm vào ngón tay liền cảm thấy khó thể chịu đựng được; thân chúng nó bị mổ chặt, há lẽ cam ḷng? Tuy sức chẳng thể chống chọi được, không làm cách nào được, nhưng cái tâm oán hận cố kết chẳng thể cởi gỡ được! Đời đời kiếp kiếp ắt sẽ báo thù. Do vậy, bậc hiền triết muốn khiến cho người đời cùng dứt sát nghiệp, ḥng hợp với đạo “dân là đồng bào, loài vật giống như ta” của cha trời mẹ đất, lập đủ mọi cách mua loài vật phóng sanh khiến cho chúng được sống trọn hết tuổi trời.

Cần phải biết hành động này chú trọng nơi cứu người, chứ không phải đơn thuần nhằm cứu vật! V́ [phóng sanh là] nhằm mong người ta trông thấy [người khác] mua [loài vật] phóng sanh sẽ đều chẳng nỡ giết chóc; đă chẳng nỡ giết chóc th́ chẳng kết oán đối, có thể tiêu diệt được sát kiếp trong vị lai, phước thọ trong đời sau sẽ vĩnh viễn tồn tại. Đấy chính là tông chỉ rốt ráo, lợi ích chân thật của phóng sanh vậy. Kẻ chẳng biết thường chê bai phóng sanh lăng phí tiền tài, trọn chẳng có ích lợi ǵ! Hăy thử đặt ḿnh vào trong hoàn cảnh đó th́ kẻ ấy có muốn được người khác thả đi hay là mong bị người khác giết ḿnh để ăn hay chăng?

Từ thời Tống Chân Tông, Tây Hồ ở Hàng Châu đă là ao phóng sanh. Sau đấy, dù có lúc lơ là, nhưng chẳng lâu sau lại được khôi phục. Nay chánh phủ do thấy Tây Hồ quá nhiều cá đến nỗi nước hồ dơ đục, gây trở ngại cho vệ sinh, tính ra lệnh đem bán hết, cho ngư nhân quăng lưới bắt sạch nhằm tạo lợi ích cho dân sinh. Các đại cư sĩ từ thiện ở Hàng Châu, Thượng Hải chẳng nỡ ḷng để cho những con cá được phóng sanh qua các đời lại trở thành thức ăn, đặc biệt phái cư sĩ Tôn Hậu Tại tới Hàng Châu, khẩn cầu chánh phủ cho phép mua lại số cá ấy để chuyển sang chỗ khác th́ đối với hai lẽ vệ sinh và phóng sanh đều được thích nghi. Chính phủ đă chấp thuận cho mua lại số cá ấy với giá tám ngàn đồng, trả tiền thành ba đợt, ngay hôm ấy liền giao ra ba ngàn đồng. Ngày Hai Mươi Chín tháng Hai dương lịch và ngày mồng Mười tháng Tư năm sau, mỗi lần giao hai ngàn năm trăm đồng nữa. Lấy ngày Ba Mươi tháng Sáu làm hạn chót để hoàn tất việc chuyển dời số cá ấy.

Số khoản tiền chánh thức để chuộc cá là tám ngàn đồng, nhưng dời chuyển cho hết số cá từ cái hồ rộng mấy chục khoảnh thật chẳng phải dễ dàng. Phải chuẩn bị rất nhiều thuyền đánh cá, hằng ngày giăng lưới. Lại phải cử người vận chuyển, và mỗi thuyền lại phải có mấy người trông nom, đốc thúc. Chi phí thuê thuyền, vận chuyển ấy và những khoản chi phí ăn uống hằng ngày cũng cần đến mấy ngàn. Khẩn cầu mười phương thiện tín tùy lực, tùy tâm, ai nấy bỏ ra tịnh tài để những con cá đang chờ bị nấu sẽ được sống yên vui, các vị đại cư sĩ được viên thành sở nguyện. Những người có sẵn đủ thiện căn từ đời trước trông thấy hành động tốt lành ấy sẽ đều yêu tiếc sanh mạng loài vật, chẳng nỡ giết hại. Do nhân duyên ấy sẽ tiêu diệt được cơ duyên giết hại, tăng trưởng phong thái nhân từ, công đức ấy làm sao diễn tả được? Ông tăng già Thích Ấn Quang sắp vùi thân nơi ng̣i rănh, kính v́ vô số vô lượng cha mẹ trong quá khứ, chư Phật trong vị lai, chí thành khẩn cầu xin cứu mạng. Nếu được quư vị sáng suốt xét soi th́ chẳng khác ǵ chính Quang được quư vị cứu vớt vậy. Kính cẩn giăi bày.

 

2. Sớ thuật duyên khởi trùng hưng chùa Thọ Lượng ở Cám Châu

Thật Tế lư địa trải trần kiếp chẳng đổi, chẳng dời. Chuyện trong Phật môn tùy theo nhân duyên mà có hưng, có suy. Tuy bỉ cực thái lai thuộc vào vận trời, nhưng sửa cũ xây mới quả thật phải cậy vào sức người. Xưa kia khi đức Thế Tôn sắp nhập Niết Bàn đă đem pháp đạo phó chúc cho quốc vương, đại thần, dạy họ hộ tŕ, lưu thông. Ấy v́ Ngài đă thấy trước đời sau pháp yếu, ma mạnh, nếu không cậy vào hạng vĩ nhân có quyền lực bảo vệ cho b́nh yên, ngăn chặn kẻ khinh lấn th́ tṛng mắt của trời người, huệ mạng của Như Lai chắc sẽ gần như bị diệt mất.

Chùa Thọ Lượng là một đạo tràng cổ đă lâu một ngàn năm trăm năm của Cám Châu. Nhằm thời Tiêu Lương, Pḥng Ngự Sứ là Lô Quang Trù v́ sư Đạo Thành mà dựng chùa này. Thoạt đầu đặt tên là Lô Hưng Diên Thọ, rồi đổi thành Thánh Thọ, đến niên hiệu Tường Phù (1008-1016) đời Tống, vua Chân Tông đặc biệt sắc tứ cho chùa cái tên hiện thời. Trong những đời Nguyên, Minh, Thanh, đời nào cũng có người khiến cho nhà chùa được hưng vượng, đến thời Quang Tự nhà Thanh, đột nhiên bị hỏa hoạn. Năm Dân Quốc thứ 4 (1915), lại bị lụt lớn, đến nỗi ngôi chùa Phật trang nghiêm trọn thành g̣ hoang, chỉ có ḿnh tượng Quán Âm cao một trượng sáu đúc bằng sắt là c̣n nguyên vẹn không bị hư hại. Những vị thân sĩ trong vùng thỉnh ḥa thượng Đại Xuân chùa Quang Hiếu kiêm nhiệm Trụ Tŕ. Ḥa Thượng bèn cùng với đại sư Đức Sâm – là vị Tăng trụ ở đấy – cạn sức lo liệu, dựng Quán Âm Điện.

Sau này, cụ Đại Xuân qua đời, thầy Đức Sâm rời đất Cám, t́m vị Tăng kế nhiệm Trụ Tŕ không ra, đến nỗi ṭa thị chánh coi là đất bỏ hoang, tính sửa thành chợ bán rau, mở đường sá. Những hàng Tăng - tục trong vùng báo cho thầy Đức Sâm biết, do vậy thầy bèn gởi thư đến những bậc tai to mặt lớn các giới lần lượt thỉnh cầu bảo vệ. Trung Quốc Phật Giáo Hội cũng lại gởi điện xin duy tŕ, mặt khác tuyển chọn người thỏa đáng sang đấy trước để trù tính, hoạch định chuyện trùng hưng ngôi chùa nhằm băi bỏ đề nghị trước đây [của chánh phủ], lại c̣n dốc sức đảm nhiệm hộ tŕ cho chùa mau được khôi phục. Những vị quan viên, thân sĩ trong vùng như ông Lưu Cấp Phủ v.v… tận lực đảm nhiệm vai tṛ trung gian và nguyện làm hậu thuẫn giúp cho ngôi chùa được khôi phục. Ấy là v́ pháp đạo được hưng thịnh đều do có nhân duyên, chẳng do trải qua cơn sóng gió này th́ ngôi chùa này sẽ gần như biến mất.

 

Chỉ v́ hiện thời đang nhằm thuở Mạt Pháp, căn tánh con người kém hèn, nếu không cậy vào sức đại thệ nguyện của Phật Di Đà để văng sanh Tây Phương th́ ai có thể đoạn sạch Phiền Hoặc, liễu sanh thoát tử ngay trong đời này? Do vậy, khôi phục lần này, [nhà chùa] sẽ chuyên tu pháp môn Tịnh Độ và lập thêm Cư Sĩ Lâm, lưu thông xứ (pḥng phát hành kinh sách) để các nhân sĩ trong vùng đều biết đạo trọng yếu ḥng thoát Ngũ Trược lên chín phẩm và biết quy củ tốt lành để giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, biết nhân quả, tu tŕ cẩn thận. Như thế th́ do Liên Xă được mở mang mà tông phong chấn hưng, lễ giáo hưng khởi, vận nước tốt đẹp, sáng sủa, ngơ hầu xứng với ư nghĩa lập chùa đặt tên của cổ nhân, cũng như để an ủi một phen nhiệt tâm bảo vệ duy tŕ của các vị quân tử.

 

Nhưng do nhà chùa không có hằng sản, Tăng không tích trữ, bèn cậy Bất Huệ thay mặt viết lời sớ dẫn giải ḥng khẩn cầu các vị đại hộ pháp và các vị thiện tín phát tâm Bồ Đề, hành phương tiện sự, chở vàng, tải gạo, xoay vần khuyên bảo quyên mộ, khiến cho điện báu thênh thang sớm có ngày xây dựng thành công, măn nguyệt kim dung thường trụ suốt kiếp, Tịnh tông được thịnh hành, con người đều biết đạo thoát khổ. Nhân quả phô tỏ rơ ràng, mọi người cùng nhau đi theo con đường mong trở thành thánh, sẽ thấy Phật, trời bảo vệ như mây nhóm, tốt lành, mừng vui đua nhau đưa đến, cửa nhà yên vui, quyến thuộc b́nh an, giàu, thọ, khỏe mạnh, b́nh yên, thân hiện tại được hưởng Ngũ Phước như Cơ Tử đă luận, lan quế ngào ngạt, hậu duệ nhận lănh trăm điều tốt lành như đă nói trong bài giáo huấn của Y Doăn, chỉ mong [ai nấy] đều phát ḷng tùy hỷ, đều cùng được tiếng thơm (Đầu Đông năm Quư Dậu (1933) thời Dân Quốc)

 

3. Sớ quyên mộ tu bổ đại điện Hưng Giáo Thiền Tự (tức Tiểu Vân Lâu) thuộc thôn Lâu Giang ngoài cửa phụ của huyện thành Thiệu Hưng (Viết thay cho thầy Nguyên Trạm)

Đức Như Lai điều ngự chúng sanh, tùy cơ thuyết pháp. Do chúng sanh căn cơ bất nhất nên [đức Phật] nói vô lượng pháp môn, nhưng gom góp thống nhất lại th́ chỉ có bốn pháp Luật, Giáo, Thiền, Tịnh. Luật là Phật thân, Giáo là Phật ngữ, Thiền là Phật tâm, Tịnh là Phật cảnh. Luật, Giáo, Thiền, Tịnh là chỗ quy túc của hành nhân, là pháp để rốt ráo viên thành Phật đạo, phổ độ hết thảy phàm - thánh vậy. Bốn pháp trọn chẳng khác biệt, ắt cần phải pháp nào cũng viên thông, pháp nào cũng đều trọn đủ th́ mới có thể trên nối tiếp Phật huệ, dưới hóa độ chúng sanh. Chẳng qua là luận theo chú trọng về phương diện nào mà kiến lập danh xưng của bốn tông Luật, Giáo, Thiền, Tịnh đấy thôi!

Hưng Giáo Thiền Tự được sáng lập từ đời Tấn, là đạo tràng của Luật và Giáo. Đến đời Đường, Ô Khoa thiền sư trùng hưng, trở thành [đạo tràng chuyên tu] Thiền. Cuối đời Minh, đồ tôn của Liên Tŕ đại sư là Nội Hằng Thuyên Công phục hưng nhà chùa, trở thành [đạo tràng chuyên tu] Tịnh. Thiện tri thức xét thời cơ mà chọn giáo pháp thích hợp, nhân thời thế mà chế định cách tu thích nghi, chỉ cốt sao có lợi cho muôn loài, chẳng chấp nhặt nơi dấu tích phô bày. V́ thế, khiến cho hết thảy chúng sanh đều được thấm nhuần pháp ích.

Từ đời Minh đến nay đă hơn hai trăm năm, trong khoảng thời gian ấy những bậc cao nhân trụ tŕ pháp đạo cũng lại chẳng thiếu. Từ cuối triều Thanh đến nay, pháp đạo suy vi, điện đường, liêu xá đều nghiêng sụp, đại điện là nơi an trụ Như Lai Pháp Thân, cũng là chốn để tứ chúng cầu phước [thế mà] cột kèo mục nát, rường xà xiêu vẹo, lỏng lẻo. Nếu chẳng lập cách tu bổ, ắt sẽ đến nỗi sụp đổ hết cả. Trạm tôi trụ tŕ nơi đây, tâm thường kinh sợ, v́ thế đặc biệt giăi tỏ ḷng ngu thành, quyên mộ khắp đàn tín hộ pháp, khẩn cầu các vị đều bỏ ra tịnh tài để thành tựu việc làm tốt đẹp này, ngơ hầu điện báu thênh thang sớm có ngày được thành công, măn nguyệt kim dung thường trụ suốt kiếp. Sẽ thấy Phật, trời che chở như mây nhóm, tốt lành, mừng vui đua nhau đưa đến, giàu, thọ, khỏe mạnh, b́nh yên, thân hiện tại được hưởng Ngũ Phước như Cơ Tử đă luận, tước vị cao cả, tôn kính, hậu duệ nhận lănh trăm điều tốt lành như đă nói trong bài giáo huấn của Y Doăn. Chỉ mong ai nấy đều chẳng tiếc nuối, cùng ghi danh thơm (Năm Bính Dần, tức năm Dân Quốc 15 - 1926)

 

4. Sớ quyên mộ trai mễ (gạo cho Tăng chúng ăn) suốt năm của chùa Vạn Thọ núi Đạo Tràng, Hồ Châu (Viết thay)

Pháp luân muốn chuyển, phải no ḷng,

Không gạo, Thiền sâu khó thể mong.

Nếu chịu bố thí giúp đạo nghiệp,

Phước thọ tăng trưởng quyết triền miên.

 

Chùa Vạn Thọ núi Đạo Tràng là đại đạo tràng do vị cao tăng thời Ngũ Đại là thiền sư Phục Hổ Chí Phùng sáng lập. Thiền sư cất am tu hành trên đỉnh núi, một bữa ngồi yên, hào quang sáng rực bầu trời. Nhân sĩ bốn phương tưởng [trên núi] bị hỏa hoạn; ngày hôm sau đến xem, thấy Sư thâm nhập tam-muội, biết là Sư phóng đại từ quang. Do vậy, thiện tín bị cảm hóa, ai nấy đều bỏ ra tịnh tài, tạo dựng chùa miếu, trở thành đại tùng lâm, đều nói Sư là Địa Tạng Bồ Tát hóa thân. V́ thế, lại gọi núi ấy là Tiểu Cửu Hoa. Từ đấy về sau, đời nào cũng có cao nhân trụ tŕ nơi ấy. Cho đến đầu đời Thanh, Hoằng Giác thiền sư từng làm chủ núi này, đức hạnh được Thanh Thế Tổ (Thuận Trị) khâm phục; do vậy bèn ban cho nhà chùa tấm biển đề Vạn Thọ. Ấy là cầu chúc cho muôn nước đều yên, cùng lên cơi thọ, một người (tức nhà vua) được mừng vui, ai nấy cùng hưởng thái b́nh vậy. Từ đấy, đạo phong hưng thịnh, Vân Thủy đều tụ về, những chùa lớn các nơi chẳng đâu hơn được nơi này.

 

Đến thời Hàm Phong - Đồng Trị, gặp cơn binh hỏa liền bị suy vi. May nhờ tiền nhân thảm đạm lo liệu mới khỏi bị hoang tàn. Nạp tăng tôi tài sức đơn bạc, lạm nhận chức Trụ Tŕ, tuy muốn an cư đại chúng rộng khắp ḥng chuyên tu Tịnh nghiệp, khóa tụng sáng tối hằng ngày, ba thời niệm Phật, mỗi năm tới tháng Chạp liền mở một Phật Thất, dùng công đức ấy để cầu chúc vận nước tốt đẹp, hưng thịnh, nhân dân yên vui, chuyển cạnh tranh thành nhân từ, nhường nhịn, biến thói bạc ác thành thuần phong, nhưng do nhà chùa không có hằng sản, không thể kiếm ra lương thực. V́ thế, kính tuân theo cấm chế của đức Phật, vào làng khất thực, khẩn cầu các vị đại đàn-việt ai nấy ban cấp thóc gạo suốt năm để chúng Tăng thanh tịnh cư trụ tại chùa yên tâm tu đạo, mười phương Vân Thủy đều được yên cư. Sẽ thấy Phật, trời che chở như mây nhóm, tốt lành, mừng vui đua nhau đưa đến, giàu, thọ, khỏe mạnh, b́nh yên, thân hiện tại được hưởng Ngũ Phước như Cơ Tử đă luận, tước vị trâm anh, hậu duệ nhận lănh trăm điều tốt lành như đă nói trong bài giáo huấn của Y Doăn. Chỉ mong ai nấy đều chẳng tiếc nuối, cùng kết duyên thù thắng.

 

 

5. Sớ quyên mộ tu bổ đại điện và liêu pḥng tại các viện trong Nam Thiên Trúc Diễn Phước Tự, Hàng Châu

Quán Thế Âm Bồ Tát (cho đến) trùng hưng đạo tràng Tịnh Độ hoành siêu (phần trên đây đă đăng trong Văn Sao Tục Biên). Mùa Hạ năm nay lại được các vị cư sĩ lân cận mở mang đường hai bên và xây cửa chùa, tu bổ am tranh. Các cư sĩ thuộc hội Phật học cũng bằng ḷng tán trợ chuyện xây cất đại điện. Do vậy, cậy Quang viết sớ, quyên mộ khắp các đàn tín để mong cho đạo tràng hơn ngàn năm của Bồ Tát lại được trùng hưng, ngơ hầu đạo thích hợp khắp ba căn, pháp liễu thoát ngay trong đời này sẽ được lưu truyền rộng răi. Khẩn cầu mười phương quan viên cao quư, bậc đại thân sĩ, thương gia giàu có, hết thảy thiện tín đều cùng phát Bồ Đề tâm, hành phương tiện sự, mở toang bảo tạng, vun bồi ruộng phước, chở vàng, tải gạo, xoay vần khuyên bảo, quyên mộ lẫn nhau, ngơ hầu điện báu thênh thang sớm có ngày xây dựng thành công, măn nguyệt kim dung thường trụ trải kiếp, liên xă mở mang, tông phong chấn hưng, Phật pháp hưng thịnh, thiên hạ thái b́nh. Sẽ thấy Phật, trời che chở như mây nhóm, tốt lành, mừng vui đua nhau đưa đến, giàu, thọ, khỏe mạnh, b́nh yên, thân hiện tại được hưởng Ngũ Phước như Cơ Tử đă luận, tước vị trâm anh, hậu duệ nhận lănh trăm điều tốt lành như đă nói trong bài giáo huấn của Y Doăn. Chỉ mong ai nấy đều chẳng tiếc nuối, cùng ghi danh thơm.

 

6. Sớ quyên mộ tu bổ đại điện của Tức Lai Thiền Viện núi Phổ Đà (Viết thay)

Phổ Đà danh sơn chính là cuộc đất thù thắng nơi Đại Sĩ thị hiện, Tức Lai thiền viện quả thật là ngôi chùa thanh tịnh để đàn-na tín thí gieo phước. Kể từ khi trước, tổ chúng tôi là thiền sư Triều Âm triệt ngộ tự tâm, thông hiểu kinh giáo sâu xa, trụ tŕ chùa Phổ Tế mười mấy năm, rải mây Từ của Đại Sĩ, xiển dương tâm ấn của Tổ Sư. V́ thế, đạo truyền bốn biển, đức cảm chín bệ, nhiều lần được [triều đ́nh] ban lộc, tặng y tía, trùng tu đạo tràng viên thông, càng thêm v́ pháp v́ người, mong vun bồi ḍng giống pháp cho tương lai. Nhưng do trải qua năm tháng đă lâu, Sư chẳng kham nổi nhọc nhằn, bèn cho dựng riêng Tức Lai để làm nơi thoái ẩn. Do Sư được bậc tể quan ngưỡng mộ, dân chúng khâm phục, tôn sùng nên quy mô, chế độ của [viện Tức Lai] khá đồ sộ.

Từ xưa đến nay đă hơn hai trăm năm, tất cả điện đường đều nghiêng ngửa, hư nát. Nạp tăng tôi thẹn phận hậu học, gắng sức tu bổ. Các pḥng đă sửa sang đại lược như mới, chỉ c̣n đại điện chưa khởi công. Nếu chẳng xoay sở triệt để, ắt sẽ đến nỗi chẳng mấy chốc sụp đổ. Tính muốn tạo dựng lầu gác huyễn hóa, ắt phải cậy sức của mọi người chống đỡ. Do vậy, viết sớ giăi bày tấm ḷng ngu thành, quyên mộ khắp đàn-na mười phương, khẩn cầu phát Bồ Đề tâm, hành phương tiện sự, mở toang bảo tạng, vun bồi ruộng phước, ngơ hầu điện báu Đại Hùng sớm có ngày xây dựng thành công, măn nguyệt kim dung thường trụ trải kiếp. Sẽ thấy Phật, trời che chở như mây nhóm, tốt lành, mừng vui đua nhau đưa đến, thân hiện tại được hưởng Ngũ Phước như Cơ Tử đă luận, tước vị trâm anh, hậu duệ nhận lănh trăm điều tốt lành như đă nói trong bài giáo huấn của Y Doăn. Nếu như chẳng xót của, sẽ cùng ghi phương danh.

 

VII. Bạt

1. Lời bạt cho tấm biển ngạch Hương Quang Trang Nghiêm

Hương thơm công đức phước huệ, ánh sáng từ bi nhiếp thọ của Như Lai theo chiều dọc suốt cả ba đời, theo chiều ngang trọn khắp mười phương đều xông chiếu trọn khắp. Phàm phu đầy dẫy triền phược trọn chẳng nghe thấy, như kẻ mắt mù mũi điếc giữa trưa đi ngang rừng Chiên Đàn, trọn chẳng ngửi được mùi hương Chiên Đàn, chẳng thấy được ánh sáng mặt trời. Nếu sanh ḷng chánh tín, thường niệm Phật hiệu, do được vạn đức hồng danh của Như Lai ngầm hun đúc, gia bị, nên nghiệp tiêu, trí rạng, chướng tận, phước cao, sẽ tự có thể tùy theo khả năng của chính ḿnh mà đắc tam-muội nên thấy nghe đôi chút [hương công đức, ánh sáng từ bi của Phật], hoặc chứng Vô Sanh Nhẫn nên thấy nghe lớn lao, cho tới dùng sự trang nghiêm của Phật để tự trang nghiêm. Thầy Giám Viện là đại sư Diệu Chân mong những ai đến đây đều cùng được nhiễm mùi hương của Phật, cùng được hưởng quang minh của Phật, cậy tôi đề bốn chữ này và viết lời bạt để thưa với bậc thông sáng mai sau (Mùa Thu năm Kỷ Măo, tức năm Dân Quốc 28 - 1939)

2. Lời bạt cho Tịnh Độ Ngũ Kinh

Tam Học Giới - Định - Huệ là căn bản của người học Phật và tu Tịnh nghiệp, nhưng Giới lại càng thiết yếu. V́ thế, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh khai thị Tịnh nghiệp tam phước như sau:

1) Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện nghiệp.

2) Hai là thọ tŕ Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi.

3) Ba là phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả.

Hai điều đầu phần lớn thuộc về Giới Học, điều thứ ba trọn đủ Tam Học. Đầy đủ ba món phước này th́ Tịnh nghiệp thành tựu lớn lao, văng sanh Thượng Phẩm. V́ thế, sau năm kinh Tịnh Độ, lại in kèm thêm phẩm Tịnh Hạnh của kinh Hoa Nghiêm và bốn thứ giáo huấn thanh tịnh rạng ngời (Thanh Tịnh Minh Hối) của kinh Lăng Nghiêm để mong hành giả Tịnh nghiệp, đối với Luật Nghi Giới th́ ǵn giữ sao cho thân chẳng phạm, tiến lên mức nữa là đắc Định Cộng Giới, chế ngự tâm không khởi [những vọng niệm], tiến vào Đạo Cộng Giới siêu t́nh ly niệm, đoạn Hoặc chứng Chân. Nhưng dẫu đạt được hai thứ lợi ích thật sự là Định Cộng Giới và Đạo Cộng Giới th́ vẫn phải dè dặt, kinh sợ, chấp tŕ Luật Nghi Giới để tự lợi, lợi tha, duy tŕ khuôn mẫu pháp đạo, ngơ hầu kẻ giải thoát rỗng tuếch4 sẽ không có lư do lấp liếm rằng họ đang tu theo Đại Thừa để rồi hoại loạn Phật pháp khiến cho chúng sanh bị lầm lạc, nghi ngờ! (Giữa Xuân năm Bính Tư, tức năm Dân Quốc 25 - 1936)

 

3. Lời bạt cho Ma Lợi Chi Thiên Đà La Ni

Ma Lợi Chi Thiên tuy hiện thân trời, nhưng thật ra là Bồ Tát. V́ tâm độ sanh tha thiết, ḷng cứu khổ ân cần, nên nói ra chú này để làm cái gốc cứu độ. Nếu ai mỗi ngày kiền thành tŕ tụng chú này càng nhiều càng tốt, dẫu gặp những tai nạn nước, lửa, đao binh v.v… cũng sẽ gặp dữ hóa lành. Năm nay, trong cuộc biến loạn tại Trường Sa, [dân chúng] mắc họa thật thảm. Ông Nhiếp Vân Đài suất lănh toàn thể gia quyến thuộc các chi họ cùng tŕ chú này tại Thượng Hải, thế mà nhà cửa thuộc các chi họ của nhà ông Nhiếp ở Trường Sa trọn chẳng bị tổn hại, hư hỏng ǵ. Do vậy biết rằng chú này có đại thần lực, có thể trông cậy được. Kính mong những người cùng hàng đều cùng phát tâm sửa lỗi hướng lành, cùng làm chuyện giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, lợi người, lợi vật để cảm ứng Bồ Tát rủ ḷng Từ nơi bổn địa th́ sẽ được chở che, gia hộ càng thêm thù thắng. Nếu ai không biết chữ, chẳng thể ghi nhớ được, hăy chí thành niệm Nam Mô Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát hoặc xưng niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát th́ lợi ích cũng giống hệt như tụng chú. Ai có được chú này ắt phải đặt ở nơi sạch sẽ, chớ nên khinh nhờn. Nếu không, sẽ mắc tội chẳng nhỏ đấy (Đầu Thu năm Canh Ngọ, tức năm Dân Quốc 19 - 1930)

4. Lời bạt cho Tịnh Độ Pháp Hội Khóa Nghi

Hết thảy pháp môn được nói trong một đời đức Như Lai đều phải đoạn sạch Phiền Hoặc th́ mới có thể liễu sanh thoát tử. Chỉ có một pháp Niệm Phật nếu đầy đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, sẽ liền có thể cậy vào Phật từ lực văng sanh Tây Phương. Pháp môn Niệm Phật lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm tông, tín - nguyện để dẫn đường, niệm Phật làm chánh tu. Có người chỉ chuyên cầu nhất tâm chẳng nhắc đến tín nguyện và kẻ chú trọng khai ngộ, chẳng cầu văng sanh đều là những người chẳng biết tông chỉ của pháp Niệm Phật, bỏ Phật lực để cậy vào tự lực, coi thường Phật trí, khoe khoang trí ḿnh, tự lầm, lầm người lớn lắm! Tâm niệm Phật ắt cần phải khẩn thiết chí thành như con nhớ mẹ; dẫu có cảnh nào khác đưa đến trọn chẳng thể làm cho cái tâm nhớ mẹ ấy bị quên mất được! Trong khi niệm Phật hoặc niệm ra tiếng, hoặc niệm thầm, đều phải lắng tai nghe kĩ, chẳng để cho một câu một chữ nào miệng chỉ liến láu niệm qua. Cách niệm “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” như Đại Thế Chí Bồ Tát đă nói chính là pháp vừa niệm vừa lắng nghe như thế đấy. Nếu có thể làm đúng như vừa nói th́ chắc chắn sẽ được văng sanh. Nếu t́m cầu sự khéo léo, chắc chắn sẽ biến thành vụng về to lớn, tự lầm, lầm người, gây hại há có thể nào cùng cực được!

 

5. Lời bạt cho sách Sức Chung Tân Lương

Cổ nhân nói: “Sanh tử cũng lớn lao thay!” Chẳng đáng buồn ư! Trộm nghĩ: Buồn xuông th́ rốt cuộc có ích chi đâu? Cần biết rằng sanh tử là đại sự, tín nguyện niệm Phật là đại pháp. Đă biết chết là đáng buồn, hăy nên tu đại pháp này trước khi chưa chết th́ chẳng những chết không đáng buồn mà c̣n là may mắn lớn nữa. V́ sao vậy? Do tịnh nghiệp chín muồi, nương theo Phật từ lực lập tức văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, được siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, vĩnh viễn ĺa khỏi các nỗi khổ, chỉ hưởng các sự vui, tu tập dần dần măi cho đến khi thành Phật mới thôi. Nhưng muốn đạt được điều may mắn lớn lao ấy th́ cần giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành để bồi đắp nền tảng, lại c̣n thật sự v́ sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu tŕ danh hiệu Phật sẽ liền có thể quyết định đạt được. Đến khi lâm chung, bất luận tu đă lâu hay mới tu, đều cần có quyến thuộc và tịnh hữu trợ niệm ngơ hầu chánh niệm rạng rỡ, cảm ứng đạo giao, được Phật tiếp dẫn văng sanh Tây Phương. Dẫu cho kẻ thường ngày chẳng hề niệm Phật, khi lâm chung thỉnh thiện hữu khai thị và trợ niệm th́ cũng có thể văng sanh.

Do vậy biết rằng chuyện trợ niệm là khẩn yếu nhất! Trong lúc thường ngày, người tu Tịnh nghiệp hăy nên nói với gia quyến về lẽ lợi - hại để họ hiểu rơ không nghi, quyết chẳng đến nỗi khi lâm chung gia quyến sẽ do t́nh kiến thế tục mà phá hoại chánh niệm. [Như vậy th́] đối với kẻ c̣n lẫn người mất đều có lợi ích thật sự. Các sách Niệm Phật Sức Chung Tân Lương và Sức Chung Tu Tri, dụng ư lẫn lời lẽ đều châu đáo, quả thật đă bảo vệ cho hành nhân thành tựu được đại sự nhân duyên. Nếu chịu lần lượt lưu thông ngơ hầu hết thảy những người cùng hàng đều biết tới lợi ích đó th́ công đức ấy chỉ có đức Phật biết được! Nguyện những kẻ làm con cháu người khác trong cơi đời và những ai là cha mẹ, anh em, bạn bè ai nấy đều làm theo ngơ hầu người đă mất hồn siêu nơi cơi tịnh, nghiệp trả lại trần lao, chín phẩm sen nở hoa, được đức Phật thọ kư thành Phật ngay trong một đời, quả thật là may mắn lớn lao! (Cuối Xuân năm Dân Quốc 19 - 1930)

 

6. Lời bạt cho bài giảng giải ư nghĩa Tam Dư Đức Đường

Ư nghĩa lớn lao của tên gọi ṭa nhà này đă tuyên bày rồi. Nhưng muốn lợi người th́ trước hết phải đánh đổ những ham muốn xằng bậy của chính ḿnh. Nếu lời lẽ chẳng phù hợp với việc làm c̣n khó thể cảm hóa vợ con, huống là xóm giềng ư? Nếu có thể chân thành không dối trá th́ dẫu là dị loại vẫn c̣n có thể cảm ứng được, huống hồ con người là kẻ cùng loài ư? V́ vậy, hết thảy pháp đều lấy thân làm gốc, nên nói: “Thân chẳng hành đạo th́ vợ con sẽ chẳng hành đạo. Nếu kẻ nào chẳng giữ đạo th́ sẽ chẳng thể làm cho vợ con giữ đạo được”. Muốn tán trợ sự sanh thành trưởng dưỡng của trời đất, muốn tỏa rạng đức ngấm ngầm của tổ tông, muốn lập khuôn mẫu tốt đẹp cho con cháu, mà chính ḿnh chẳng chú trọng tận tụy thực hiện th́ sẽ như kẻ nghèo không có rẻo đất nào để cắm dùi lại xằng bậy mong phú quư trùm lấp cơi đời, chỉ trở thành si tâm vọng tưởng, trọn chẳng thể trở thành sự thực được! Hăy răn dè nhé!

Ṭa nhà được đặt tên dù ba chữ hay bốn chữ đều có ư nghĩa, cho nên không nhất định, chớ nên thay đổi. Ở phương Nam có một cụ già thanh nhàn sửa chữa đ́nh đường, khi gác đ̣n dông có mười tám con hạc trắng bay đến, liền đặt tên cho ṭa nhà ấy là Thập Bát Hạc Lai, bởi phỏng đoán rằng đấy chính là điềm [trong số con cháu sau này] sẽ có mười tám vị Hàn Lâm vậy!

 

VIII. Những bài viết khác

1. Những căn cứ để làm cho hết thảy mọi người niệm Phật được văng sanh hay không văng sanh

Hết thảy các pháp môn do đức Như Lai đă nói trong một đời Ngài đều nhằm dạy chúng sanh tu Giới - Định - Huệ, đoạn tham - sân - si, hiểu rơ sanh tử huyễn vọng, chứng tâm tánh chân thường. Nhưng chúng sanh căn tánh có lợi - độn, Hoặc (phiền năo) có dày - mỏng. Kẻ căn tánh nhạy bén, Phiền Hoặc mỏng nhẹ th́ sẽ có thể liễu sanh tử ngay trong đời này hay trong hai, ba, bốn, năm đời sẽ liễu sanh tử. Kẻ căn độn, Phiền Hoặc dầy th́ mười, trăm, ngàn, vạn đời, hay mười, trăm, ngàn, vạn kiếp vẫn chẳng thể liễu được! Đấy là luận trên sự tu tŕ theo giáo lư thông thường, cậy vào sức tu Giới - Định - Huệ của chính ḿnh để đoạn sạch tham - sân - si phiền hoặc, khó khăn cũng dường như lên trời! Mặc cho anh kiến địa cao siêu, công phu sâu đậm, công đức to tát, trí huệ lớn lao; nếu Kiến Tư Hoặc trong tam giới chưa hết, quyết chẳng thể vượt ra ngoài tam giới để liễu sanh tử được!

Chỉ có pháp môn Niệm Phật là hoàn toàn cậy vào nguyện lực đại từ bi của A Di Đà Phật. Nếu đầy đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, chí thành khẩn thiết niệm danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương, bất luận lợi căn hay độn căn, Phiền Hoặc dầy hay mỏng đều có thể ngay trong đời này vào lúc lâm chung được nương theo Phật từ lực đích thân rủ ḷng tiếp dẫn mà văng sanh Tây Phương. Đă được văng sanh rồi, Kiến Tư phiền năo chẳng đoạn mà tự đoạn, bởi cảnh duyên trong Tây Phương Cực Lạc thế giới thù thắng, mỗi mỗi đều có thể tăng trưởng công đức, trí huệ của con người, trọn chẳng khiến cho con người dấy lên tham - sân - si. Đấy chính là pháp môn đặc biệt trong cả một đời giáo hóa của đức Như Lai, chẳng thể dùng những giáo lư theo đường lối thông thường để luận định pháp môn Tịnh Độ được!

Trong cơi đời có những kẻ thông hiểu Tông - Giáo sâu xa, nhưng chẳng tin vào pháp môn Tịnh Độ, ấy là v́ đă dùng giáo lư theo đường lối thông thường để luận định pháp môn đặc biệt. Nếu họ biết đây là pháp môn đặc biệt th́ sẽ tự hành, dạy người, nào dám chống trái! Bà Lưu Thị - thím của ông Trương Phước Tuyền - bẩm tánh tinh thuần, đă có túc căn, đến khi mắc bệnh bèn tin theo lời của Phước Tuyền, Tông Tịnh v.v… mà niệm Phật, lại c̣n được người nhà trợ niệm, v́ thế qua đời thật tốt lành. Những tướng tốt đẹp như: Vẻ mặt trở nên đẹp đẽ hơn lúc sống, sau mười bốn tiếng đồng hồ toàn thân đă lạnh, đảnh đầu vẫn c̣n ấm, chân tay, ḿnh mẩy mềm mại, ruồi nhặng chẳng bu tới v.v…. Căn cứ theo bài kệ kiểm nghiệm t́nh trạng lúc lâm chung trong kinh Đại Tập th́:

Đảnh thánh, nhăn thiên sanh,

Nhân tâm, ngạ quỷ phúc,

Súc sanh tất cái ly,

Địa ngục cước bản xuất.

(Đảnh: thánh, mắt: sanh thiên,

Tim: người, ngạ quỷ: bụng,

Súc sanh: đầu gối ĺa,

Địa ngục: bàn chân thoát)

Bởi lẽ con người sắp chết, hơi nóng từ dưới dồn lên trên th́ siêu sanh; từ trên dồn xuống dưới sẽ đọa lạc. Nếu toàn thân đă lạnh, chỉ c̣n đỉnh đầu ấm, ắt sanh về Tây Phương, vào trong thánh đạo. Mắt và trán nóng là sanh trong đường trời. Ngực nóng là sanh trong nhân đạo. Bụng c̣n ấm là sanh trong ngạ quỷ đạo, đầu gối ấm là sanh trong súc sanh đạo, bàn chân ấm là sanh trong địa ngục đạo.

Người niệm Phật nếu nhất tâm niệm Phật, chẳng nghĩ đến gia nghiệp, con cái trong thế gian, quyết định sẽ được Phật từ lực tiếp dẫn văng sanh. Bất luận tu tŕ đă lâu hay mới tu, thậm chí kẻ tới lúc lâm chung mới được bạn lành khai thị liền nhất tâm niệm Phật dẫu chỉ niệm được mười tiếng liền mạng chung th́ cũng được văng sanh. Bởi lẽ, trong bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật, nguyện thứ mười tám là: “Nếu có chúng sanh nghe danh hiệu ta chí tâm tin ưa, cầu sanh về nước ta, thậm chí mười niệm, nếu chẳng được sanh, ta không giữ ngôi Chánh Giác”. Do nhân duyên ấy, kẻ thường ngày chẳng hề niệm Phật, lâm chung được bạn lành khai thị, mọi người trợ niệm, cũng có thể văng sanh.

Người thường niệm Phật nếu lúc lâm chung bị quyến thuộc vô tri tắm rửa, thay quần áo sẵn và hỏi han mọi chuyện, cũng như khóc lóc v.v… Do những nhân duyên ấy phá hoại chánh niệm liền khó được văng sanh. V́ thế, người niệm Phật lúc thường ngày ắt phải bảo ban quyến thuộc trong nhà đều niệm th́ khi chính ḿnh lâm chung bọn họ đều biết trợ niệm. Lại do thường nói lợi ích của trợ niệm khi lâm chung và những họa hại do khóc lóc, bày vẽ mù quáng, họ sẽ chẳng đến nỗi v́ ḷng hiếu mà khiến cho người thân vẫn phải hứng chịu nỗi khổ sanh tử lớn lao, sẽ ngay trong đời này hưởng lợi ích lớn lao văng sanh Tây Phương.

 

2. Biện định nhằm giải trừ mối nghi về chuyện văng sanh Tây Phương của ông Trương Huệ Bính

Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật, nhưng do chưa ngộ, mê muội chẳng biết, khởi tham - sân - si, tạo giết - trộm - dâm, trầm luân trong biển khổ sanh tử từ kiếp này sang kiếp khác chẳng thể thoát ra, đáng thương xót quá đỗi! Trương Huệ Bính vốn có thiện căn từ đời trước, tiếc rằng sống ở nơi không có Phật pháp, đến khi đi học, dần dần nhiễm phải học thuyết của Châu - Tŕnh - Hàn - Âu (sức báng Phật của Châu - Tŕnh c̣n lớn hơn Hàn - Âu nữa) khiến cho lư tự tánh trong tâm càng bị vùi lấp, không cách nào hiển hiện được!

May mắn là ông Trương trải đời đă lâu, thường gặp cảnh tai họa, loạn lạc, chẳng tránh khỏi thường ôm ḷng chán ngán. Khéo sao gặp được Thường Huệ Dương đem pháp niệm Phật cầu sanh Tây Phương khuyên nhủ, bèn như mạ gặp hạn đă lâu chợt gặp trận mưa dầm ngọt ngào, liền bừng bừng tăng trưởng, thế khôn ngăn được! Tuy chưa hiểu Phật pháp thật rơ ràng nhưng đă thấy rành mạch, sâu xa cái tâm cong vẹo của bọn Tŕnh - Châu - Hàn - Âu; đâm ra tín tâm do đấy càng tăng thêm. Từ khi được nghe pháp môn Tịnh Độ trở đi, giữ chặt thời khắc, chưa đầy hai năm liền được chánh niệm văng sanh, cũng đáng gọi là bậc trượng phu dũng mănh! Đến khi lâm chung, ông ta bị trúng phong không nói được; ấy chính là v́ ác nghiệp trong đời trước đáng lẽ phải hứng chịu trong đời kế tiếp sau khi đă chết đi, nhưng do công đức tu tŕ trong đời này mà chuyển báo nặng trong đời sau thành báo nhẹ trong đời này nhằm giải quyết cho xong!

Chết rồi vẻ mặt tươi tắn, xác thân mềm mại, mặt lộ vẻ mỉm cười, đỉnh đầu nóng rực tay [của người sờ vào]. Những cảnh tượng ấy đều là tướng lành văng sanh, nhưng vẻ mặt tươi sáng, thân xác mềm mại, mặt lộ vẻ mỉm cười th́ người sanh lên cơi trời cũng có thể đạt được như vậy. Chỉ có chuyện đỉnh đầu c̣n nóng th́ người sanh lên cơi trời không hề có chuyện này! Trong kinh có bài kệ nói về chứng cứ sanh vào các nẻo sau khi mất như sau:

Đảnh thánh, nhăn thiên sanh,

Nhân tâm, ngạ quỷ phúc,

Súc sanh tất cái ly,

Địa ngục cước bản xuất.

Bởi lẽ con người chết đi, hơi nóng từ dưới dồn lên trên th́ siêu thăng, từ trên dồn xuống dưới th́ đọa lạc. Nếu toàn thân đều lạnh, đỉnh đầu vẫn ấm th́ siêu phàm nhập thánh. Sanh về Tây Phương là siêu phàm nhập thánh tối thắng, cho nên nói là “đảnh thánh”. Nếu hơi nóng đọng nơi trán và mắt là sanh trong đường trời. Ngực vẫn nóng là sanh trong nhân đạo. Bụng c̣n ấm là sanh trong ngạ quỷ đạo, đầu gối ấm là sanh trong súc sanh đạo, bàn chân ấm là sanh trong địa ngục đạo. Do toàn thân đă lạnh, chỉ c̣n có chỗ ấy là ấm để làm chuẩn. Nhưng người niệm Phật, nếu b́nh thường có ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, lâm chung lại được quyến thuộc tốt lành trợ niệm, chẳng bị phá hoại bởi quyến thuộc xấu hèn tắm rửa, thay quần áo sẵn, khóc lóc, hỏi chuyện, mù quáng an ủi v.v… th́ chắc chắn sẽ có thể văng sanh. Khi lâm chung, Huệ Bính bị cấm khẩu, chắc sẽ có kẻ do vậy bèn hoài nghi. Chuyện đỉnh đầu c̣n ấm là một chứng cứ; huống chi lại có những chuyện như vẻ mặt tươi tắn v.v… ư?

Năm trước, ông Trịnh Huệ Hồng ở huyện Bảo Sơn, tỉnh Vân Nam chết, bà mẹ do ḷng quá thương con bèn uống thuốc độc rồi ngồi ngay ngắn niệm Phật qua đời, trọn chẳng có dáng vẻ đau khổ. Địa phương ấy từ trước đến nay chẳng biết Phật pháp, cha [Huệ Hồng] tên Bá Thuần là một vị túc nho, chẳng thích ra làm quan, thoạt đầu nghiên cứu kinh Dịch mấy năm, rồi nghiên cứu kinh điển của bọn luyện đan, cuối cùng tham Thiền tông. Huệ Hồng buôn bán ở Chiêu Thông (thuộc Vân Nam), gởi thư xin quy y [với Quang], chuyên tu Tịnh nghiệp, nhiều phen khuyên cha tu Tịnh nghiệp, thỉnh nhiều kinh sách Tịnh Độ xin cha hăy đọc. Do vậy Bá Thuần sanh ḷng tin, tự hành, dạy người, soạn cuốn Niệm Phật Khẩn Từ để cầu khẩn người khác niệm Phật. Năm Dân Quốc 22 (1933), Huệ Hồng thôi buôn bán, trở về nhà. Mùa Xuân năm sau qua đời, cũng không có tướng lành chi cho lắm! Nhưng bà mẹ uống thuốc độc văng sanh so với những người chết tốt lành b́nh thường chẳng hề kém cạnh ǵ! Do vậy, người trong một vùng đều cảm động. Bá Thuần là một người văn lẫn hạnh đều khá, đứng ra đề xướng, lại nhờ chuyện lạ của vợ con, dẫu kẻ tà kiến cố chấp trọn chẳng có ḷng tin tưởng cũng chẳng thể không bị cảm động!

Bọn Tống Nho đọc kinh Phật, bèn dùng những nghĩa mầu nhiệm ấy để xưng hùng, ngược ngạo bài xích Phật, v́ sợ người đời sau biết “diệu nghĩa” [do bọn Tống Nho khoác lác “chính ḿnh đă tự t́m ra” ấy] do đâu mà có, đến nỗi những kẻ học Nho đời sau chẳng dám nhắc đến nhân quả, luân hồi. V́ thế, thiện không có ǵ để khuyên, ác không có ǵ để trừng phạt. May mắn là gần đây người tu Tịnh nghiệp đông đảo, vẫn c̣n có thể đẩy lùi con sóng cuồng loạn đôi chút. Nếu không, đạo làm người chắc sẽ gần như bị diệt mất! Nay do Huệ Bính khiến cho một vùng biết được tướng trạng văng sanh Tây Phương, ắt sẽ khiến cho những kẻ nối tiếp ông ta văng sanh về lâu về dài càng đông đảo vậy. Do vậy, tôi viết những điều này nhằm làm nêu sáng tỏ ư nghĩa thật sự; xin ai nấy hăy tự gắng lên!

 

3. Thông cáo tạ tuyệt trao đổi thư từ

Ấn Quang là một ông Tăng tầm thường, chẳng có hiểu biết ǵ; mười mấy năm qua thường có những người tưởng lầm Quang là thiện tri thức, thừa dịp bưu chánh thuận tiện, nườm nượp gởi thư tới. Quang chẳng tự lượng, hễ thư gởi đến liền trả lời. Mùa Đông năm ngoái, do ban đêm giảo chánh sách dưới ánh đèn điện, mắt bị tổn thương nặng. Từ đấy, hễ ai gởi thư đến đều nhắc nhở sau này đừng gởi thư tới nữa, nhưng vẫn không có hiệu quả ǵ! Đến nay, số người gởi thư tới so với trước kia chưa hề giảm! Cho nên nay tôi bất đắc dĩ đăng thông cáo trên hai báo Tân Thân và Phật Học Bán Nguyệt San để mong ai nấy đều biết: Nếu từ nay vẫn gởi thư tới, quyết chẳng bóc ra, cũng chẳng phúc đáp. Nếu có chuyện ǵ quan trọng gởi tới bằng thư bảo đảm, tôi sẽ để nguyên thư gởi trả lại. Thư thông thường sẽ quăng vào giỏ đựng giấy vụn để mong tịnh tâm, dưỡng mắt, ḥng giữ được sức nh́n để c̣n thấy được ánh sáng mặt trời.

Nếu vẫn lầm lạc coi Quang là tri thức, xin hăy trực tiếp hướng đến Phật Học Thư Cục ở Thượng Hải hoặc Hoằng Hóa Xă thuộc chùa Báo Quốc ở Tô Châu để thỉnh Ấn Quang Văn Sao, Ấn Quang Gia Ngôn Lục về đọc, sẽ đạt được lợi ích thật sự gấp trăm lần so với gởi thư đến. Tiến hơn nữa là đọc Tịnh Độ Ngũ Kinh và các trước thuật về Tịnh Độ của cổ đức th́ chắc chắn sẽ có thể đem nhân địa tâm khế hợp với quả địa giác vậy (Ngày mồng Một tháng Hai năm Dân Quốc 24 - 1935)

 

4. Thông cáo khuyên khắp đồng bào toàn cầu cùng niệm thánh hiệu Quán Âm

Quán Thế Âm Bồ Tát từ vô lượng kiếp trước thành Phật đă lâu, hiệu là Chánh Pháp Minh, nhưng bi tâm vô tận, từ thệ khôn cùng. Do vậy, lại hiện thân Bồ Tát và những thân trời, người, phàm, thánh v.v… trong mười phương thế giới để thí vô úy (ban phát sự không sợ hăi) nhằm rủ ḷng cứu vớt. Phẩm Phổ Môn nói: “Nên dùng thân nào để độ được, liền hiện thân ấy để thuyết pháp”. Chẳng những hiện thân hữu t́nh, mà ngay cả núi, sông, thuyền, bè, cầu bến, đường sá, dược thảo, cây cối, lầu đài, điện, gác cũng tùy cơ ứng hiện. Nói chung là Bồ Tát chú trọng ĺa khổ ban vui, chuyển nguy thành an. Phàm ai gặp đao binh, nước, lửa, bệnh ngặt, thú dữ, oán gia đối đầu, ác quỷ, rắn độc, đủ mọi nỗi nguy hiểm, nếu chí thành xưng niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát liền có thể được Bồ Tát gia bị, chuyển nguy thành an.

Hiện tại, sát kiếp tràn ngập, toàn cầu đều không có chỗ nào là yên vui cả, mà cũng chẳng ai được yên vui. Nguyện đồng bào trong ngoài nước cùng niệm thánh hiệu Quán Âm, cùng lấy tâm cứu khổ cứu nạn của Quán Âm làm tâm ḿnh, cùng lấy sự nghiệp lợi người lợi vật của Quán Âm làm sự nghiệp của ḿnh th́ ư niệm ta - người đều không c̣n, chuyện đấu tranh tự dứt, tự có thể cùng hưởng thái b́nh, cùng vui lẽ thường. Dẫu cho định nghiệp khó chuyển, bị táng thân mất mạng, vẫn có thể nương cậy sức Bồ Tát để văng sanh Tây Phương th́ kẻ do túc nghiệp bị mất mạng cũng sẽ được nhờ Phật lực thoát khỏi biển khổ. Các đồng bào trong ngoài nước của tôi xin hăy cùng xét cho tấm ḷng ngu thành này! (Năm Dân Quốc 26 - 1937)

 

IX. Vấn đáp

1. Đáp lời hỏi của sư Thiện Huân (lược bỏ câu hỏi)

1) Ngoại đạo giữ phương cách bí mật là v́ sợ người khác biết rơ pháp của chúng nên không cho người khác niệm Phật ra tiếng. Trong Phật pháp, không có thuyết bí mật nào! Niệm Phật hăy tùy theo khí phận, sức lực của mỗi người lớn hay nhỏ mà niệm lớn tiếng hay niệm nhỏ tiếng. Niệm ra tiếng lâu dài sẽ bị tổn khí; v́ thế, lại cần phải tĩnh tọa niệm thầm. Bất luận niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng hay niệm thầm, nói chung là chính ḿnh phải nghe tiếng niệm Phật của chính ḿnh. Niệm thầm cũng vẫn có tiếng, v́ thế cũng cần phải nghe. Nếu thường nghe, tâm tự quy nhất. Đấy chính là cách niệm Phật hay nhất.

2) Trừ Phật pháp ra, tất cả các môn đều là tà giáo, chứ nào phải chỉ có Thanh Tịnh Môn? Các loại tà giáo đều lấy luyện đan vận khí làm chánh đạo, nhưng họ lấy niệm Phật, niệm kinh, khuyến thiện để làm căn cứ dẫn dụ người khác vào đạo của họ.

3) Đồng Thiện Xă cũng là ngoại đạo. Ở đây nói “đừng học theo Tế Công” chỉ là nói về kẻ ngoại đạo, chớ nên nhất loạt bao gồm hết.

4) Cầu cơ cũng không phải là chánh pháp, phần nhiều là do linh quỷ giả mạo. Đối với chuyện Tăng, ni uống rượu, ăn thịt th́ [bọn họ] chính là chủng tử địa ngục c̣n chưa thể cứu được chính ḿnh. Cớ sao lại viện vào hành vi của bọn chúng để chỉ trích Phật giáo vậy?

5) Ngũ Huân (Ngũ Tân) th́ nước ta chỉ có bốn thứ, tức hành, hẹ, kiệu, tỏi. Kiệu chính là Tiểu Toán, ở Tây Vực có Hưng Cừ, nước ta không có loại ấy. Có kẻ cho Nguyên Tuy (Cilantro, ng̣ Tây) là một loại trong Ngũ Tân, đấy chính là [tà thuyết] do ngoại đạo lập ra.

6) Tam Yếm là Thiên Yếm, Địa Yếm, Thủy Yếm. Thiên Yếm chính là chim nhạn. Do chim nhạn có t́nh nghĩa vợ chồng cho nên chẳng được ăn, đấy chính là thuyết của Đạo gia. Trong Phật pháp, hết thảy các thứ thịt đều chẳng được ăn; sao lại chỉ có ba thứ ấy? Bọn họ bảo: “Người già là Bạch Yếm, cớ sao lại thỉnh Tăng để hệ niệm cho người chết?” Nói nhăng, nói càn, há nên nghe theo!

7) Niệm Phật nhớ số là để ngừa giải đăi. Nếu không có tâm giải đăi th́ không nhớ số cũng được. Để nhớ số cũng có thể không dùng tới tràng hạt. Lúc thoạt đầu nên dùng tràng hạt để niệm [Phật] một tiếng đồng hồ, sau đó niệm nhanh hay chậm đều giống như vậy. Niệm một khắc, nửa tiếng, hay một tiếng đều có thể biết được số câu niệm Phật. Hơn nữa, cách niệm Phật nhớ số trong Văn Sao là cách nhiếp tâm hiệu quả nhất, hăy đọc sẽ tự biết.

8) Nếu có tượng Phật, hăy nên hướng về Phật lễ bái. Không có tượng Phật th́ lễ bái thầm trong tâm, hoặc hướng về phương Tây lễ bái. Có hương, đèn cố nhiên là tốt, nhưng không có cũng chẳng sao! Tùy theo khả năng của từng người mà làm, há nên chấp hẹp ḥi nơi pháp ư?

9) Kinh Kim Cang giảng về pháp môn tâm địa, nên nói: “Phàm hữu sở tướng, giai thị hư vọng” (Phàm những ǵ có h́nh tướng đều là hư vọng). Ông chẳng biết đọc những câu thuộc phần trước hai câu ấy trong kinh văn, chỉ dựa vào hai câu này để rồi nghi ngờ phép niệm Phật văng sanh Tây Phương, chẳng biết có hữu tướng tam-muội và vô tướng tam-muội. Phàm rất nhiều kinh thuộc Bát Nhă Bộ cũng như những điều được nói trong Thiền tông đều là dựa theo vô tướng tam-muội để giảng rơ. Phàm các kinh Đại Thừa giảng cặn kẽ về nhân tu nhân chứng quả và khai thị niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ đều dựa theo hữu tướng tam-muội để giảng rơ. Ông hoàn toàn chẳng biết đạo lư thế gian, huống hồ đạo lư xuất thế gian; nhưng vẫn tự cho rằng ḿnh thông minh, bàn luận Phật pháp bừa băi! Muốn chẳng chuốc lấy ác quả, há có được chăng? Ông đă có Tịnh Độ Thập Yếu (sách này rất sâu), Gia Ngôn Lục (sách này rất nên đọc kĩ càng), sao chẳng đọc kĩ mà cứ một mực coi những lời lẽ vô tri vô thức của bọn ngoại đạo là đúng vậy?

 

2. Đáp lời hỏi của ḥa thượng Mộ Tây

1) Hỏi: Thiên Phật Y có phải là tổ y  thêu h́nh tượng Phật, c̣n Long Hoa Y là [ca-sa] thêu rồng thêu hoa hay không, xin hăy rủ ḷng dạy bảo?

Đáp: Thiên Phật Y chính là y do một ngàn vị Phật trong Hiền Kiếp chế ra, tức là tổ y năm điều hay bảy điều chúng ta thường đắp. Kẻ vô tri không hiểu biết bèn thêu h́nh tượng Phật lên y, tội đáng chết muôn vàn! Kẻ ngu chẳng biết tội lỗi, ngược ngạo tưởng đó là sang trọng! Lại c̣n thêu rồng, thêu hoa! Đường đường là một vị tỳ-kheo lại học theo thói nữ nhân, tư cách kẻ ấy chẳng đáng giá nửa đồng! Điều thứ nhất trong tác phẩm Chánh Ngoa Tập của Liên Tŕ đại sư đă luận về chuyện này!

2) Hỏi: Nuôi tóc dài, để móng tay dài, đeo khuyên bằng bạc, bằng đồng, có phải là tướng Đầu Đà hay chăng?

Đáp: Đầu Đà là tên gọi của vị hành khổ hạnh. Hạnh Đầu Đà gồm mười hai điều. Người đời nay chẳng thể hành được, lại lầm lạc đem tướng của ma vương, ngoại đạo ghép vào, đáng than quá đỗi!

3) Hỏi: Người bế quan niệm kinh, niệm Phật cho người khác có phải là tà mạng hay không?

Đáp: Bế quan cần phải có chánh niệm, chân thật niệm kinh, niệm Phật. Nếu chuyên niệm cho thí chủ, chẳng biết chú trọng nơi chuyện tu hành của chính ḿnh th́ có bị gọi là tà mạng cũng đáng! Nếu chỉ dùng bế quan để gạt gẫm kẻ khác cúng dường th́ sẽ trở thành đại tà mạng vậy!

4) Hỏi: Có người [suy nghĩ] quan pḥng (nơi để bế quan) này do vị thí chủ nọ cúng dường, bèn niệm kinh để báo đáp người ấy. Có thể dùng pháp bảo để làm quà tặng được hay chăng? Hơn nữa, tăng nhân v́ người khác xem kinh, đếm số quyển [kinh ḿnh đă tụng] để tính giá trị, viết một phiếu tụng kinh giao cho người ta, những tăng nhân như vậy mắc những tội ǵ, người tục gia có được phước ǵ?

Đáp: Người ta tài thí, ḿnh dùng pháp thí [để đáp tạ] th́ cũng không phải là không được. Nếu chẳng biết Phật pháp, chuyên môn v́ người khác niệm kinh th́ cũng giống như cuốc đất tính công lănh tiền! [Tụng kinh hay xem kinh] đă bị coi như là làm lụng mà nếu lại c̣n thật sự chẳng xem, chỉ viết một tờ phiếu ghi những kinh đă tụng để làm bằng chứng th́ so ra chỉ có thể diện hơn đánh cướp một chút, chứ thật ra là cùng một loại dụ dỗ, lừa gạt! Niệm hay chẳng niệm không nhất định, cung kính hay không cung kính cũng không nhất định th́ làm sao có thể định tội kẻ ấy cho được? Kẻ tại gia có tâm chánh tín xuất tiền thỉnh niệm, dẫu cho tăng nhân chẳng niệm, chỉ dùng một tờ phiếu kê khai để lừa người ta th́ cũng chẳng thể nói là [thí chủ] trọn không có công đức. Từ nay chớ nên gởi thư đến nữa, tôi không có thời gian và sức lực rảnh rỗi để bàn luận những chuyện thừa thăi này!

 

3. Đáp lời hỏi của cư sĩ Niệm Phật (Tức cư sĩ Châu Mạnh Do)

[Cư sĩ Niệm Phật hỏi]: Trong thư trả lời cư sĩ Hương Nghiêm của Triệt Ngộ đại sư có câu: “Hăy nên dùng ḷng tin sâu xa để thấu hiểu sâu xa: Ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm, toàn tâm chính là Phật, toàn Phật chính là tâm. Nhất niệm hiện tiền th́ nhất niệm tương ứng, niệm niệm hiện tiền th́ niệm niệm tương ứng, chỉ nên giữ sao cho niệm ấy thường hiện tiền th́ sẽ đạt được hiệu nghiệm chân thật. Ĺa ngoài niệm ấy ra th́ đừng cầu hiệu nghiệm, bởi đă gián đoạn, chẳng thân thiết, liền đi vào ngơ rẽ. Kinh dạy: ‘Tâm này làm Phật, tâm này là Phật’ chính là nói về ư này vậy!”

Tuy con tin đoạn văn dài này là mấu chốt cho sự tu Tịnh, nhưng lời văn đảo đi, đảo lại, rườm rà, chẳng dễ ǵ thấu suốt được lư. Nay con kính cẩn tŕnh bày những điều nghi nan, ngưỡng xin thầy rủ ḷng phân tích, giải thích cặn kẽ để con nhờ vào đây vun bồi tịnh nhân th́ thật là may mắn lớn lao!

1) “Ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm, toàn tâm chính là Phật, toàn Phật chính là tâm”. Thế nào gọi là tâm? Thế nào gọi là Phật? Nếu chỉ giải thích sơ sài th́ “hiện tiền khởi niệm là tâm”, chẳng biết có thích đáng hay chăng?

Đáp: Cái tâm niệm Phật hiện tiền chính là tâm. Vị Phật được niệm trong hiện tiền là Phật, tức là vị Phật được tạo bởi tự tâm. V́ thế nói: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.

2) Bốn câu này ư nghĩa có tương tự bốn câu “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” của Tâm Kinh hay không?

Đáp: Sắc - Không của Tâm Kinh so ra rộng răi hơn ư nghĩa “làm, là” trong Quán kinh. “Làm, là” trong Quán Kinh càng thân thiết hơn “bất dị, tức thị” (chẳng khác, chính là) của Tâm Kinh.

3) Đă nói “ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không Tâm” sao lại nói “toàn tâm tức Phật, toàn Phật tức tâm” là ư nghĩa ǵ?

Đáp: Hai câu sau giải thích lại ư nghĩa của hai câu trên.

4) Chữ “niệm” trong “nhất niệm hiện tiền” và “niệm niệm hiện tiền” cùng với chữ Tâm trong “tâm Phật” ư nghĩa có giống nhau hay không?

Đáp: Tâm và niệm chỉ là một thứ. Chẳng qua ước theo sự thường c̣n mà gọi là Tâm, ước theo sự hiện khởi mà gọi là Niệm.

5) “Ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm...” bốn câu này có phải là nói về Tánh Đức? C̣n “một niệm hiện tiền, một niệm tương ứng…” bốn câu này có phải là nói về Tu Đức hay chăng?

Đáp: Cả hai đều là Tu Đức, bởi lẽ “ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm” chính là điều sẽ đạt được bởi công phu.

6) “Nhất niệm hiện tiền th́ nhất niệm tương ứng…” bốn câu này th́ kẻ sơ cơ làm được hay phải là người tu lâu mới làm được?

Đáp: Sơ cơ có sự tương ứng của sơ cơ, tu lâu có sự tương ứng của tu lâu, há nên chấp chết cứng?

7) Tin sâu, thấu hiểu chắc thật là nói kiểu viên dung. Chưa đạt tới mức thấu hiểu chắc thật, chẳng thể gọi là tin sâu! Nếu gọi là tin sâu th́ sẽ thấu hiểu chắc thật. Nói theo thứ tự th́ tin sâu dễ, thấu hiểu chắc thật là khó. Chưa hiểu chắc thật, chẳng trở ngại ǵ tin sâu; trong lá thư này, ngài Triệt Ngộ nói “tin sâu, thấu hiểu chắc thật” là nói kiểu viên dung hay nói theo thứ tự?

Đáp: Chẳng cần phải phân biệt như thế, do chẳng biết ông ta (tức cư sĩ Hương Nghiêm) thuộc hạng căn tánh nào!

8) Phần trên nói “hăy nên tin sâu, thấu hiểu chắc thật”. Phần dưới nói “chỉ nên giữ sao cho niệm ấy thường hiện tiền th́ sẽ đạt được hiệu nghiệm chân thật”, dường như có nghĩa là sau khi đă tin sâu, thấu hiểu chắc thật th́ mới có hiệu nghiệm chân thật?

Đáp: Đây là tin và ngộ.

9) Như vậy là chỉ nên giữ cho niệm ấy thường được hiện tiền?

Đáp: Đấy là thực hành.

10) Nhưng chưa đủ ḷng tin sâu xa, hoặc chưa đạt đến mức thấu hiểu chắc thật, dẫu cho niệm ấy thường hiện tiền vẫn tự chẳng thể có hiệu nghiệm chân thật ư? Nếu vậy th́ người tin sâu, thấu hiểu chắc thật chẳng có mấy ai, mà cũng chẳng thấy được nhiều kẻ đạt được hiệu nghiệm chân thật cho mấy!

Đáp: Chưa thể tin hiểu mà thường hiện tiền như thế cũng chẳng nhiều nhặn ǵ! Nhưng chất phác niệm đến chỗ tột cùng th́ cũng có thể đạt đến địa vị ấy!

11) Vợ chồng đệ tử tập khí xấu xa sâu nặng, sửa đổi chẳng dễ, do vậy sanh ra những đứa con hoang đàng, biếng nhác, ngang ngạnh, phô trương, thật chẳng có hy vọng ǵ chúng sẽ nên người. Con tính trong lúc này, cứ nghĩ sẵn trước là chúng sẽ bị đọa lạc trong tương lai, [tự ḿnh] buông những hoài băo xuống, tự điều chỉnh sao cho thích nghi. Nếu quả thật sau này có ngày đọa lạc, ly tán th́ do đă suy nghĩ kĩ càng, chín chắn, sẽ chẳng đến nỗi hứng chịu phiền năo, tiếc hận lớn lao. Lối nghĩ tưởng như thế có đáng nên vâng giữ hay chăng?

Đáp: Nên vâng giữ!

12) Xưa kia Văn Chánh Công thường nói: “Phàm làm người kỵ nhất là lo nghĩ ngược ngạo tới sự truân chuyên, trắc trở mai sau, nhưng người đọc sách mắc bệnh này rất nhiều, đấy đều là dấu hiệu chứng tỏ bạc phước”. Lời nói ấy có đích xác hay không?

Đáp: Đích xác!

13) Lại nữa, trong bài Gia Huấn của Lục Phóng Ông có câu: “Cư hương, dĩ khốn úy, bất nhược nhân, vi triết” (Sống trong làng th́ phải khôn ngoan xử sự bằng thái độ ta là kẻ kém cỏi, e dè, chẳng bằng ai). Nên giải nói như thế nào, xin thầy khai thị?

Đáp: Đă biết ta kém cỏi, biết e dè, đă biết ta chẳng bằng người, sao dám cùng người khác tranh căi? Kẻ nào tranh căi đều không có ba tâm ấy.

14) Đệ tử thường mộng thấy niệm Phật bay lên, thường bị một căn nhà trên đỉnh lợp toàn bằng pha lê ngăn trở, hễ thân thể bay lên th́ căn nhà ấy và lớp pha lê phủ trên nóc đều cùng bay theo. Con muốn vượt thoát ra khỏi lớp pha lê ấy để vùng vẫy trong hư không liền chẳng được như ư, chưa biết là nghiệp chướng ǵ?

Đáp: Giấc mộng ấy cũng chẳng dễ có. Nếu vượt thoát ra được th́ tốt, Nhưng chỉ nên nhất tâm niệm Phật, chớ nên chuyên mong tưởng thực hiện được giấc mộng ấy để khỏi do lợi ích mà đâm ra bị tổn hại.

15) Có người cho rằng “khuyên người niệm Phật cầu sanh là Chủ (chánh yếu), c̣n tự ḿnh tu là Trợ”; có người nghĩ “tự tu là Chủ, khuyên người khác là Trợ”. Cả hai đều phát xuất từ ḷng chí thành, nhưng công đức nào vượt trỗi hơn?

Đáp: Quan điểm sau tốt hơn quan điểm trước.

16) Một vị Tăng nói đến nhân quả, chăm lo chùa miếu, v́ nhằm lợi lạc tứ chúng mà tịnh tu, nhưng ư niệm ta - người, lợi danh khá nặng. Một vị Tăng khác nghiêm tŕ giới hạnh, chuyên niệm Phật, hồi hướng cầu cho các chúng sanh sẽ được văng sanh, ư niệm ta - người, lợi danh rất nhẹ, [so ra hai người ấy] hơn - kém ra sao?

Đáp: Người sau trỗi hơn.

17) Hành giả lâm chung sanh Tây, cưỡi đài hoa sen th́ ngồi, hay quỳ, hay đứng?

Đáp: Ngồi.

18) Có lúc muốn làm một chuyện, tự cảm thấy dường như cũng mang ḷng từ mẫn, mà h́nh như cũng ôm ḷng ghen ghét, hoặc là mang ḷng hâm mộ quyền thế, tham lợi. Chẳng làm th́ sợ tổn hại đến ḷng từ mẫn, làm th́ sợ đọa vào t́nh kiến, ngay trong lúc ấy chẳng tự biết ư niệm là thiện hay ác, là nặng hay nhẹ! Lại chẳng thể cân nhắc sự duyên lợi - hại, hoăn - gấp. Lại không có thiện tri thức để quyết đoán th́ nên xử trí như thế nào là hay nhất?

Đáp: Gặp chuyện, nên lấy nghĩa làm chuẩn. Nếu không, sẽ trở thành người không có chủ ư ǵ hết!

19) Con trộm thấy có tăng sĩ chưa từng phải lo liệu [xây cất] chùa miếu, ư vẫn cho rằng nếu hoàn thành được một ngôi chùa để tự lợi, lợi tha, bèn có thể chuyên tâm niệm Phật, một dạ sanh Tây. Đến khi nhân duyên hợp đủ, chùa miếu đă hoàn thành, dần dần lại tham mến chùa miếu, mưu tính tích cóp sản nghiệp, nắm níu quẩn quanh, chần chừ, lầm lỡ chuyện văng sanh. Đấy mới chỉ là nêu một trường hợp làm thí dụ. Những kẻ khác th́ muốn thông giáo lư, trở thành nhà trước tác, và kẻ thế tục th́ mong cầu nhà cửa dư dả, con cháu hiển đạt v.v… Những điều này đều là đệ tử tự lượng thân phận, sợ sẽ giẫm theo vết xe đổ, nguyện tùy duyên niệm Phật chẳng mong tạo tác. Tuy chưa đạt đến mức ấy, nhưng thật ḷng muốn gắng công, có được hay chăng?

Đáp: Được.

20) Xưa kia tại Thượng Hải, đứa con gái thứ ba của con chết yểu, đau tiếc không sao nguôi được, do vậy tạm làm công đức cho cháu. Tiếp đó được thầy ban lời an ủi, khuyên nhủ, bảo là “nương nhờ sức Tam Bảo, con gái ông sẽ được sanh Tịnh Độ”. Đệ tử liền quyết định tin tưởng chẳng nghi, thôi than khóc v́ chuyện “lá vàng” [phải khóc cho lá xanh] nữa, nỗi buồn nhanh chóng ngưng dứt. Trong Lâu Các Chú Kinh có dạy: “Chép chú ngữ này để lên thân người chết, người chết liền được sanh về Tịnh Độ”. [Do vậy], con thường in những tấm chú này tặng cho thân hữu để họ dùng kèm thêm trong đồ liệm. Cũng có kẻ sanh ḷng tin quyết định, nói: “Người ấy ắt sanh Tịnh Độ, chẳng khởi tâm niệm ngờ vực”, tâm thật mừng vui an ủi. Có kẻ chẳng tin th́ nguyện dùng công đức tu tŕ, đủ mọi phương tiện khiến cho họ sanh ḷng tin tưởng kiên cố, cùng được thấm nhuần lợi ích nơi mặt pháp. Dụng tâm như thế có phải cũng là một phương pháp tự độ, độ tha, chân thật thọ dụng hay chăng? Không rơ con làm như vậy có bị lệch lạc, sai lầm hay chăng?

Đáp: Chú lực chẳng thể nghĩ bàn, tâm lực chẳng thể nghĩ bàn. Nếu tặng cho kẻ hờ hững, hời hợt th́ lợi ích cũng sẽ bị giảm nhẹ theo!

21) Công khóa hằng ngày của đệ tử là niệm Phật hai tiếng, niệm Quán Âm một tiếng, hễ bận th́ ngưng niệm Quán Âm. Bữa nào tâm cảnh thanh tịnh th́ niệm Phật tương ứng nhất (đối với chữ Ứng (), đệ tử chuyên đọc theo giọng Khứ Thanh, bản khắc kinh Hoa Nghiêm ở Hàng Châu ghi đọc theo giọng B́nh Thanh (tức Ưng), chưa biết đọc theo cách nào đúng hơn?)

Đáp: Đọc B́nh Thanh (tức Ưng) th́ có nghĩa là tâm và Phật tương ứng, đọc giọng Khứ Thanh (Ứng) th́ có nghĩa là cảm ứng đạo giao. Hai âm ấy đọc theo cách nào cũng được.

22) Gặp phải hôm sợ hăi, tham - sân - si lừng lẫy, con đem hai tiếng đồng hồ niệm Phật đổi hết thành niệm Quán Âm, c̣n ngày nào sợ hăi v.v… đều tiêu tan th́ vẫn niệm Phật hiệu, có được hay chăng?

Đáp: Được!

23) Xưa kia con được thầy rủ ḷng Từ dạy cho cách đọc kinh: Thân phải ngồi ngay ngắn như đối trước thánh dung, đích thân nghe viên âm, chẳng dám manh nha một ư niệm giải đăi, khởi một ư niệm phân biệt nào! Từ đầu đến cuối đọc thẳng một lượt, bất luận dù văn hay nghĩa đều nhất loạt chẳng bận tâm đến. Duyệt kinh như thế th́ người lợi căn sẽ có thể ngộ được lư Nhị Không, chứng được pháp Thật Tướng. Dẫu là kẻ căn khí ngu độn kém cỏi cũng tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng phước huệ. Nếu cứ một mực phân biệt câu này nghĩa như thế nào, đoạn này nghĩa ra sao th́ sẽ hoàn toàn là phàm t́nh vọng tưởng, ḍ đoán, suy lường, làm sao có thể ngầm thông ư Phật, viên ngộ ư chỉ của kinh để nhân đấy nghiệp chướng tiêu diệt, phước huệ tăng trưởng? Đệ tử cho rằng đoạn huấn thị này có lẽ là vô thượng diệu pháp để duyệt kinh. Nhưng nói: “Chẳng khởi phân biệt, dù văn hay nghĩa đều nhất loạt chẳng bận tâm đến” có phải là dốc cạn ḷng thành kính, nhận biết văn tự cho rơ ràng, âm thanh niệm đọc cho thuần thục trọn vẹn giống như các bà cụ già niệm kinh hay chăng? Bởi lẽ, trước đây đệ tử hay lo ra, nếu chiếu theo cách đọc không phân biệt chẳng quan tâm đến văn nghĩa th́ chắc là sẽ khó thể tâm đắc, chẳng sanh pháp hỷ. V́ thế, mỗi khi con đọc A Di Đà Kinh, Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, liền miệng tụng, chú tâm nơi sự trang nghiêm của cơi Cực Lạc, sự từ bi của đức Phổ Hiền tràn ngập cơi ḷng, pháp hỷ tràn trề. Kế đó, con nghĩ cách đọc như vậy chưa chắc đă khỏi rớt vào lối ṃn phàm t́nh vọng tưởng, ḍ đoán, suy lường. Dẫu cho có sở đắc nhỏ nhoi, nhưng ví như đối với nước bốn biển mênh mông bát ngát lại dùng tay vốc nước, đâm ra chỉ được một chút tẹo, đúng như thầy đă dạy “làm sao có thể ngầm hợp ư Phật, viên ngộ ư chỉ của kinh” cho được!

Đáp: Nếu văn lẫn nghĩa đều rơ ràng th́ hiểu rơ [từng câu, từng đoạn] đâu có trở ngại ǵ! Chỉ là chớ nên đặc biệt sanh tâm động niệm muốn thấu hiểu, chứ không phải là chỉ đọc, không được phép hiểu rơ!

24) Con lại thấy một vị Tăng nhận biết mặt chữ nhưng không hiểu ư, tŕ tụng kinh Pháp Hoa nhưng ḷng vui sướng tràn ngập nơi mặt mũi, đủ biết: Sanh được pháp hỷ hay không chẳng liên quan tới chuyện có hiểu rơ văn nghĩa hay không! Nếu có thể dùng tâm cung kính, tâm từ bi, chẳng khởi tâm phân biệt, chẳng bận tâm thấu hiểu văn nghĩa, cứ thẳng thừng mà đọc, tự nhiên sẽ đạt được lợi ích chân thật, tăng trưởng pháp hỷ. Ư con tính sau này cứ chiếu theo cách đọc ấy, hồi hướng Bồ Đề; chẳng biết là có trái nghịch, sai khác với ư chỉ ban đầu của lời thầy dạy hay chăng?

Đáp: Người thông minh trong thế gian phần nhiều là tâm thường cố thấu hiểu. Đối với nghĩa lư th́ được, chứ đối với pháp hỷ sẽ khó đạt được lắm!

25) Thêm nữa, giữa đọc và tụng th́ công đức nào lớn hơn?

Đáp: Khổng Tử đọc kinh Dịch, ba lượt đứt lề sách. Đọc sẽ có ích hơn [tụng] nhiều. Nếu không, sao Khổng Tử lại nhọc nhằn mở sách ra đọc như thế. Trong câu “đứt lề sách ba lượt” th́ [chữ “lề sách”] chỉ cho sợi dây bằng da để buộc các phiến gỗ hay các thẻ tre. Dây đă bị đứt ba lần tức là số lần mở sách ra đọc chẳng thể đếm được số!

26) Phần trường hàng của phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện thường được ghép trong Phật Học Nguyện Văn (“như thị Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na, như thị tận pháp giới, hư không giới” (Như nay đức Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na, trọn hết pháp giới, hư không giới như thế) v.v….) nếu chấm câu th́ nên chấm sau chữ Tỳ Lô Giá Na hay là chấm sau chữ “như thị”?

Đáp: Tám chữ đầu là nêu thí dụ, hai chữ “như thị” là tiếp nối ư trên.

27) Lại nữa, trong sách [Phổ Hiền] Hạnh Nguyện Phẩm Tập Yếu Sớ, cụ Đế Nhàn viết rằng: “Đối với câu kệ tụng ‘nguyện ngă lâm dục mạng chung thời’ (nguyện con lúc mạng sắp chấm dứt) nếu đổi hai chữ ‘nguyện ngă’ thành ‘thị nhân’ (người ấy) th́ [ư nghĩa] càng thêm rơ rệt”. Con trộm nghĩ nếu sửa như thế có lẽ th́ đối với hai câu “ngă kim hồi hướng chư thiện căn, vị đắc Phổ Hiền thù thắng hạnh” (con nay hồi hướng các căn lành, để được hạnh Phổ Hiền thù thắng) trong phần trên và câu “ngă thời ư thắng liên hoa sanh, hiện tiền thọ ngă Bồ Đề kư” (khi ấy, con sanh trong hoa sen tươi đẹp, ngay trong lúc ấy được Phật thọ kư cho con sẽ thành Chánh Giác) trong đoạn này, hai chữ Ngă đều chẳng thông suốt với nhau! Hơn nữa, theo phần Trường Hàng, khi lâm chung do nhờ sức tụng kinh, nương theo sức dẫn dắt của Nguyện Vương mà văng sanh Cực Lạc, liền thấy Phật Di Đà. Trong kệ tụng nói diện kiến Di Đà liền sanh về Cực Lạc, [nếu đổi chữ “ngă nguyện” thành “thị nhân” th́] tựa hồ như đă đẩy cái này lôi cái kia (chữ “đẩy” ở đây h́nh dung ư “gượng ép”) sao cho ư trong lẫn ngoài được khớp nhau. [Con cho rằng]: Nhằm rốt ráo làm cho hành giả mong mỏi được Phật Di Đà tiếp dẫn, cho nên nói hai chữ “ngă nguyện”. Con nghĩ giữ nguyên chữ [như trong chánh kinh] so ra thỏa đáng hơn. Kiến giải của con hèn tệ như thế, chẳng biết có thích đáng hay chăng?

Đáp: Ư này tuy do ngài Thanh Lương đề ra, nhưng chẳng phù hợp với kinh văn, đấy là ư phụ chứ không phải ư chánh. Nếu coi đấy là ư nghĩa chánh yếu sẽ trở thành trái nghịch kinh, chớ nên theo. Hễ theo sẽ phạm lỗi!

28) Gần đây đệ tử thường dựa theo phẩm Tịnh Hạnh [trong kinh Hoa Nghiêm] để phát nguyện, chỉ là gặp cảnh chạm sự liền niệm thầm “xin nguyện chúng sanh sẽ như thế này, thế nọ”. Chỉ cần niệm một lần hoặc là tùy ư tùy sức niệm liên tục chẳng quan tâm đến số biến. Lại nữa, nếu chẳng hiểu rơ ư nghĩa nguyện văn lắm th́ có thể dựa theo bài văn để đọc hay không?

Đáp: Pháp tu tŕ trọn chẳng nhất định. Người chuyên niệm Phật sao không do cơ duyên, do hoàn cảnh mà niệm. Lời văn phát nguyện th́ tùy ḷng ưa thích, chớ nên chấp bài này, chê bai bài kia, chấp bài kia, chê bai bài này là được rồi!

29) Năm trước con được thầy từ bi khai thị, bảo đệ tử tuổi đă gần năm mươi rồi, chớ nên nghiên cứu kinh, chỉ nên chết ḷng niệm Phật để mong văng sanh. Từ đấy con chẳng đổ công sức nghiên cứu nữa; chỉ có điều gần đây mở xem Đại Trí Độ Luận, Tử Bách Tập, các sách ấy giúp mở rộng tầm mắt, cảnh tỉnh, răn nhắc thân tâm khá nhiều. Nhưng ngoài lúc lễ tụng trong thời khóa chánh yếu ra, có nên nhân lúc rảnh rỗi xem đọc thêm đôi chút những loại kinh luận ấy hay không, hay là nhất loạt ngưng xem th́ mới nên?

Đáp: Tu tŕ không phải là chuyện đóng đinh, đẩy mái chèo, cần phải sống động, hoạt bát; tuy chết ḷng niệm Phật, nhưng xem thêm đôi chút kinh luận cũng chẳng phải là không được. Nhưng nếu coi Chủ Hạnh (hạnh chánh yếu) như chuyện kèm thêm th́ sẽ trở thành tu tŕ không có chỗ nương tựa. Tử Bách Tập tuy là cảnh sách, nhưng [những lời dạy của ngài Tử Bách] chú trọng nơi tham cứu; sao không dụng tâm nơi Tịnh Độ Thập Yếu? Ông cho rằng Tịnh Độ Thập Yếu chẳng có ích lợi sâu xa cho con người bằng Tử Bách Tập ư?

4. Đáp lời hỏi của ông Trác Trí Lập

Hỏi: Pháp môn Tịnh Độ đă có thể thích hợp khắp ba căn, thâu tóm trọn vẹn lợi căn lẫn độn căn. Trong thời đức Phật tại thế, sao không chuyên nói về Tịnh Độ để vạn pháp quy nhất, cùng về theo một đường, mà lại giảng bàn các tông, đâm ra khơi gợi lắm mối sai lầm đi vào ngơ rẽ khiến người đời sau bị mất lợi ích thật sự nơi Tịnh Độ vậy? (Trong lời hỏi, bên cạnh câu “sao không chuyên nói về Tịnh Độ”, Sư đă phê: “Nói nhăng, nói càn!”)

Đáp: Nuôi người chẳng phải chỉ một thứ gạo, trị bệnh chẳng phải chỉ có một thứ thuốc. Do có các môn th́ mới tỏ rơ sự hay tuyệt của pháp môn này. Nếu chỉ có một pháp Tịnh Độ th́ làm sao có thể dẫn hết thảy những cơ nghi cùng vào trong Phật pháp được?

Hỏi: Thế tục chuyên coi niệm Phật là để tiễn người chết, c̣n niệm Quán Âm nhằm giữ lại mạng sống. V́ thế, kẻ tu Tịnh Độ chưa tinh ṛng và người chưa già khi lâm chung phần nhiều do luyến tiếc cơi đời liền niệm Quán Âm. Người trợ niệm phần nhiều ngả theo ư này hoặc thuận theo ư muốn của gia quyến cũng niệm Quán Âm để trợ niệm, chứ không niệm Phật. Nếu lành bệnh th́ cố nhiên không áy náy ǵ. Chứ nếu không, đă gây trở ngại cho sự linh cảm do xưng danh, mà c̣n làm lỡ làng cơ duyên sanh Tây. Con chẳng biết nếu gặp phải hạng căn tánh ấy phải nên dùng biện pháp ra sao th́ mới viên thông? Có phải là trước hết niệm Quán Âm để giữ tánh mạng cho họ rồi đến khi họ đă chết bèn chuyển sang niệm Phật để tiễn đi hay chăng? Hoặc là từ đầu đến cuối chuyên niệm Quán Âm cũng có thể khiến cho người chưa hết tuổi thọ sẽ được lành, tuổi thọ đă hết sẽ sanh về Tây Phương ư?

Đáp: Con người bị bệnh nặng liền hăy nên có ư tưởng văng sanh, nhất tâm niệm Phật. Nếu tuổi thọ chưa hết sẽ do niệm Phật mà được chóng lành (A Di Đà Phật chính là Vô Lượng Thọ, nghĩa là tiêu tai, kéo dài tuổi thọ). C̣n như v́ người khác trợ niệm, há nên v́ họ niệm Quán Âm, lại c̣n cầu thọ cho người ấy? Cứ niệm Phật, chưa hết tuổi thọ cũng có thể kéo dài mạng sống. Niệm Quán Âm th́ không có tâm cầu được văng sanh. Nếu tuổi thọ đă hết sẽ làm hỏng chuyện.

Không phải là niệm Phật sẽ nhất định chết, niệm Quán Âm nhất định chẳng thể văng sanh. Chỉ v́ kẻ si không có tâm niệm cầu được văng sanh nên cũng chỉ tạo thành một thứ nghiệp cảm gây hỏng chuyện mà thôi! Vô Lượng Quang là tiêu tai, Vô Lượng Thọ là diên thọ (kéo dài tuổi thọ). Niệm A Di Đà Phật công sức đến cùng cực c̣n được thành Phật, há lẽ nào niệm Phật chẳng thể kéo dài tuổi thọ, khiến cho chóng chết ư? (Trong lời đáp, bên cạnh hai chữ “si nhân”, Sư gạch dưới ba vạch để nhắc nhở, những người sẽ chết sau này chớ đừng tự lầm)

Hỏi: Gần đây có người khuyên kiêng giết, nhưng do thấy người ta khó tránh giết, bèn dạy hăy dùng thuốc gây mê để giết, ngơ hầu loài vật khỏi phải chịu chết đau đớn, giống như cầu giảm tội xử chém thành tội thắt cổ. Pháp ấy cũng có thể được gọi là pháp phương tiện hay chăng?

Đáp: Chỉ có thể giảm khổ th́ cũng tốt.

Hỏi: Theo sách Thái Ất Thần Châm, châm xong phải uống rượu! Người giữ giới không uống rượu th́ tự ḿnh chớ nên áp dụng, nhưng có thể bảo người khác dùng rượu hay không? Cũng như có thể dùng rượu để chế thuốc hay chăng?

Đáp: Đây cũng không phải là cách chấp nhặt hẹp ḥi. Hễ có bệnh th́ niệm Phật hay niệm Quán Âm cũng đều được lành; huống hồ nếu không dùng rượu th́ [bệnh nhân] chắc chắn chẳng thể lành bệnh ư?

Hỏi: Dùng gạo thóc làm rượu, biến thực phẩm cứu đói thành thức uống xa xỉ, quả thật là kẻ phung phí vật thực của trời quá mức. Nếu trên thế giới đều cấm uống rượu hết th́ sẽ dư ra được bao nhiêu là lương thực cứu đói. Như vậy th́ uống rượu không chỉ làm loạn tánh mà thôi. Do vậy, nếu khi cả nhà đều kiêng rượu th́ có nên hủy hết những đồ để uống hay chứa rượu trong nhà hay chăng?

Đáp: Điều này cũng chớ nên chấp chết cứng. Nếu là món đồ vô dụng cho cả cơi đời th́ làm như vậy được. Nếu hữu dụng, tặng cho người khác đâu có ngại ǵ!

Hỏi: Người ăn chay trường kiêng cả rượu và Ngũ Tân, tông chỉ của chuyện ấy chẳng nhằm chỉ để tạo ra đầu mối kiêng giết chóc. Kẻ chưa ăn chay trường có được phép thay mặt người khác mua Ngũ Tân và rượu cùng hèm được chăng? Cũng như có được ăn các món thuốc chay chế từ rượu hay từ hèm và những món chay nấu nướng, nêm nếm với hèm hoặc rượu hay chăng?

Đáp: Mua giùm người khác cũng nên tránh. Những loại thuốc chế bằng rượu nếu chẳng gây loạn tánh th́ không sao. Nếu món chay mà hơi rượu quá nồng th́ đừng nên ăn, c̣n có mùi nhẹ th́ ăn không sao; đấy là v́ để khỏi bị say sưa loạn tánh vậy!

Hỏi: Dùng con vật c̣n sống để làm thuốc, bèn niệm Phật cho chúng được độ thoát. Làm như vậy dường như vẫn tạo thành thói tệ, bởi những kẻ giết những động vật thuộc loài thai sanh hay noăn sanh làm dược phẩm cũng có thể mượn cớ niệm Phật giải oan để lấp liếm, con cảm thấy khó ḷng giải nói được. Con lập nguyện hễ gặp những phương thuốc như vậy đều không thèm dùng tới, chẳng cần phải lưu truyền, chưa biết có được hay chăng? (bên cạnh chữ “được”, Sư khuyên một chấm, biểu thị đồng ư)

Đáp: Chuyện này cũng chớ nên chấp chết cứng! Chúng ta chỉ nên giữ ḷng Thành của chính ḿnh mà thôi!

Hỏi: Nếu thầy thuốc gặp phải kẻ ác và đồ tể, chài lưới, thợ săn v.v… mang bệnh đến xin chẩn trị, ta dạy họ sửa ác, kiêng giết, họ không chịu nghe, lành bệnh rồi vẫn [tiếp tục] tạo tội nghiệt, có nên mặc kệ họ không chữa hay chăng?

Đáp: Đây cũng là bàn chuyện vô lư. Như lời ông nói th́ đối với con vật gây tổn hại đến những con vật khác th́ cũng mặc kệ không cứu mới là đúng! Nếu thầy thuốc dùng ḷng Thành để cảm th́ bọn họ chắc cũng sẽ có thể thay đổi nghề nghiệp. Đức Phật c̣n dạy kẻ đồ tể nhận lănh các giới riêng, [nh́n vào đó] th́ có thể biết được cách tùy cơ khuyến hóa, dẫn dắt của đức Phật.

Hỏi: Trong nhà c̣n giữ những sách của ngoại đạo hoặc những sách tà - chánh hỗn loạn và sách của đạo Gia Tô, Tam Quan Kinh, Táo Quân Kinh, Huyết Bồn Kinh và những sách thuốc dạy người giết chóc bằng phương cách đặc biệt v.v… có nên đốt hết đi hay chăng? Lại c̣n trong những sách chú giải Tứ Thư của Châu Hy có những lời lẽ báng Phật có nên bôi đi hay là sửa chữa? Đối với lời văn báng Phật của Hàn - Âu có nên tùy theo sở kiến mà phê phán hay đốt đi hết? (Bên cạnh tên hai kinh Táo Quân, Huyết Bồn, Sư phê chữ “bôi đi”)

Đáp: Đối với những chỗ sai bậy trong lời chú giải của họ Châu nên phê theo lối Đảnh Cách (lời phê viết bên phải câu văn ấy, cao hơn một ḍng). Phàm những sách vở thế gian đa phần mắc phải khuyết điểm ấy. Nếu xét trên đại thể, [nội dung sách] phần lớn là tốt đẹp, vấp phải những lỗi nhỏ nhặt th́ hăy phê theo lối Đảnh Cách. C̣n sách phạm khuyết điểm quá lớn hay nói bậy th́ chớ nên giữ làm ǵ!

Hỏi: Những y phục có in chữ, hoặc h́nh tượng Phật v.v… có được dùng làm đồ liệm hay chăng? (Sư phê bên cạnh “không được”). Có nên đốt kinh điển cho người đă mất hay không? (Sư phê bên cạnh “đừng đốt bừa băi”)

Đáp: Nếu đốt th́ nên sắp đặt dụng cụ để đốt riêng, chớ nên đổ lẫn tro kinh vào tro giấy tiền vàng bạc để bán. Hăy nên đựng [tro kinh] vào túi riêng, dùng vải sạch may thành đăy, bỏ thêm cát sạch vào trong ấy. Có ai ra biển th́ [nhờ người ấy] gieo [đăy đựng tro kinh ấy] xuống chỗ sâu. Nếu không, đừng đốt. Nếu chẳng bỏ thêm cát [vào đăy chứa tro kinh], sợ nó không ch́m, sẽ trôi tấp vào bờ!

Hỏi: Thần có thể giết được kẻ đă làm ác, sao không giết trước khi nó làm như thế. Như sau khi Bạch Khởi chôn quân đầu hàng đến mấy vạn rồi mới bị tru lục ở Âm Phủ. Khi hắn sắp chôn sống [quân Triệu ra hàng] nhưng chưa kịp làm, sao không tru lục ngay để hắn khỏi chôn vùi được ai? Hay là những tên lính ra hàng ấy đời trước vốn thiếu nợ hắn cái mạng nên mới bị chôn sống? Chôn xong, oán cũ vừa xóa, oán mới lại kết, nên mới bị cơi Âm tru lục để hả ḷng oán đấy chăng? Hay là làm ác giống như uống thuốc độc, ắt phải đợi uống vào bụng xong mới bị trúng độc tự chết?

Đáp: Chưa làm mà đă bị giết th́ trong ngàn trăm vạn trường hợp mới có một trường hợp. Đă làm rồi mới giết th́ đấy chính là thường pháp theo thiên lư nhân t́nh vậy.

Hỏi: Nếu bảo là thần thánh có thể hộ pháp th́ sao lại đến nỗi có nhiều chùa bị vua này vua nọ hủy diệt. Nếu bảo là thần không hộ pháp th́ sao lại thường có những sự tích hiển hiện linh ứng, dẹp ma? Có phải là hộ pháp hay không hộ pháp đều là do nghiệp lực đồng phận của chúng sanh chiêu cảm sâu hay cạn mà bèn hộ pháp hay không đó chăng?

Đáp: Chuyện này chớ nên chấp chết cứng. Ấy là do pháp vận thông hay tắc, cũng như trong một năm nóng - lạnh thay phiên nhau theo thứ tự vậy.

Hỏi: Lịch đại tổ sư như chư Tổ của Liên Tông v.v…sau khi đă khuất, được người ta b́nh luận, phán định ra sao th́ mới được cả cơi đời tôn sùng là Tổ?

Đáp: Có đức lớn th́ người ta tự chịu suy tôn, há cứ nên chấp hẹp ḥi là cần phải có người b́nh luận, đánh giá hay chăng?

Hỏi: Học thuyết trong thuật Địa Lư quá phiền, tinh thông thuật ấy chẳng dễ. Địa Lư chẳng tinh tường th́ dẫu chọn đất vẫn chẳng chọn được. Chọn lựa đất tinh tường, nhưng chẳng chọn tinh tường cái tâm, rốt cuộc đến nỗi biến cát thành hung th́ tuy chọn được vẫn giống như chưa được! Đấy gọi là “nếu không có tâm điền th́ cũng chẳng có phước địa”.

Thế tục chỉ nói đến Địa Lư, chẳng nói tới Thiên Lư. Chỉ lo Phong Thủy bị tổn thương, chẳng lo báo ứng không sai. Hễ gặp chuyện ǵ trái ư bèn đổ thừa Địa Lư chẳng tinh tường, lo cái kia gây trở ngại cho cái này, vô sự sanh sự, luôn luôn ươm thành những tấn tuồng xấu ác, quên gốc chạy theo ngọn, đâu đâu cũng đều như thế cả! So ra, [hoàn cảnh của] những kẻ không nhắc đến Thiên Lư c̣n tệ hơn kẻ không nói đến Địa Lư quá nhiều! Người thờ Phật ngăn chặn thói tệ từ lúc nó mới chớm nẩy, tận lực uốn nắn những thói toan tính tệ hại của thế tục. Nếu gặp chuyện xây mồ, cất nhà, có nên tùy duyên chọn vị trí thích hợp, hay chỉ y theo Phật lư, giữ thiên lư, chẳng theo lư lẽ thế tục để nói đến Địa Lư hay không?

Đáp: Tuy chẳng ra sức nói tới, cũng chớ nên hoàn toàn chẳng để cho thầy Địa Lư xem qua. Đấy gọi là “trọn hết chuyện con người trước đă!” Nếu quanh năm nuôi nấng cung phụng gă thầy Địa Lư có mắt như mù th́ sẽ đều là hạng người cuồng vọng, chẳng tuân theo thiên lư, chẳng hiểu rơ Địa Lư.

 

5. Đáp lời hỏi của Thôi Thụ B́nh cư sĩ

Hỏi: Địa Tạng Vương Bồ Tát là bậc phụng hành Phật pháp, nhậm chức U Minh Giáo Chủ trong chốn Âm Tào, vào trong lục đạo để độ chúng sanh. Nhưng thường nhân hay tưởng lầm Ngài là thần kỳ hoặc là linh quỷ. Những loại quan niệm như vậy chẳng phải chỉ có một mà thôi. Làm thế nào để phân biệt vị Bồ Tát phụng hành Phật pháp và thiên tiên, quỷ thần?

Đáp: Thần kỳ là do nghiệp báo cảm thành nên có thể bảo là “nhậm chức”, chứ Địa Tạng Bồ Tát do hoằng thệ đại nguyện bèn ở trong U Minh độ thoát chúng sanh, sao lại bảo là Ngài “nhậm chức”? Người đời chẳng hiểu rơ phàm - thánh, nhất loạt coi là quỷ thần, cũng không có chi lạ cả! Ví như đứa bé chỉ biết người trong nhà, hết thảy những người khác nó đều hoàn toàn chẳng biết tới, sẽ bảo hết thảy mọi người đều chẳng tôn quư bằng cha mẹ nó! Đă biết: Bậc đoạn Hoặc chứng Chân liễu sanh thoát tử chỉ mới là bậc thánh nhân trong Tiểu Thừa; c̣n bậc phá vô minh, chứng Pháp Tánh th́ mới đáng gọi là Đại Thừa Bồ Tát. Nhưng [những vị nào] chưa đoạn phiền năo, cậy vào phước lực trong đời trước th́ sẽ làm thần kỳ, địa vị c̣n kém xa chư thiên, huống là so với bậc đại Bồ Tát đă chứng Pháp Thân ư? Nếu chẳng biết Phật pháp th́ có phán định cũng chẳng hiểu rơ. Nếu đă biết Phật pháp th́ cần ǵ phải phán định nữa!

Hỏi: Cảm Ứng Thiên là do ai trước tác? Đối với sách vở của các tôn giáo khác th́ dùng pháp nào để phân biệt, đoán định?

Đáp: Bản Cảm Ứng Thiên thường được lưu hành có ghi hai chữ Thái Thượng, [là v́ người đời] cho [tác phẩm này] là do Lăo Tử viết ra. Cũng có kẻ cho rằng nó vốn là [một thiên sách trích từ bộ] Băo Phác Tử rồi được mở rộng ra. Nhưng bất tất phải xét t́m ai là tác giả? Chỉ cần quan tâm đến những điều lợi ích do sách ấy đem lại. Đấy gọi là “chẳng v́ người mà bỏ lời” vậy! Tuy thánh nhân lập pháp, nhưng cố nhiên không nhất định phải coi [toàn bộ] những lời thánh nhân [đă nói] là khuôn mẫu, chỉ nên quan tâm chọn lấy những ǵ có ích cho thế đạo nhân tâm. Trùng Văn, Điểu Thư là đầu mối mở mang văn tự lớn lao, nào dám v́ Trùng, Điểu không đáng trọng mà chẳng dùng đến văn tự ư? Nêu lên một chuyện này th́ sẽ có thể dứt được những lời lẽ rườm rà vô ích bàn bạc đúng - sai xằng bậy! Những lời lẽ rườm rà ấy vẫn chẳng có phong vị thiên nhiên như chim mùa Xuân ríu rít lúc ban ngày, trùng mùa Thu rền rĩ ban đêm vậy.

Hỏi: Thế nào là Ngũ Bộ Lục San?

Đáp: Đấy là sách do ngoại đạo bịa đặt viết ra, chia thành năm bộ loại, nhưng có sáu cuốn, nên gọi là Ngũ Bộ Lục San. Loại sách ấy cần ǵ phải hỏi đến? Hỏi đến th́ sẽ giống như chẳng coi Tứ Thư Ngũ Kinh là đúng, cứ muốn nghiên cứu những khúc hát quê mùa do lũ trẻ nít xướng lên ngoài ngơ! Uổng phí tâm thần, trọn chẳng có ích ǵ!

Hỏi: B́nh (Thôi Thụ B́nh tự xưng) làm luật sư, thụ lư hồ sơ vụ án. Do chức vụ, con phải soạn án từ, cố nhiên vẫn tùy thời chú ư để khỏi gieo nhân ác. Nhưng để giải oan cho người khác, con thường gặp những trường hợp có đủ chứng cớ phạm tội, khi giao cho Đề H́nh khởi tố, tuy bản án phát xuất từ ư chỉ của những người được ủy thác [làm nhiệm vụ xét xử], nhưng do con soạn án từ mà kẻ ấy bị lănh tội, trong tâm trọn chẳng yên. Những kẻ nắm giữ luật pháp hiện thời chỉ nói riêng tại Thượng Hải đă có hơn tám trăm người, cố nhiên chẳng thiếu những kẻ c̣n giữ được một ít lương tâm, nhưng có rất nhiều kẻ tuy chẳng cẩn thận vẫn chẳng hề bận tâm, thậm chí hèn tệ chẳng thể kham được! Những người trực tiếp hay gián tiếp mắc phải họa hại bởi lũ ấy không thể nào gập ngón tay [để đếm xuể]. Dám xin thầy khai thị, đấy cũng là một đầu mối để cứu văn ḷng người vậy.

Đáp: Đối với những chuyện ấy phải thường xuyên giữ ḷng nghĩ tưởng trời đất, quỷ thần, Phật, Bồ Tát đều thấy rơ, biết tỏ cái tâm của ta th́ sẽ tự chẳng đến nỗi tạo ác nghiệp. Nếu không, vốn nhằm giải quyết khó khăn, tháo gỡ rắc rối mà lập ra biện pháp ấy, nhưng thật ra là căn cứ để gạt gẫm dân lành, ban thưởng khích lệ kẻ gian trá. Đáng sợ đến cùng cực! Nếu có cách sanh sống khác, cố nhiên tốt nhất là nên thoát khỏi phạm vi ấy!

 

6. Đáp lời hỏi của Huyễn Tu Học Nhân

Hỏi: Chuyên tu tŕ danh, nguyện được Niệm Phật tam-muội, cầu sanh Tịnh Độ th́ dụng công ra sao?

Đáp: Dùng tín nguyện sâu để niệm Phật. Niệm Phật tam-muội cũng chẳng dễ ǵ đạt được, nhưng phải thường nên phát cái tâm ấy. Đấy gọi là “noi theo pháp bậc thượng, chỉ đạt được bậc trung”.

Hỏi: Có kẻ nói niệm ra tiếng, tŕ danh theo lối Truy Đảnh, có người bảo niệm Kim Cang tŕ, có người nói niệm thầm, có người bảo nhớ số, có người nói “tùy tức” v.v… Muốn đắc nhất tâm bất loạn th́ có nên chuyên tŕ một pháp hay không?

Đáp: Truy Đảnh dễ bị bệnh. Niệm lớn tiếng, nhỏ tiếng, niệm Kim Cang hay thầm niệm, đều tùy theo tinh thần của chính ḿnh mà điều chỉnh để dùng. Há nên chấp chết cứng một pháp đến nỗi bị bệnh ư? Tùy Tức chẳng bằng Tịnh Thính (lặng lẽ lắng nghe), bởi lẽ Tùy Tức không khéo th́ cũng bị bệnh, c̣n Tịnh Thính th́ chẳng bị bệnh!

Hỏi: Có lúc Kim Cang tŕ, có lúc niệm thầm, có lúc nhớ số, có lúc niệm theo lối Tùy Tức v.v… chẳng biết [niệm như vậy] có gây trở ngại cho nhất tâm hay không?

Đáp: Nhất tâm là do niệm, chứ không phải do âm thanh niệm Phật, sao lại bảo là trở ngại? Nhớ số cũng chỉ là nhớ khi động, chứ khi ngồi tịnh tọa chỉ nên niệm thầm, đừng nên lần chuỗi. Nếu lần chuỗi ắt bị tổn thương.

Hỏi: Hiện thời trong khi tịnh tọa, học nhân niệm ra tiếng bốn chữ hồng danh, nhiếp tâm niệm thiết tha, áp dụng phương pháp “tâm - miệng [niệm Phật] phân minh, rơ ràng để chấp tŕ, dùng tai lắng nghe”, hơi cảm thấy khinh an (nhẹ nhàng, dễ chịu). Con muốn tu sao cho đạt đến nhất tâm bất loạn th́ có thể chuyên hành pháp ấy ḥng đạt được hay không?

Đáp: Pháp ấy rất hay! Lúc tịnh tọa nên niệm thầm, niệm ra tiếng cũng được. Nhất tâm bất loạn là do tâm chuyên chú và khẩn thiết vậy!

Hỏi: Trong bộ Văn Sao cao quư của thầy, pháp Tùy Tức được cực lực đề xướng, nhưng chưa nói rơ cách niệm như thế nào? [Niệm Phật Tam Muội] Bảo Vương Luận ghi: “Có thể nương cậy lớn lao vào pháp này”, nhưng cũng chỉ nói: “Xưng danh hiệu Phật theo hơi thở”, con vẫn chưa hiểu rơ cách niệm như thế nào? Chỉ có sách Sức Chung Tân Lương ghi: “Tùy Tức Niệm Phật dùng khi thở ra chứ không dùng khi hít vào. Cứ mỗi một hơi thở ra là một câu, hoặc hai chữ đều được” Học nhân nghi rằng: Khi hít vào chẳng niệm, há chẳng phải là gián đoạn ư? Con thường thử luyện mỗi hơi thở ra là một câu, cảm thấy rất phí sức, mà niệm cũng chẳng rơ ràng cho lắm! Chỉ có khi hít vào niệm A Di, thở ra niệm Đà Phật th́ đă không gián đoạn, mà c̣n được rơ ràng, lại chẳng tốn sức. Chẳng biết cách niệm như vậy có được hay chăng? Hay là lúc hít vào th́ chẳng được niệm?

Đáp: Khi hít vào chẳng niệm, trong khi ấy sao lại nói là gián đoạn? Thở ra niệm một câu, hít vô bèn chẳng niệm; chứ khi hít vô lẫn thở ra đều niệm ắt sẽ bị tổn khí. Nếu chỉ niệm hai chữ th́ trong một hơi hít vô thở ra niệm một câu Phật hiệu sẽ chẳng trở ngại chi!

Hỏi: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”, hành tŕ như thế nào?

Đáp: Tông chỉ của Niệm Phật là sanh ḷng tin chân thật (tức Tín), phát nguyện thiết tha (tức Nguyện), chuyên tŕ Phật hiệu (tức Hạnh). Ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh là tông chỉ của Niệm Phật. Phương pháp dụng công Niệm Phật hay nhất là “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”. “Nhiếp trọn sáu căn” là cái tâm niệm Phật chuyên chú nơi danh hiệu Phật, tức là nhiếp Ư Căn. Miệng phải niệm sao cho rơ ràng rành rẽ, tức là nhiếp Thiệt Căn. Tai nghe cho rơ ràng rành rẽ tức là nhiếp Nhĩ Căn. Ba căn ấy được nhiếp trong Phật hiệu th́ mắt quyết chẳng thể nh́n ngó loạn xạ. Khi niệm Phật nên buông rèm mắt xuống, tức là hạ thấp mí mắt xuống, chớ nên mở banh mắt. Mắt đă nhiếp rồi th́ mũi cũng chẳng thể ngửi loạn được, tức là mũi cũng được nhiếp! Thân phải cung kính tức là thân cũng bị nhiếp. Sáu căn đă nhiếp, chẳng tán loạn th́ tâm không vọng niệm, chỉ nghĩ đến Phật; đấy mới là tịnh niệm.

Hễ sáu căn không nhiếp th́ tuy niệm Phật trong tâm vẫn có vọng tưởng tơi bời, khó đạt được lợi ích thật sự. Nếu có thể nhiếp trọn sáu căn để niệm th́ gọi là “tịnh niệm tiếp nối”. Tịnh niệm đă có thể thường tiếp nối th́ nhất tâm bất loạn và Niệm Phật tam-muội sẽ đều có thể dần dần đạt được. Xin chú ư chỉ mong đạt được “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” th́ nghiệp sẽ tiêu, trí sẽ rạng, tâm địa sẽ khai thông, lo ǵ chẳng hiểu rơ nghĩa kinh nữa! Xin hăy gắng sức!

 

7. Đáp lời hỏi của cư sĩ Châu Văn San

Con có những điều thưa hỏi kể ra như sau, kính xin thầy chỉ bày. Công đức vô lượng!

1) Lăo pháp sư niệm Phật phát chí nguyện lớn lao như thế nào?

Đáp: Nguyện sanh Tây Phương, thấy Phật, nghe pháp, chứng Vô Sanh Nhẫn, trở vào Sa Bà phổ độ chúng sanh.

2) Thân người cầu liễu thoát đến nơi đâu?

Đáp: Đến Cực Lạc thế giới.

3) Phật nói: “Chúng sanh đều có trí huệ của Như Lai” là đă gộp cả Tín - Nguyện - Hạnh vào trong ấy hay chăng?

Đáp: Trí huệ của Như Lai không pháp nào chẳng bao gồm, nói trên phương diện chúng sanh th́ chỉ là Lư Tánh mà thôi, chớ nên hiểu lầm!

4) Chúng sanh cơi Sa Bà sanh vọng tưởng th́ là Ngă Kiến hay không phải Ngă Kiến?

Đáp: Vọng tưởng bao gồm hết thảy phàm t́nh, Ngă Kiến là [phàm t́nh] nặng nề nhất.

 

8. Đáp lời hỏi của cư sĩ Du Đại Tích

Kính đem những nghĩa con thường nghi chia thành mười bốn điều như sau, cúi xin thầy chỉ dạy uốn nắn.

1) Người tu hành dứt ác làm lành là chuyện thuộc về bổn phận, đáng nên gắng công, nhưng có điều ngoài công khóa và mười hai thời ra, ba tâm quá khứ, hiện tại, vị lai qua lại loang loáng, nói chung là chưa thể trừ. Tâm nghiệp chưa trừ cho sạch được th́ có gây trở ngại cho sự văng sanh hay chăng?

Đáp: Công khóa hăy nên chuyên, đừng nên xen tạp. Hễ chuyên sẽ dễ nhiếp tâm, c̣n tạp sẽ khó thể quy nhất được! Văng sanh là do tín nguyện chân thiết. Nếu không có ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, dẫu cho tâm thanh tịnh cũng khó được văng sanh. Chớ nên không biết!

2) Cổ đức nói: “Ái chẳng nặng chẳng sanh Sa Bà”. Phải nên trừ ái là lẽ đương nhiên! Nhưng trong ṿng con cháu, giữa lẽ lợi - hại, nói chung chẳng thể mặc kệ, quên bẵng t́nh cảm th́ làm như thế nào để chế ngự được?

Đáp: Yêu thương con cháu th́ phải yêu thương theo đúng lẽ đạo: Dạy cho chúng nó đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, tín nguyện niệm Phật th́ ḷng yêu thương ấy liền trở thành Trợ Hạnh cho tịnh nghiệp. Đấy chính là căn cứ lớn lao để ngừa hại đạt lợi vậy!

3) Tử Bách lăo nhân nói: “Làm chủ được giấc mộng th́ khi lâm chung sẽ tự chủ được”. Như vậy là cảnh trong mộng hết sức quan yếu! Khi lên giường sắp ngủ, con cũng từng niệm thầm, nhưng đến khi mộng vẫn là tơi bời tán loạn, chẳng dính dáng ǵ đến Niệm Phật hết. Thậm chí có lúc [nằm mộng thấy] ăn mặn, có khi biết ngay, hoặc chẳng biết liền, thật đáng hận, đáng thẹn! Con nên dùng cách nào để văn hồi?

Đáp: Muốn mộng cảnh tương ứng hăy nên cật lực cầu tương ứng trong khi ban ngày. Nếu lúc tỉnh thường tương ứng th́ trong mộng sẽ tự được tương ứng.

4) Người tu hành có cảnh giới tốt đẹp th́ hoặc mộng đến Tây Phương, hoặc gặp mặt Di Đà, hoặc ngửi thấy mùi hương lạ, hoặc thấy hoa sen. Cư sĩ Vương Quư Quả ở tỉnh Tương (Hồ Nam) thường được thấy như thế. Con niệm Phật suốt mười năm không có tướng lành nào phát hiện, lỡ lâm chung vẫn như thế th́ có phải sẽ khó đến được Cực Lạc hay chăng? Rốt cuộc có nên cứ để xuôi theo tự nhiên, đừng sanh ḷng mong mỏi ǵ hết ư?

Đáp: Chỉ cầu tâm hợp với Phật, chẳng cần phải dốc sức để thấy được cảnh giới. Tâm đă tương ứng với Phật mà có tín nguyện chân thật sẽ chắc chắn văng sanh. Nếu tâm mong cầu cảnh giới mà chưa tương ứng th́ hễ có cảnh hiện ra, có thể sẽ bị ma dựa.

5) Tuổi tác già suy, chẳng thể thức dậy ngay trong đêm. Con có nên suốt cả một ngày tận hết tâm lực để dụng công [tụng niệm, tu tập], đến chỗ nào cần phải thể hiện ḷng thành kính nhưng tâm không thấy được th́ lạy nhiều để biểu lộ. Trong mười đại nguyện vương, điều đầu tiên là lễ kính, lợi ích như thế nào?

Đáp: Tuổi già thân thể vẫn mạnh th́ cố nhiên lễ nhiều là tốt. Chứ nếu không th́ trong hết thảy thời, hết thảy chỗ thường giữ ḷng kiêng nể th́ cũng là ư nghiệp lễ kính!

6) Khi niệm Phật, ngồi xếp bằng trước tượng Phật, miệng niệm, tai nghe, tay lần chuỗi, tâm tưởng Vô Lượng Quang Phật để mong tam mật tương ứng, nhưng vẫn không thể tránh khỏi hôn trầm, tán loạn th́ nên thong dong để đợi khi thuần thục hay là có pháp nào để giúp đạt được “nhiếp trọn sáu căn” hay chăng?

Đáp: Ngồi xếp bằng niệm th́ chớ nên lần chuỗi. Hễ lần chuỗi, tâm sẽ khó lắng bặt suy tư, có thể bị bệnh. Hăy nên dựa theo đồng hồ để tính số câu niệm, một khắc niệm được bao nhiêu câu Phật hiệu sẽ giống hệt như lần chuỗi. “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” chính là pháp chế ngự cái tâm hay nhất.

7) Ưa điều lành dường như phát xuất từ tánh mà thành. Chỉ v́ lực bất tùng tâm nên chẳng thể tài thí, cũng không thể pháp thí được. Chỉ đành hễ gặp ai th́ đều khuyên bảo niệm Phật, ăn chay. Cũng như năm năm trước đây, buổi sáng con tụng công khóa, buổi chiều ra khỏi cửa thu nhặt giấy có viết chữ bị [người ta] quăng bỏ; gần đây tinh lực suy nhược hơn, công khóa cũng tăng, chẳng thể chuyên chú, thành kính đi ra ngoài thâu nhặt [giấy có viết chữ] được nữa. Chỉ trong lúc đi đường th́ vẫn chú ư thâu nhặt; xét ra có trở ngại ǵ cho việc niệm Phật hay không?

Đáp: Người niệm Phật nên tu hết thảy thiện hạnh, nhưng cần phải chia ra thành Chủ - Bạn, Chánh - Trợ. Nếu đảo lộn vị trí của Chủ và Bạn sẽ được lợi rất nhỏ. Nếu có thể dùng Bạn để giúp cho Chủ th́ sẽ như một người khoanh tay, trăm quan lo liệu việc cai trị, nào c̣n có trở ngại ǵ để nói nữa đây?

8) Tam phước, tam tâm trong Quán Kinh phải giữ ǵn cẩn thận, hễ hơi dễ duôi liền mất ngay, chưa khỏi có chỗ không thực hiện được! Con thường tự oán, tự thẹn, do vậy thường niệm Sám Hối Văn, rốt cuộc có tiêu trừ được tội khiên hay không?

Đáp: Tiêu trừ tội khiên chẳng thể nói lơ mơ được. Chẳng viên thành Phật đạo sẽ chẳng thể nào hết sạch tội khiên! Chúng ta tiêu trừ được bao nhiêu chỉ là do ḷng Thành cạn hay sâu mà định.

9) Người già dẫu khỏe mạnh cũng chẳng đáng tin cậy, phải chuẩn bị sẵn biện pháp cho cái chết. Con tính không nhận lễ phúng điếu, lúc liệm hoàn toàn dùng vải, chỉ mặc một cái áo hải thanh, y năm điều, ngọa cụ xếp bên cạnh. Nếu dựa theo cấm chế của Phật th́ những thứ ấy chẳng dùng để liệm theo, nhưng nay người ta thường liệm theo [người chết]. Có nên chẳng câu nệ đội măo Tăng, đi hài Tăng, hết thảy [cỗ bàn cúng bái] đều dùng món chay, cúng thất, thỉnh Tăng niệm kinh?

Đáp: Nên lấy những lời khuyên răn nhắc nhở trong Văn Sao của Quang để dặn sẵn con cháu, [bảo họ] ắt phải chiếu theo đó để hành, ngơ hầu ông chẳng đến nỗi bị con cháu phá hoại chánh niệm.

10) Niệm Phật tự biết chẳng đắc lực, muốn tăng thêm công khóa nhưng chỉ v́ không có sức, lại không có thời gian, nếu cứ để như vậy măi, sợ ít có cơ hội nắm chắc văng sanh, nhưng chí lại quyết muốn văng sanh, rốt cuộc con nên dùng cách nào để có thể muôn phần trông cậy?

Đáp: Được văng sanh hay không, hoàn toàn do có tín nguyện hay không? Sao lại nói bừa, tán gẫu, chẳng lấy lời cổ nhân đă nói để làm kim chỉ nam vậy?

11) Ở nơi đây hai thứ Long Hoa Giáo và Tiên Thiên Giáo rất thịnh hành. Khuyên can, ngăn trở th́ chúng nó cứng chắc không thể phá, khoe hai giáo ấy cũng sanh về Tây phương được. Rốt cuộc [tu tập hai giáo ấy] có thể làm trợ nhân [cho sự nghiệp văng sanh] hay chăng? Nếu có thể làm như vậy được th́ con sẽ học theo để “tắt lại càng thêm tắt!”

Đáp: Ông đă quy y Phật pháp, tu tŕ Tịnh nghiệp, mà c̣n nghe theo lời ma mị của ngoại đạo, muốn học theo. Sao chẳng biết tốt - xấu đến mức như thế?

12) Khi niệm Phật tâm thường hay tán loạn, có kẻ nói là bị ảnh hưởng bởi tuổi tác. Nếu như tuổi già tâm tán loạn, chẳng thể thâu tóm được, th́ người già quyết chẳng thể văng sanh ư? Rốt cuộc có phải là v́ tuổi tác hay là do công phu chưa đến mức đúng đắn?

Đáp: Ông không nhất tâm là do trong tâm không có chánh kiến; do không có chánh kiến nên không có ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha. Hễ có tín nguyện chân thật, thiết tha, dẫu chưa thể nhất tâm vẫn được văng sanh. Nếu không có tín nguyện chân thật, thiết tha, dù có thể nhất tâm, cũng khó thể văng sanh bởi văng sanh là do nương vào Phật lực vậy.

13) Trong số các đạo hữu ở đây, có một người rất chịu dụng công, thọ giới, ăn chay trường, chỉ có điều nhà ông ta giàu nứt đố đổ vách nhưng đối với chuyện công đức chẳng chịu bỏ tiền ra, [như vậy th́] có trở ngại cho sự niệm Phật sanh về Tây phương hay không?

Đáp: Gă thần giữ của ấy tâm địa ô trược, hèn tệ, vẫn muốn cho con cháu phú quư lâu dài. Sợ rằng do cái tâm tham tài sẽ chuyển thành quả báo sanh trong loài ngạ quỷ cho nên trong kiếp vị lai hắn mới được thọ dụng thiện căn niệm Phật.

14) Một người suốt ngày niệm Phật và cùng với mọi người niệm Phật nửa ngày th́ so ra lợi ích nào lớn hơn? (Hội niệm Phật ở nơi đây cứ vào ngày thứ Tư liền nhóm chúng niệm Phật nửa ngày).

Đáp: Cùng nhau niệm Phật là chuyện đề xướng. Tùy phận tùy lực tu tŕ cố nhiên chẳng ăn nhập ǵ tới niệm chung với đại chúng hay hành riêng một ḿnh; nhưng muốn tu hành thật sự hăy nên bớt phô trương ngơ hầu có lợi ích thật sự.

Mười bốn điều trên đây phần nhiều là đại bệnh sát sao của Đại Tích, nên con chẳng ngại mạo muội thưa hỏi từ nơi xa xăm, thiết tha cầu xin thầy chia thành từng điều để chỉ dạy. Thầy liền phê ngay vào lá thư gốc, chẳng khác nào ḷ rèn nung luyện vậy. Đệ Tử Du Đại Tích dập đầu lần nữa.

[Sư phê]: Xin hăy đọc kĩ Văn Sao th́ mọi mối nghi sẽ tự cởi gỡ. Ở đất Hỗ do lắm việc bận bịu nên tôi chẳng thể viết cặn kẽ được!

 

9. Đáp lời hỏi của cư sĩ Vương Tụng B́nh (lược câu hỏi đi)

1) Tịnh Độ là “duy tâm sở tạo” (chỉ do tâm tạo) th́ hăy nên nói là “duy tâm”, chẳng nên vừa gọi là Tịnh Độ, lại vừa gọi là “sở tạo”. Nếu đă là cơi Tịnh Độ chỉ được tạo bởi tâm, sao lại chỉ nói là duy tâm, chứ trọn chẳng có Tịnh Độ nào khác là cảnh ở bên ngoài ư? “Duy tâm Tịnh Độ” là dùng tâm thanh tịnh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Đến khi lâm chung, sẽ do tịnh tâm của chính ḿnh mà cảm đức Phật tiếp dẫn văng sanh Tây Phương. [Chẳng hạn] như phương này chính là duy tâm Tịnh Độ. Nếu không có Tịnh Độ th́ chỉ có thể nói là “duy tâm”, há lẽ nào từ trong Không lại sanh ra Có, có thêm một cái Tịnh Độ nữa ư? Lại có thêm một cái được tạo nữa ư? Vốn không có Tịnh Độ th́ tạo cái ǵ? Kẻ tà kiến ngăn trở người khác tu hành, tự cao giọng đề xướng, chẳng biết những lời lẽ của chính ḿnh đă hoàn toàn mâu thuẫn lẫn nhau. Muốn phá người khác tu tŕ nhưng thật ra là tự phá, tự phô bày tri kiến tà vạy, lầm lạc mà thôi!

2) Độc ác và từ thiện chẳng chống trái nhau. Nếu ai tâm không độc ác th́ rắn, cọp cũng có thể làm bạn được. Dẫu chưa đạt đến địa vị ấy, nhưng nếu là người lành thường niệm Phật, niệm kinh, chắc chắn chẳng bị những giống ấy làm hại. Do sẵn ḷng từ thiện sẽ có thể cảm hóa được những loài độc ác ấy, huống chi người tu hành thường được thiện thần hộ vệ ư?

3) Chưa đạt đến địa vị “Chân cùng, Hoặc tận” th́ tự nhiên thân tâm thế giới sẽ là có thật. Đă đạt đến địa vị “Chân cùng, Hoặc tận” th́ trong cái nh́n của người đó [thân, tâm, thế giới] đều là không, c̣n trong cái nh́n của người chưa đắc được đạo ấy th́ chúng đều là có. Chớ nên lẫn lộn thánh - phàm, lư - sự để rồi ăn nói hàm hồ, xằng bậy! Bản thể của tâm chúng sanh chính là Chân Như Thật Tướng, hiềm rằng do [chúng sanh] chưa ngộ được nên tuy suốt ngày nương vào sức Chân Như ấy mà suốt kiếp vẫn chẳng biết Chân Như nằm đâu! [Tuy] nói “vô minh vốn không có cội rễ, đầu mối”, nhưng do chúng sanh chưa ngộ, lại muốn dạy cho họ biết về cái chẳng phải tự họ vốn sẵn có, cho nên nói là “Chân Như chẳng giữ lấy tự tánh, nhưng khởi vô minh”, chứ thật ra chẳng phải là ban đầu không có [vô minh], về sau lại có! Nói như vậy là v́ muốn cho người khác dễ hiểu bản thể.

Ví như vàng nằm lẫn trong quặng, chứ không phải thoạt đầu thuần là vàng sau đó mới sanh ra quặng. Cần biết rằng: Vàng nằm trong quặng, nhưng vàng vẫn chẳng phải là quặng. Luyện quặng sẽ được vàng, quặng chẳng trộn lẫn vào vàng. Chúng ta hăy nên dốc sức ở chỗ phá vô minh, chớ nên bận tâm nơi những danh từ như “thế giới có hay không, Chân Như, vô minh, sanh diệt” để rồi sanh nghị luận lầm lạc!

Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa Bát Nhă Ba La Mật Đa nên thấy thấu suốt Ngũ Uẩn đều không, thân, tâm, thế giới chính là Ngũ Uẩn. Chúng ta chưa đạt đến địa vị Bát Nhă sâu xa, hăy nên coi thân, tâm, thế giới là thật có. Thế giới hư huyễn, nhưng phàm phu thường nghi [điều ấy] là sai; chứ nếu phàm t́nh đă hết sạch th́ sơn hà đại địa đều chẳng trở ngại lẫn nhau. V́ thế, cổ đức nói: “Nếu có thể ngay lập tức mất sạch t́nh kiến th́ sẽ đi thẳng qua vách núi [không bị ngăn ngại ǵ]”.

 

10. Đáp lời hỏi của cư sĩ Duyên Tịnh

Hỏi: Hành nhân niệm Phật, đầu tiên phải lấy nghiêm tŕ Ngũ Giới làm nhiệm vụ cấp bách, ngơ hầu niệm Phật dễ được tịnh tâm, lâm chung văng sanh cũng ổn. Nhưng hai chúng tại gia sống nơi Phật pháp suy đồi, khó thể t́m được một vị cao tăng ḥng thọ giới đúng pháp. May là trong kinh Phạm Vơng từng mở ra một phương tiện lạ, cho phép đối trước tượng Phật chí thành sám hối bảy ngày, nếu thấy hảo tướng liền có thể tự thệ thọ giới. Kinh Địa Tŕ cũng nói như thế, nhưng không có đoạn kinh văn nào nói về chuyện [phải] thấy hảo tướng [rồi mới được phép tự thệ thọ giới], so với kinh Phạm Vơng lại càng dễ hơn nữa. Khi ấy, đệ tử nghi ngờ, chẳng biết rốt cục nên tuân theo kinh nào mới đúng?

Về sau, đọc Linh Phong Tông Luận, trong ấy đă giảng rơ lư lẽ: [Pháp tự thệ thọ giới] trong kinh Phạm Vơng được lập ra cho kẻ chưa phát tâm, c̣n Địa Tŕ là lập ra cho kẻ đă phát tâm. Nay bọn đệ tử tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ, có thể coi là kẻ đă phát tâm th́ có thể nương theo kinh Địa Tŕ để thọ giới được hay chăng? Ngay trong lá thư gởi cho bà X… trong bộ Văn Sao của thầy đă có giảng về cách tự thệ thọ giới, cũng không thấy có đoạn văn nào bảo phải thấy được tướng hảo [sau khi sám hối th́ mới được phép thọ giới]. Đấy có phải cũng là v́ bà ta đă phát tâm nên được phép nương theo kinh Địa Tŕ [để thọ giới], chẳng cần phải câu nệ nơi thấy tướng hảo đấy chăng? Nhưng bà X… tiết tháo băng khiết, c̣n lũ đệ tử chúng con nghiệp sâu chướng nặng, có nên tham chiếu theo đó để làm hay chăng? Đây cũng là một nghĩa chúng con đang nghi ngờ cho nên chẳng nề hà mạo muội, lại v́ những hành nhân niệm Phật tại gia thông thường thỉnh cầu thầy chỉ dạy phán quyết ḥng tiện tuân hành.

Đáp: Phật pháp rộng lớn như biển cả, hăy tùy theo căn tánh của mỗi người mà thọ tŕ. Nếu muốn thọ giới mà có chỗ để xin thọ được th́ cố nhiên nên thọ với sư tăng. Nếu không có ai, hăy hướng về đức Phật sám hối, tự thệ thọ giới. C̣n như nói “thấy hảo tướng” th́ há có phải là chuyện nói dễ dàng ư? Sợ là người đời nay chẳng có thiện căn ấy đâu! Hoặc do chẳng hiểu rơ tâm địa, cứ dùng cái tâm bộp chộp, vọng động để mong cầu đến nỗi kẻ bị ma dựa th́ nhiều, người được lợi ích ít ỏi! Hiện nay, những kẻ có hành tŕ đôi chút hễ động đến là khoe thấy đủ thứ cảnh giới! Những thứ cảnh giới ấy đều do vọng tâm cảm nên. Nếu là thánh cảnh giới biến hiện th́ người khác tuy chẳng thể biết được nhưng người ấy phải có những dấu hiệu cho thấy tâm hạnh chuyển biến lớn lao. Nếu vẫn cứ y như cũ th́ chẳng phải là thánh cảnh mà chính là ma cảnh đấy! Chớ nên không biết [điều này]!

Phàm hết thảy mọi người hăy đều nên “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành”. Đấy chính là giới kinh đại lược của chư Phật ba đời, ai nấy đều phải nên vâng giữ, chớ nên phạm. Hễ tŕ sẽ có công đức, c̣n phạm sẽ mắc tội lỗi. Tŕ cho đến mức cùng cực sẽ có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, thậm chí thành Phật. Những ai phát tâm thọ giới mà không có thầy truyền trao th́ hăy nên chí thành khẩn thiết đối trước đức Phật sám hối bảy ngày, tự thệ thọ giới trước đức Phật là được. Cố nhiên không cần nói đến hảo tướng, cũng không cần phải nói đă phát tâm hay chưa. Thời cơ hiện tại không giống như thời cơ khi đức Phật tại thế, nhưng đă v́ văng sanh Tây Phương mà thọ giới th́ hăy nên chân thật thọ tŕ. Nếu chỉ cầu danh xuông th́ sẽ trở thành đùa bỡn, tội lỗi quả thật chẳng nông cạn, ít ỏi đâu nhé!

Hỏi: Nếu hành nhân không thọ giới sẽ vĩnh viễn bỏ mất Phật hải, đánh mất lợi ích lớn lao. Nếu phát tâm không chân thật, cứ cẩu thả thọ giới, hễ phạm lại mắc thêm một tầng tội là phạm giới nữa. Như vậy, thọ giới th́ sợ sẽ vi phạm, c̣n không thọ lại bị mất lợi ích lớn lao, dường như tấn thoái đôi bề đều khó. Đối với điều này, đệ tử có ngu kiến cho rằng: Nếu thật sự phát tâm chân thật, ắt sẽ mang ư niệm sợ tội sâu đậm, quyết sẽ ít vi phạm nên chẳng ngại lập tức thọ giới. Nếu không, do tập khí quá nặng, hoặc do tâm cảm động nhất thời, tham cái danh “thọ giới”, liền mù mờ thọ giới, trong tương lai ắt sẽ dễ dàng vi phạm. Đâm ra chẳng bằng nương theo giới luật vâng giữ hai ba năm, nếu không vi phạm th́ mới xin thọ giới cũng không muộn. Làm như vậy sẽ được lợi ích nơi giới lại chẳng đến nỗi tăng thêm tội phạm giới, dường như có ích vô hại!

Cách này đệ tử đă từng thử để khuyên người khác ăn chay khá có hiệu nghiệm. Nhân mấy năm gần đây con từng gặp người phát tâm tu hành liền khuyên họ trước hết hăy giữ sáu ngày chay và kiêng giết, giảm bớt ăn thịt, kiêm quán tưởng chúng sanh [và chúng ta] có cùng một thể, huyết nhục bất tịnh v.v… Trong ṿng chưa đầy mấy năm, những người nhờ đấy mà ăn chay trường không dưới mười mấy người. Nay đối với giới pháp, con chưa biết là có nên chiếu theo cách này để thực hiện hay không?

Lại c̣n có một hạng hành nhân khá hiểu rơ nhân duyên tội phước, tuy chưa thọ giới, nhưng có thể chiếu theo Luật Nghi để vâng giữ, khắng khít niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Nếu sau này họ văng sanh th́ phẩm vị của họ sẽ chẳng thua kém ǵ người đă thọ giới niệm Phật văng sanh. Nếu quả thật như vậy th́ tựa hồ mâu thuẫn với nghĩa “tâm địa vốn không có tự tánh giới, vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi trần” của Lục Tổ. Nếu không, trong Luật lại nói: “Người thọ giới đúng pháp th́ mới phát sanh giới thể, lại được thiên thần hộ vệ”. Luật c̣n giảng rơ sự khác biệt lớn lao giữa người đă thọ giới với người chưa thọ giới. Đệ tử chưa hiểu nghĩa này, v́ thế đặc biệt viết lại ở đây để xin thầy chỉ dạy. Huống chi con đă tính vâng giữ [giới pháp] trước rồi sau đấy mới thọ giới. Nếu như có khác biệt, giả sử kẻ đang trong thời hạn học Giới ấy mạng chung giữa chừng th́ chẳng phải là mất hết hay sao? Con đang nghi ngờ điều này, càng chẳng thể không mong được thầy sớm giải quyết!

Đáp: Đă muốn thọ giới, cố nhiên nên chân thật. Đă không chân thật th́ cần ǵ phải thọ? Lợi ích là do chân thật tŕ giới mà được, chứ không phải v́ mang danh thọ giới sẽ liền được lợi ích. Mối nghi của ông đáng gọi là vô vị đến cùng cực! Hễ tu hành th́ phải luận trên tâm địa, chứ không luận trên h́nh tích. Chưa thọ giới mà đă tŕ giới th́ là người tu hành chân thật, há lẽ nào người chân thật, hành hạnh chân thật lại đâm ra tầm thường, kém cỏi ư? Nhưng Phật, Bồ Tát cực lực khuyên con người thọ giới là v́ hễ thọ giới ắt phải tŕ, chứ không phải v́ những kẻ chỉ khoác cái danh thọ giới hiện thời mà phát khởi vậy! Chỉ khoác cái danh thọ giới tức là người thọ giới lại hủy giới cấm của Phật, tội tăng thêm một tầng nữa! Những câu hỏi của ông đều là chấp chết cứng vào h́nh tích, dấy lên những nghị luận lầm lạc! Ăn nói như thế đều gọi là hư luận!

“Thọ giới sẽ phát giới thể” chính là bậc túc căn sâu dầy, chứ không phải là chuyện của những kẻ hời hợt hờ hững chỉ mang cái danh [thọ giới] hiện thời! Chẳng thọ giới mà có thể tŕ giới chỉ là thiểu số, chứ không phải đa số. V́ thế, chớ nên dùng cách ấy để làm khó dễ người ta. Những người như thế thuộc hạng tánh chất đặc biệt, c̣n những kẻ kia là hạng nên dạy dỗ theo đường lối thông thường, há nên so sánh hẹp ḥi? Đúng là vốn không có một chuyện ǵ lại lầm lẫn khuấy lên sóng gió, đáng than quá đỗi! Bàn luận lợi ích trên h́nh tích, chẳng xét đến thật t́nh nơi tâm địa là v́ người trong cả cơi đời đều thích giả mạo làm người tu đạo vậy!

Hỏi: Đứa con gái nhỏ của con hiện thời hai mươi hai tuổi, lập chí không lấy chồng, ăn chay niệm Phật tính ra đă được mấy năm. Mùa Xuân năm nay mẹ nó mất, nó buồn thương, càng thêm chuyên dốc, thiết tha, mấy ngày không ăn uống. Về sau đệ tử bảo nó niệm Phật cho mẹ để mong mẹ được tăng cao phẩm sen; từ đấy nó đối trước linh vị mẹ niệm Phật, nóng - lạnh không gián đoạn. Nhưng khi nó niệm Phật đến lúc thuần nhất, thường thấy mười phương tỏa quang minh, trong ấy hiện ra tượng Phật. Từng nhớ trong mùa Hạ năm nay, vào dịp lễ Thích Ca Văn Phật đản sanh, có một bữa nó đóng kín cửa, ngồi trong Phật đường niệm Phật, tự ḿnh cảm thấy thần thức dạo chơi cơi Tịnh Độ, chân đạp lên mặt đất mềm mại như đạp lên vải nỉ, hoa trời theo đúng thời khắc trút xuống, thấy Phật và hai vị Đại Sĩ lướt qua trên hư không. Quán Âm Bồ Tát nh́n nó mỉm cười, tay cầm cành liễu rưới nước cam lộ lên trán nó, và thấy vô số vị tu hành hoặc ngồi hoặc đứng, dáng vẻ đều xinh đẹp, có quang minh. Sau đấy, do có người đưa cơm đến cho nó ăn, cảnh tượng ấy liền biến mất. Đệ tử nghĩ cảnh nó được thấy tuy phần nhiều hợp với kinh luận, nhưng trước đấy nó đă từng tu theo cách tịnh tọa của Đồng Thiện Xă hai năm (hiện nay đă ngưng tu theo cách tịnh tọa của Đồng Thiện Xă mấy năm), ngay trong thuở ấy cũng thấy có cảnh giới, quang minh. Nay chẳng biết cảnh tượng nó được thấy trong khi niệm Phật ấy có phải là cảnh tượng của Tịnh Độ hay không? Hay chỉ là huyễn ảnh của công phu tịnh tọa trước kia? V́ thế, đặc biệt xin thầy hăy phán định, chỉ dạy.

Thêm nữa, đứa con gái ấy vào ngày Phật Đản, hoặc khánh đản đức Quán Âm và sinh nhật của ông bà nội, cha mẹ cũng như sinh nhật của chính ḿnh, phần nhiều thường giữ thanh trai suốt một ngày một đêm không ăn. Nhân đấy đệ tử đọc các kinh luận, trọn chẳng thấy có đoạn kinh văn nào khen ngợi chuyện không ăn. Ngay cả trong pháp Bát Quan Trai đă lập cũng chỉ chế định không ăn quá Ngọ. Do vậy, đệ tử yêu cầu nó đổi sang tŕ Bát Quan Trai, không biết là vào hôm tŕ [Bát Quan Trai Giới] có nhất định phải theo đúng pháp đối trước tượng Phật thọ giới hay chăng? Hơn nữa, đệ tử xem kinh không nhiều, chẳng biết rốt cuộc suốt một ngày đêm không ăn và không ăn quá Ngọ có hơn - kém chi chăng? Lại nữa, mẹ của con trường trai niệm Phật cũng đă được mấy năm, trong khi yên tịnh cũng thường thấy h́nh tượng có quang minh, nếu chẳng chấp vào đấy th́ cũng được cảnh giới tốt lành, đúng chăng? Lại cầu xin thầy phán định, chỉ dạy cho trọn vẹn một bề!

Đáp: Lệnh ái túc căn khá sâu, lập chí nguyện ấy thật đáng khâm phục, kính ngưỡng. Cảnh giới được nói đó có lẽ là thánh cảnh, nhưng chớ nên cho đó là đúng. Chỉ nên giữ nhất tâm, đừng hâm mộ thấy cảnh. Nếu đạt đến nhất tâm th́ không thấy cảnh cũng chẳng trở ngại ǵ. Nếu chưa đạt đến nhất tâm mà cảnh được thấy chẳng thật, hoặc thấy rồi sanh ḷng hoan hỷ đều đủ để làm hỏng chuyện. Gần đây, con người đa số hễ vừa dụng công liền thấy có cảnh giới; những cảnh ấy thật ra quá nửa là cảnh ma! Dẫu là cảnh thánh đi nữa mà nếu như không hiểu rơ tâm địa, chẳng hiểu tường tận nghĩa lư, hễ sanh chấp trước liền đến nỗi bị hỏng chuyện; chớ nên không biết!

Nói tới chuyện Thanh Trai th́ trong kinh chưa hề nhắc đến, nhưng do Phó Đại Sĩ đời Lương (do Di Lặc Bồ Tát thị hiện thân cư sĩ) thường hành [Thanh Trai] nên cũng không phải là chớ nên hành. Nếu miễn cưỡng nhịn đói th́ cố nhiên chẳng nên hành, chứ nếu an nhiên không bị tổn hại, tự tại như pháp th́ cũng chẳng phải là không được. Hơn nữa, người đời nay chỉ nên chiếu theo đường lối hành đạo thông thường để tu, chớ nên lập riêng tướng trạng khác lạ nhằm ngăn lấp những thói tệ hám danh phô phang chuyện lạ để mê hoặc mọi người v.v…

Hỏi: Đệ tử nghiên cứu Phật học, tự xem Lăng Nghiêm, Viên Giác, Khởi Tín v.v… các kinh luận Đại Thừa xong, hơi biết thiên địa vạn vật và hết thảy cơi nước tịnh - uế đều y theo Nhất Chân mà huyễn hiện. Đối với những nghĩa như “tâm tịnh cảm cơi tịnh, tâm nhơ cảm cơi nhơ” v.v… con khá tin tưởng sâu chắc, đích xác, thiết tha. V́ thế, tuy đọc các ngữ lục nhà Thiền chẳng những con không đến nỗi sanh ḷng nghi ngờ Tịnh Độ mà tín nguyện càng thêm kiên cố. Từ đấy dường như chẳng đến nỗi bị những lời lẽ đề cao hay chèn ép Thiền - Tịnh, Tánh - Tướng mê hoặc. Chỉ đối với những câu “Phật giới chẳng tăng, chẳng giảm; chúng sanh giới cũng chẳng tăng, chẳng giảm” như trong kinh luận đă nói th́ có lúc dấy lên nghi t́nh. Ấy là v́ luận theo tánh thể th́ chư Phật lẫn chúng sanh xét về Thể vốn tương tức, thật có thể nói là chẳng có sai biệt, tăng - giảm. C̣n xét về phía chúng sanh giới, tuy chúng sanh đông đảo nhưng đều thấy là huyễn h́nh, tựa hồ chẳng thể bảo là vô số được! Đă có số lượng th́ chư Phật ứng thế sẽ đều độ bấy nhiêu chúng sanh thành Phật. Phật tánh ví như nước biển, chúng sanh ví như bọt sóng. Bọt sóng vỡ lại trở về với biển cả. Nói nước không tăng giảm th́ được, nhưng tướng bọt sóng ấy rơ ràng có số lượng, sao lại nói là không tăng - giảm? Hoặc nói không tăng - giảm là v́ một bọt sóng vừa tan th́ một bọt sóng khác lại trồi lên ư?

Như thế th́ chư Phật phát nguyện độ sanh tựa hồ nhọc nhằn uổng công, mà lư “chúng sanh đă thành Phật sẽ chẳng c̣n mê nữa” cũng bị mâu thuẫn! Nếu nói bọt sóng tan chẳng c̣n dấy lên nữa th́ chúng sanh trong biển tánh ấy, bọt tuy nhiều, nhưng một đức Phật đă độ được chúng sanh không lường nổi số; huống chi sau đấy lại c̣n có nhiều vị Phật giáng sanh trong thế gian. Như vậy th́ tất cả chúng sanh sẽ chẳng những ngày một ít đi mà c̣n rốt cuộc sẽ có ngày độ hết. Nếu như vậy th́ chẳng khác ǵ mâu thuẫn với chuyện không tăng - giảm được nói trong kinh luận, mà cũng không thấu hiểu được ư chỉ “rốt cuộc chúng sanh giới lúc ban đầu là do đâu mà có” (Kinh dạy: “Vô minh không có khởi đầu”. Nếu chúng sanh giới có hết th́ vô minh liền có khởi đầu vậy).

Ở chỗ này, trong kinh Viên Giác, Kim Cang Tạng Bồ Tát đă từng thưa hỏi. Để trả lời, đối với Phật giới th́ đức Phật dẫn thí dụ “quặng đă thành vàng, chẳng trọng nơi quặng” để giảng rơ lư “Phật chẳng c̣n mê”. Đối với chúng sanh vốn khởi vô minh th́ Ngài nói: Do tâm luân hồi sanh ra cái thấy luân hồi, có nghĩa là “chưa đích thân chứng được Viên Giác th́ chẳng thể suy lường!” Chuyện này được phân biệt như thế cũng không phải là lời hỏi nhằm đúng ngay vấn đề, nhưng sách Khởi Tín Nghĩa Kư cũng dẫn thí dụ “chim bay trên hư không” để chỉ rơ “chúng sanh vô lượng”. V́ thế, chẳng thể nói là có tăng - giảm, rốt cuộc cũng khó khiến cho con người quyết định chẳng ngờ vực! (Rơ ràng chúng sanh vốn có số lượng, sao lại nói là vô lượng? Nếu thật sự vô lượng, trừ phi một chúng sanh có thể hóa thành nhiều chúng sanh. Nếu thật sự như thế th́ cũng tránh được mối nghi “trong Phật giới lại khởi lên chúng sanh giới”. Nhưng mỗi một chúng sanh là một linh thức, lư này lại nói chẳng xuôi được). Nghĩa này sâu xa, do chúng sanh c̣n mê nên đức Phật khó thể nói thông suốt. Dẫu có nói th́ chúng sanh vẫn không biết y như cũ.

Đệ tử là hạng người nào, há dám dùng tri kiến phàm phu để suy lường chuyện này. Chỉ v́ bậc thân sĩ học Phật ở tệ xứ, do thấy đệ tử học Phật sớm hơn họ, tưởng đệ tử đă hiểu được lư này, phần nhiều [đem lư này] đến chất vấn. Đệ tử tuy viện dẫn kinh luận để đáp, nhưng bọn họ nói chung vẫn chưa thỏa ư, lại c̣n nghi ngờ những lư đă được nói trong Phật học. Cũng có những kẻ do chẳng hiểu trọn vẹn bèn ngă ḷng tin tưởng! Do vậy, con đặc biệt chép lại đoạn này, tính xin thầy chỉ dạy về lư ấy. Thầy có thể dùng thí dụ khác để xiển minh đại lược hay chăng? Một là tránh cho đệ tử khỏi khởi lên sự sai lầm ấy nữa, hai là giúp cho con có cái để đáp lời chất vấn của bọn họ th́ may mắn lắm thay!

Đáp: Phật giới, chúng sanh giới, cả hai đều chẳng tăng, chẳng giảm. Đấy chính là luận theo Lư; sao ông lại dựa trên h́nh tướng huyễn vọng để luận? Chẳng thấy kinh Kim Cang dạy: “Độ sạch hết thảy chúng sanh nhưng chẳng thấy một chúng sanh nào được diệt độ” ư? Nếu luận theo h́nh tích th́ lời Phật nói sẽ trở thành mâu thuẫn! Nếu biết [lời nói ấy nhằm] dạy thẳng vào Lư Thể th́ [sẽ thấy] giống như dạy cho kẻ say, người mê đang tưởng “nhà quay, phương vị đổi dời” biết rằng “nhà vốn chẳng quay, phương vị vốn chẳng đổi dời”.

Hơn nữa, há có nên cho rằng [quan niệm] nhà xoay của kẻ say, phương vị đổi dời của người mê là đúng, coi lời lẽ của người không say, không mê là sai hay sao? Những điều như ông đă nói đều thuộc về hư luận! Kẻ say, kẻ mê ấy trước khi chưa ngộ, trọn chẳng thể chết ḷng tin tưởng vào sự “không xoay chuyển, không đổi dời” v́ kẻ ấy đích thân thấy như vậy. Đến khi đă ngộ, mới biết [những sự thấy biết trước kia] là vọng, không phải là chân. Há ông lấy điều đó (tức những sự thấy biết trước khi ngộ) làm chuẩn hay sao? Hay là lấy điều này (tức sự thấy biết sau khi đă ngộ) làm chuẩn? Hiểu rơ rồi th́ cần ǵ phải biện luận nữa đây?

Ông nói đến chuyện bọt sóng trong biển đều là chấp trước trên mặt h́nh tích. Do đức Phật muốn cho con người biết “chính ḿnh toàn thể là Phật, v́ đang mê nên có tướng chúng sanh”, nhưng ngay cả cái tướng chúng sanh ấy toàn thể đều là vọng! [Do mê, do say nên thấy] nhà xoay, phương hướng đổi dời, ông liền chấp trước vào sự xoay chuyển, đổi dời; đáng gọi là “bỏ gốc chạy theo ngọn”, sẽ thấy thường xoay, thường dời chẳng ngớt vậy!

Phật là vàng đă tách khỏi quặng, Phật tánh của chúng sanh là vàng vẫn c̣n nằm trong quặng. Vàng ở trong quặng trọn chưa thành vàng! Chẳng qua người sáng suốt biết trong quặng có vàng th́ họ mới đổ công nung luyện, tách vàng ra [khỏi quặng], ḥng được thọ dụng. Đức Phật sợ chúng sanh chẳng chịu gánh vác nên chú trọng nói rơ về bản thể. Bởi lẽ, [nếu chúng sanh] đă biết bản thể th́ sẽ trọn chẳng chịu tự khinh, không tu tập. Nếu biết luận định từ bản thể th́ không cần phải nghi! Nếu bỏ Thể để luận theo h́nh tích th́ xin các hạ hăy thỉnh vị đại thông gia khác phán đoán, luận định. Quang là một ông Tăng tầm thường không có trí huệ biện tài ấy đâu!

 

11. Lời phê trên lá thư của cư sĩ Niệm Phật

(Những chữ viết theo lối Đảnh Cách là lời phê của Ấn Công để đáp lời hỏi, c̣n những chữ viết thấp hơn một chữ là những chữ được dùng trong lá thư gốc của cư sĩ Niệm Phật ở Vĩnh Gia)

Vâng đọc lời huấn dụ từ bi, thuần là những lời tha thiết đến cùng cực, tạo phương tiện đến cùng cực, buồn khóc v́ đi vào ngơ rẽ cả mấy năm, một hôm biết được đường chánh. Từ nay về sau nhất tâm niệm Phật, hồi hướng cho khắp chúng sanh cùng sanh Tịnh Độ. Những điều mong mỏi khác dù Tục hay Chân đều đă buông xuống. Quả thật chỉ có một pháp này là có thể an thân lập mạng, tự lợi, lợi tha, trên an ủi bi nguyện, báo đáp hồng ân, cầu xin ban cho sự gia bị, thường hành tinh tấn. Con tính trong tháng tới hoặc trong tháng Tám sẽ lại không nói năng ǵ (tịnh khẩu), thầm niệm thánh hiệu Quán Âm, thời hạn ngắn hay dài sẽ tùy sức, tùy duyên. Tất cả những nghi thức lễ niệm trong khi bế quan và các nghi vấn kính cẩn tŕnh bày như sau xin thầy chỉ dạy, con sẽ cảm kích tuân hành.

[Tổ Ấn Quang phê]: Tâm thường nghĩ đến tu tŕ, bế quan hay không đều chẳng khẩn yếu cho lắm. Nhưng phải nên viên thông, chớ nên chấp chết cứng, kẻo sẽ đến nỗi chẳng yên ḷng, đâm ra vô ích! Đức Quán Âm từ bi rộng lớn, chắc chắn hễ có cảm liền ứng, nhưng tâm chớ nên quá gấp rút bộp chộp, mong được ứng ngay. Ví như trồng lúa, ngày hôm nay vừa gieo giống liền mong thâu hoạch ngay trong bữa nay sẽ trở thành kẻ si! Cố nhiên, hễ có ai khởi ḷng niệm Bồ Tát th́ sẽ liền được gia bị; nhưng chớ nên có những quan niệm hẹp ḥi mong cầu ấy th́ sẽ có lợi ích lớn lao vậy!

1) Vào ngày bế quan đầu tiên

Sáng dậy con niệm Phật mười hơi. Súc miệng, rửa ráy xong, lễ thập phương thường trụ Tam Bảo, mỗi lần một lạy, lễ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ba lạy, lễ Tây Phương giáo chủ bốn mươi tám lạy, lễ kinh luận Tịnh Độ ba lạy, lễ Quán Âm ba mươi hai lạy, Thế Chí, Hải Chúng mỗi danh hiệu ba lạy, Địa Tạng Vương, Liên Tông chư Tổ (sư tăng hiện tại), mỗi vị một lạy. Niệm chú Cúng Dường hai mươi mốt biến. Niệm bài Tây Phương Nguyện Văn của đại sư Liên Tŕ một biến. Niệm Quán Âm Tán một biến. Tiếp đó chuyên niệm thánh hiệu. Trong khoảng ấy, trừ lúc ăn ngủ ra, hễ gần tới giữa trưa và sau giờ Ngọ, hoàng hôn và giữa buổi tối, lễ Quán Âm ba mươi hai lạy.

[Tổ Ấn Quang phê]: Nghi tiết đơn giản mới hay!

2) Mỗi ngày sau đó:

Sáng dậy niệm Phật mười hơi. Rửa ráy, súc miệng xong, lễ Quán Âm ba mươi hai lạy, tiếp đó chuyên niệm thánh hiệu. Trong khoảng thời gian ấy, trừ lúc ăn ngủ ra, c̣n kèm thêm vào gần tới giữa trưa và sau giờ Ngọ, chập tối và giữa tối, lễ Quán Âm ba mươi hai lạy giống như ngày thứ nhất.

Hoàn măn một ngày.

Nghi thức lúc sáng dậy và lúc gần sụp tối giống như trước. Ngay lúc đêm xuống, niệm thánh hiệu xong, niệm Tây Phương Nguyện Văn một biến, lễ Tây Phương Giáo Chủ bốn mươi tám lạy, lễ Quán Âm ba mươi hai lạy, Thế Chí, Hải Chúng mỗi danh hiệu ba lạy. Hơn nữa, trong bài nguyện văn của Liên Tŕ đại sư câu “chuyên niệm A Di Đà Phật vạn đức hồng danh” con tự đổi thành “chuyên niệm Quán Thế Âm Bồ Tát vạn đức hồng danh”, những câu khác có cần thay đổi hay không?

[Tổ Ấn Quang phê]: Nên châm chước để lượng định.

Đoạn đầu của bài nguyện văn có câu: “Kim ư Phật tiền kiều cần ngũ thể” (Nay con đối trước Phật cung kính năm vóc mọp lạy). Niệm đến câu này, con chỉ cúi đầu lễ xong rồi đứng dậy, hay là cần phải mọp lạy tới mấy câu nữa rồi mới đứng dậy?

[Tổ Ấn Quang phê]: Mọp lạy một lúc lâu sẽ có thể bị tổn khí, chớ nên không biết!

Trong bài tán Quán Âm phổ biến có câu: “Quán Âm Đại Sĩ, tất hiệu Viên Thông, thập nhị đại nguyện thệ hoằng thâm” (Quán Âm Đại Sĩ, luôn có hiệu Viên Thông, mười hai đại nguyện thệ rộng sâu) bốn chữ “thập nhị đại nguyện” sợ là dẫn lầm từ nhân duyên của Dược Sư Như Lai, con phải nên nói như thế nào?

[Tổ Ấn Quang phê]: Mười hai đại nguyện không có xuất xứ, đổi thành “từ bi thệ nguyện tối hoằng thâm” (từ bi thệ nguyện rộng sâu nhất) cũng được!

Nếu lúc nằm xuống không ngủ được, bèn chỉ quan tâm ức niệm thánh hiệu để dỗ giấc, hay là phải tạm ngưng niệm thánh hiệu, lắng ḷng để đối trị?

[Tổ Ấn Quang phê]: Lắng ḷng niệm thánh hiệu.

Lúc dục niệm khởi, phải tưởng như đă chết, hay là tưởng sắp chết. Trong khi bế quan vẫn c̣n có chuyện ǵ cần phải chú ư xin thầy đều dạy hết cho.

[Tổ Ấn Quang phê]: Làm sao chỉ ra hết mọi chuyện cho được? Chỉ chí thành cung kính, đừng gấp rút, bộp chộp mong cầu linh ứng. Chỉ giữ ḷng sao cho tương ứng với thánh hiệu, chẳng cầu cảm thông th́ sẽ tự được cảm thông. Nếu không, sẽ có thể bị ma dựa!

Con thường nằm mộng thấy ở trong nhà bay lên niệm Phật, nhưng bị xà nhà và mái ngói ngăn trở, chẳng thể vượt thoát ra được. Lại c̣n một hôm [mộng thấy] ở ngôi chùa nọ có một bức tranh thủy mặc vẽ h́nh tượng Quán Âm, thân và mắt rất to, cho đến nay vẫn c̣n cảm thấy sợ hăi. Qua hai duyên trên đây, chẳng biết tội chướng như thế nào?

[Tổ Ấn Quang phê]: Giấc mộng ấy thuộc về cảnh giới tốt đẹp, nhưng vẫn chưa đạt đến mức nghiệp lực tiêu trừ lớn lao. V́ thế vẫn c̣n bị ngăn ngại. Thấy tượng sợ hăi cũng chẳng sao cả; nhưng chớ nên ghim măi chuyện này trong ḷng.

Hơn nữa, ân sư thường nói: “Hành nhân thấy cảnh có một phân th́ không được nói một phân mốt, cũng chẳng được nói chín ly chín. Nói quá cũng mắc tội, mà nói bớt đi cũng không được”. Lại nói: “Thứ cảnh giới ấy nói với tri thức để cầu chứng minh tà - chánh, đúng - sai th́ không phạm lỗi. Nếu chẳng nhằm xin chứng minh, chỉ muốn khoe khoang th́ cũng mắc lỗi. Nếu hướng về hết thảy mọi người để nói th́ sẽ có lỗi. Trừ cầu tri thức chứng minh ra, [trong mọi trường hợp khác] đều không được nói” v.v… Nhưng nếu hành nhân thấy có cảnh giới, hoặc do tâm tưởng không trọn vẹn, hoặc do văn tự sơ sài, vụng về, đến nỗi nói ít, nói nhiều th́ cũng gây trở ngại hay chăng? Đệ tử từng được ân sư ba lần dạy bảo về giấc mộng, đă kể cho người bạn là X… nghe. Tuy chẳng phải là muốn khoe khoang, chẳng phải v́ cầu chứng minh, mà thật ra là muốn khơi gợi ḷng tin cho người ấy, chẳng biết làm như vậy có mắc tội lỗi hay không?

[Tổ Ấn Quang phê]: Cảnh được thấy trong mộng không quan hệ lớn lao cho lắm, chứ đối với cảnh được thấy trong khi Thiền Định th́ phải thận trọng. Người tu hành thường phạm phải căn bệnh chưa đắc đă bảo là đắc!

Sống tại gia xử thế, thấy người khác có chuyện chẳng đúng pháp, đă không có đủ oai đức để chế phục, lại chẳng khéo khuyên dụ khiến cho người ấy cảm động, nhận hiểu, chỉ đành nhẫn nại mặc kệ kẻ ấy, ức niệm Quán Âm để mong Ngài từ bi che chở th́ có được hay không? Khẩn cầu thầy khai thị th́ may mắn lắm thay!

[Tổ Ấn Quang phê]: Ḷng Thành đến cùng cực th́ đá vàng cũng phải nứt. Dẫu cho người ấy chẳng được lợi ích th́ chính ḿnh cũng đă được lợi ích lớn lao.

 

12. Kệ tu tŕ

Giữ vẹn luân thường

Trọn hết bổn phận

Ngăn dứt ḷng tà

Ǵn giữ ḷng thành

Đừng làm các ác

Vâng làm các thiện

Kiêng giết, cứu mạng

Ăn chay niệm Phật

Hồi hướng văng sanh

Thế giới Cực Lạc

Dùng để tự hành,

Lại c̣n dạy người

Ấy gọi Phật tử.

Hành giả hăy nên

Làm như thế ấy

Công đức vô lượng.

 

X. Thư từ

1. Thư trả lời cư sĩ Thái Cát Đường

Ngày Hai Mươi Sáu tháng Tư, Quang từ Dương Châu trở về Thượng Hải thấy ông gởi cho Quế Viên và hương. Cám ơn lắm! Bản thảo Quán Âm Đại Sĩ Tụng tuy đă gởi tới, nhưng vẫn cần phải giảo chánh tường tận th́ mới cho sắp chữ được. Sợ là chưa thể in ra sách trong năm nay được đâu! [Chuyện vận động quyên mộ đóng góp cho] Viện Mồ Côi hăy cứ tùy duyên lo liệu. Được nhiều th́ tốt, ít cũng không sao. Dẫu chẳng thể giúp đỡ, chỉ gởi xuông sổ quyên mộ trở lại cũng không sao cả!

 

Đối với hết thảy mọi chuyện, Quang đều tùy duyên, trọn chẳng v́ nhiều - ít, có - không mà khởi lên tâm phân biệt, suy tính. Thầy Chân Đạt gởi lời hỏi thăm ông. Cư sĩ Vưu Tích Âm c̣n chưa di chuyển, chẳng bao lâu nữa sẽ xuống miền Nam, địa chỉ cư ngụ vẫn chưa định được! Đợi đến khi nào ông ta tiến hành công việc cho Quang th́ sẽ gởi tới. Đang trong lúc thiên tai nhân họa liên tiếp giáng xuống này, hăy nên phát khởi ḷng Thành niệm Phật để cầu được che chở, ngơ hầu chẳng phụ thời gian tốt đẹp này. Nếu không, sẽ như người vào biển cả, đă không có người hướng dẫn, lại không có la bàn, muốn khỏi bị ch́m đắm, há có được ư?

 

 

2. Thư gởi ḥa thượng Tâm Tịnh

Hôm nay có người từ Như Cao đến, trao giùm thư của Thôi Tông Tịnh. Cái chuông như thầy đă nói, lớn - nhỏ có thích hợp hay chăng? Nếu thích nghi th́ hăy nên bảo những người trong nhóm mua. Nếu giá chuông hăy c̣n, chưa bị mục nát th́ cũng nên mua luôn để khỏi phải làm cái khác. Cũng nên gơ thử chuông ngay để coi xem tiếng chuông [có vừa ư hay không]. Trống lớn nếu có người phát tâm [cúng dường] là được rồi. Nếu không, hăy bảo họ quyên mộ để đặt làm, nhưng hăy nên làm sao cho thích hợp, đừng nên làm quá to. Hăy nên cho họ biết kích thước đại lược để họ tiện quyết định đặt làm. Chi phí thỉnh chuông trống đều phải do chính người [phát tâm] ấy bỏ tiền ra, chẳng cần Pháp Vân Tự phải bù tiền thêm. Hăy nên nói trước với họ về chuyện đó để chẳng đến nỗi phải lo lắng khó ḷng đáp ứng được!

 

3. Thư trả lời cư sĩ Cát Khải Văn

Túc nghiệp của mọi người đă cảm thành ác quả ấy. Ông có thể ở chùa Hộ Quốc tụng kinh lễ sám quả thật là may mắn lớn. Lúc này, trừ niệm Phật và niệm Quán Âm cầu gia bị ra, không có cách tốt đẹp nào khác! Đừng vọng tưởng đạt được chuyện tốt lành. Nếu có thể chí thành khẩn thiết tụng kinh lễ sám th́ chính ḿnh cũng đạt được lợi ích không chi lớn bằng. Nếu chỉ mong cho xong chuyện mà muốn được Phật, Bồ Tát gia bị sẽ khó như lên trời! Trừ chí thành niệm Phật, niệm Quán Âm và chí thành khẩn thiết tụng kinh, lễ sám ra, không có phương pháp thứ hai nào cả! Xin hăy sáng suốt soi xét!

 

4. Thư trả lời cư sĩ Lư Cẩn Đan

Nhận được thư, biết các hạ có ḷng bảo vệ đạo tột bậc chân thật, tha thiết. Những gă chủng tử địa ngục muốn làm cao nhân bậc nhất từ ngàn xưa đến nay cực đáng thương xót. [Ngụy thuyết] “Khởi Tín Luận là ngụy tạo” không phải do Lương Nhậm Công (Lương Khải Siêu) đề xướng, mà là do Nhậm Công lấy ma thuyết của Âu Dương Cánh Vô làm căn cứ, coi đó như luận thuyết quyết định nhằm phô phang “ta là kẻ học rộng có thể phân định chân, ngụy!” Âu Dương Cánh Vô là hạng ma chủng đại ngă mạn, mượn cái danh hoằng pháp để cầu danh, cầu lợi. Ông ta cho Lăng Nghiêm, Khởi Tín Luận là ngụy tạo, chính là v́ muốn mê hoặc hàng sĩ đại phu vô tri vô thức nhằm mong họ sẽ sùng phụng ḿnh như một vị đại pháp vương! Ông ta mượn cái danh thông suốt Tướng Tông (Duy Thức) để ngạo mạn cổ kim. Phàm những ǵ các vị cổ đức tông Thiên Thai, Hiền Thủ đă nói chẳng hợp với ma kiến của ông ta đều bài xích là “thả rắm”, nhưng những kẻ thông minh do thấy ông ta thông hiểu Tướng Tông liền đua nhau sùng phụng là bậc thiện tri thức! Tướng Tông lấy Nhị Vô Ngă làm chủ yếu, ông ta chỉ hoại một thứ là Ngă Kiến, chứ trọn chẳng có khí phận Vô Ngă của Tướng Tông. Kẻ ma mị mà ai nấy vẫn tin, đáng buồn thay!

Chưa thọ giới, chớ nên đắp mạn y năm điều hoại sắc. Y năm điều ấy không chia thành khối (Y năm điều, mỗi một điều cắt ra thành một miếng dài một miếng ngắn, [mỗi một miếng nhỏ ấy gọi là một khối]), cũng không phải là hải thanh; hải thanh là áo dài rộng tay. Ngày nay trong pháp môn không có người nên [ai nấy] mặc sức làm càn. V́ thế, người thọ Ngũ Giới đều đắp y Ngũ Điều84, trái nghịch cấm chế của đức Phật, nhưng Tăng lẫn tục đều b́nh chân như vại, cũng đáng cảm khái lắm thay!

 

 

5. Thư trả lời cư sĩ Diệp Phước Bị

Ngày hôm qua, thầy Đương Gia đưa thư của ông cho Quang. Quang đọc thư, biết tuy cường đạo đến cướp đồ đạc của ông mà ông chẳng bị mất một vật nào, c̣n bà cụ ở pḥng đối diện bị cướp mất một cái rương và các thứ quần áo. Đấy chính là chứng cớ rơ ràng Tam Bảo gia hộ [cho ông]. Chỉ nên gắng sức niệm Phật và niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, há nên lầm lạc sanh ḷng sợ hăi, muốn dời đi chỗ khác! Ông xem có chỗ nào là nơi yên vui đâu? May mắn là chỗ ấy nghèo nàn nên vẫn c̣n chưa gặp họa lớn. Nếu ở nơi am giàu có, sợ sẽ càng nguy hiểm hơn!

Năm Dân Quốc 19 (1930), ông Quách Chấn Thanh, chủ tiệm giấy Hợp Pháp ở đường Cảnh Đức, Tô Châu, theo một người già trong nhà ông ta đến quy y. Quang bảo ông ta: “Hiện thời là t́nh thế hoạn nạn, hăy nên chí thành niệm Phật và niệm thánh hiệu Quán Âm, sẽ liền có thể gặp dữ hóa lành, gặp nạn mà được hên”. Tháng Chạp năm sau, ông ta qua Thượng Hải. Chiến sự nổ ra ở Thượng Hải, chẳng thể không trở về đất Tô được. Đến mùa Xuân năm Dân Quốc 21 (1932) vẫn c̣n chiến tranh, chẳng thể quay về được. Do đường xe lửa bị cắt đứt, Chấn Thanh liền ngồi tàu thủy nhỏ đi ṿng theo ngă Gia Hưng trở về Tô Châu. Nhưng thuyền bè qua lại thường bị cường đạo cướp bóc; Chấn Thanh sợ bị cướp, trong tâm thầm niệm thánh hiệu Quán Âm. Không lâu sau, cường đạo kéo đến, cả thuyền đều bị cướp sạch sành sanh. Chấn Thanh là một kẻ mập mạp, mặc một cái áo da, nhưng ở giữa bao người, bọn cường đạo trọn chẳng thèm hỏi tới ông ta! Đủ biết niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát quyết định được Bồ Tát gia bị, chẳng đến nỗi gặp tai họa ngoài ư muốn.

Quang đọc qua thư ông, bỏ trong ngăn kéo của bàn viết, nay muốn phúc đáp, t́m khắp nơi không thấy. Do vậy nghĩ đấy là do Bồ Tát thị hiện cho ông một dấu hiệu để ông nhất tâm niệm Phật, niệm Bồ Tát ḥng ngừa họa giữ thân. Nếu ông chí thành, cường đạo thấy ông mà như không thấy, hoặc thấy những đồ đạc của ông là thứ chúng chẳng cần, chẳng đến nỗi gây tổn thương cho ông. Hiện thời bất luận là ai, đều phải niệm A Di Đà Phật và niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để làm quả núi nương tựa. Chỉ nhất tâm thường niệm, chẳng cần phải sợ hăi! Xin hăy sáng suốt suy xét!

 

6. Thư trả lời cư sĩ Khang Kư Dao (Thư thứ nhất)

Chương tŕnh của hội niệm Phật rất hay, nhưng đối với phụ nữ đang độ tuổi thanh xuân hăy nên bảo họ ở yên trong nhà niệm Phật, đừng đến dự hội. Bởi lẽ, hiện thời ḷng người quá bại hoại, lại c̣n có binh sĩ [trấn đóng khắp nơi], sợ giữa đường gặp chuyện chẳng đúng pháp th́ người ấy lẫn hội niệm Phật đều mất thể diện. Đấy chính là ư nghĩa trọng yếu để né hiềm lánh họa. Dương Thúc Cát đă xuống núi vào hôm Mười Ba tháng trước. Hiện thời thiên hạ rối beng, đất Thiểm càng rối ren quá mức. Há nên đang vô sự lại manh nha tâm niệm du hành? Há chẳng phải là đang ở trong yên ổn lại t́m kiếm nỗi nguy hiểm ư? Ngàn muôn phần chớ nên đi ra ngoài! Dẫu muốn cùng mọi người đi du lịch ngắm cảnh, cũng nên đợi tới lúc thái b́nh không có chiến tranh th́ mới nên. Ở nhà tuy phiền, nhưng chẳng đến nỗi phải có chuyện lo nghĩ chi khác. Đang trong thời loạn này, dẫu đi ra ngoài thân chẳng gặp phải họa ương th́ vẫn phải suốt ngày lo nghĩ cho gia quyến, há chẳng nên giữ cho cơi ḷng thanh tịnh, không phải bận tâm chuyện ǵ ư?

Cái chết của Hy Chân là do bị trời phạt, ông ta nhận được một lá thư “tiến bộ” liền muốn giết sạch hết thảy những người thuộc giới chánh khách. Do vậy, chưa đến được kinh đô liền ngă bệnh, tới kinh đô chết liền. Nếu người ấy không chết, ắt sẽ đến nỗi đại loạn! Trời già có mắt, khiến cho ông ta bị chết trước để ông ta chẳng đến nỗi bỗng dưng gây nhiễu loạn được! Hùng Đại Minh có một đứa con hết sức có thiện căn (chưa đầy nửa tuổi đă biết lôi kéo bà nội và cha mẹ, ép họ lễ Phật. Nếu họ thuận theo th́ nó sẽ vui vẻ). Do tham dự cuộc Bắc Chiến và chiến trận Hồ Hám, đứa con ấy liền chết; ông ta gần như cuồng si, gởi thư kêu khổ. Quang bèn chỉ thẳng [nguyên nhân] là do bị trời phạt; nếu chẳng sửa đổi hành vi, h́nh phạt ấy đâu phải chỉ có như thế! Các ông đă tín phụng Phật pháp, hăy nên lấy tâm Phật làm tâm [của chính ḿnh] th́ sẽ hữu ích. Nếu [cứ hành xử] giống như Đại Minh và Hy Chân th́ đáng gọi là “uổng làm đệ tử Phật” vậy! Mắt Quang không tốt, chứ không phải là thường sanh bệnh.

 

7. Thư trả lời cư sĩ Khang Kư Dao (Thư thứ hai)

Trước kia đă gởi cho ông những sách cho chính Quang giảo duyệt in ra; nay lại muốn nói rơ ư Quang, bởi lẽ mọi việc cần phải suy nghĩ sâu xa th́ mới thành được. Tiếp đó, tôi suy nghĩ: Nói tới sự giải trí th́ chẳng thể làm như vậy được. Hơn nữa, trẻ nhỏ vừa mới hiểu biết liền dạy cho nó đóng tuồng, sợ nó sẽ chẳng vận dụng tâm tư nơi hành hiếu hành đễ; cứ chăm chút đổ công tô son trát phấn làm đào, kép, kép nhọ, hề… sẽ trở thành bỏ gốc chạy theo ngọn, biến khéo thành vụng! Thuở nhỏ, Quang nghe người già kể trong làng của Quang vào ba bốn chục năm trước, chỗ nào cũng đều véo von [những ca khúc] Tạp Hư (tức là con em b́nh dân và những người làm ruộng, làm thợ v.v… hễ rảnh rang đều hát xướng), nhưng chẳng hát tuồng Vũ Hư, c̣n những mặt khác đều giống như hát tuồng. Hễ có ai mời hát [th́ người mời] đều phải tự sắm sửa hết thảy rương tráp, trang phục, vật dụng, c̣n họ (tức người nhận lời đến hát) chỉ đi tay không tới. Lại c̣n phải có đầy đủ thiếp mời, dập dầu phụng thỉnh, v́ [diễn viên] chẳng nhận tiền, được đăi đằng như khách. Rước đến, tiễn đi mọi người đều vui vẻ như vậy. Về sau, do mỗi lần diễn xướng Tạp Hư ắt bị hạn hán, từ đấy mới thôi! Đủ thấy viện lẽ giải trí [để tập tành hát xướng] chẳng thể không biến thành diễn tuồng thật sự!

T́nh cảm của phàm phu bị xoay chuyển theo vật, đối với h́nh hài đất gỗ hễ trang sức đẹp đẽ liền sanh tâm tham nhiễm. Huống chi con em đang độ thơ ấu, hóa trang cho nó thành thân gái, tuy nói là đề cao giáo hóa, nhưng thật ra là dạy cho con em phạm lỗi khinh bạc! Huống chi muốn diễn xuất cho thật giống, nếu chẳng để hết tâm trí vào vai diễn th́ làm sao có thể khiến cho người khác sướng mắt được?

Quang vốn là tăng nhân, sao lại hỏi đến chuyện giáo dục của người khác? Chỉ v́ ông và tôi có duyên, chẳng thể không trọn hết ḷng lo tính một phen. Chỉ nên giảng nói với chúng về đạo hành hiếu, hành đễ. Chứ nếu muốn cho chúng diễn tuồng th́ khoan hăy nói đến tệ đoan, chỉ riêng chuyện uổng phí thời gian công sức đă kể sao cho xiết? Sĩ tử chuyên tập luyện cử nghiệp mà c̣n chưa thể chuyển hóa được khí chất [thành người tốt đẹp] nữa là! Mượn dịp vui chơi bèn dạy cho con đóng tuồng với ư định [nhờ vào tuồng tích để] chuyển hóa khí chất [của con cái] th́ sợ rằng sẽ chuyển thành xấu th́ nhiều, chứ ít có đứa nào sẽ chuyển biến thành tốt đẹp! Đừng mượn lời thánh nhân giảng về sự giải trí để khơi ra đầu mối khinh bạc cho con em.

Mấy năm trước có mấy chục đứa học sinh theo học nghệ thuật diễn xuất ở tại chùa Pháp Vũ, đêm nào cũng diễn tuồng, giáo viên ngồi một bên xem. Bọn chúng liền hóa trang thành ḥa thượng đón tiếp khách [thập phương] đến dâng hương, quả thật là khinh nhục Tăng sĩ! Quang nghe chuyện, khôn ngăn đau tiếc! Đường đường là một nhà trường lại để cho học sinh làm chuyện vô ích ấy! Chẳng ngờ ông quy y Phật pháp, phát tâm vun bồi nhân tài mà cũng cực lực tán đồng chuyện đó! Cố nhiên, Quang chẳng sợ bị người khác chê là cố chấp, không thông hiểu, mà quả thật là v́ không chịu được nên mới phải nói!

Đối với những trước tác của học sinh, nếu nh́n một cách thiển cận th́ đâu có trở ngại ǵ, nhưng những kiểu ăn nói “văi rắm ầm ĩ” v.v… rốt cuộc có ích ǵ đâu? Chỉ khiến cho kẻ sáng mắt đau ḷng mà thôi! Dẫu giấy không mất tiền mua, cũng chớ nên in những lời lẽ bậy bạ ấy! Tri kiến của Quang như thế đấy, nếu chấp nhận là đúng th́ hăy làm theo. Nếu không, cũng nên coi như Quang ăn nói nhảm nhí, bỏ mặc đó. Ông tự thực hiện chương tŕnh, quy củ giáo dục của ông, Quang nào dám buộc ông đừng làm!

Một ngàn đồng để in Văn Sao của Hùng Đại Minh sẽ in được hai ngàn bộ. Nghe nói đă gởi chín trăm bộ sang hai nơi là Thiểm (Thiểm Tây) và Biện (tức thành phố Khai Phong). Xin hăy hỏi thăm xem Đại Minh đă trở về đất Tần (Thiểm Tây) hay chưa? Nếu ông ta trở về đất Tần, tôi sẽ gởi hơn một ngàn bộ sang đấy để chia ra tặng cho người có tín tâm ở đất Tần. Xin hăy hồi âm ngay để tiện báo với Thượng Hải Thư Quán gởi sách. Đối với thời cuộc hiện nay, sợ rằng sẽ c̣n biến động lớn lao! Hăy nên bảo gia quyến và hết thảy những kẻ hữu duyên kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, ăn chay niệm Phật và niệm Quán Thế Âm ngơ hầu gặp dữ hóa lành, gặp nạn thành hên. Nếu không, hễ đao binh xảy tới th́ nỗi thảm thương sẽ chẳng nỡ nào nói được đâu!

 

8. Thư trả lời cư sĩ Khang Kư Dao (Thư thứ ba)

Đă nhận được thư viết trong tháng Sáu, do hành tung bất định nên chẳng trả lời. Tôi chỉ nhận được thư này mà thôi, những thư khác đều chưa nhận được. Hiện nay, cuộc chiến tàn sát bùng nổ, dân không lẽ sống; đang trong thời buổi này, cố nhiên hăy nên nhất tâm niệm Phật để cầu xuất ly cũng như khuyên nhủ người hữu duyên.

 

9. Thư trả lời cư sĩ Khang Kư Dao (Thư thứ tư)

Nhận được thư, biết ông và người trong đất Tần đều nằm mộng. [Đang nhằm lúc] dân đất Tần không c̣n lẽ sống mà cứ muốn mở đạo tràng, hoằng dương pháp hóa, thỉnh pháp sư Đế Nhàn [sang đấy hoằng pháp], há Sư chịu được sự gian nan ấy hay chăng? Sao lại nói chẳng thể không khẩn khoản thỉnh cầu, dùng cách ṿng vo ấy để làm ǵ? Vị sư X… (người này quyết chớ nên thỉnh) chỉ biết ăn nói lớn lối, trọn chẳng chân thật hành tŕ. Thỉnh loại pháp sư ấy đến hoằng pháp là muốn cho người khác học theo khuôn sáo ăn nói lớn lối, hay là muốn cho họ chân thật hành tŕ? Trước kia, Quang đă từng nói với ông, chắc là ông cho rằng tôi chèn ép bậc hiền triết chứ ǵ?

 

Nếu bảo Quang chỉ cho ông người nào [đáng thỉnh] th́ Quang thường ở trên biển cả, trọn không một ai qua lại với Quang, biết ai là người phát Bồ Đề tâm muốn lợi khắp hết thảy mọi người đây? Chuyện này quả thật là chuyện khó nhất trong những chuyện khó! Nếu cầu những Tăng sĩ chỉ biết ăn cơm, mặc áo th́ quả thật là có, nhưng bọn họ vẫn chẳng muốn lên phương Bắc là nơi rét buốt để ăn cơm, mặc áo, huống hồ hoằng pháp lợi sanh ư? Hăy làm thế nào để chỉnh đốn Tăng sĩ cũng như Nho sĩ ở đất Tần khiến cho ai nấy đều y theo đạo của thánh nhân Nho - Thích mà hành. Than thở sườn sượt khôn xiết vậy thay! Sổ quyên góp và thư ngỏ đă gởi trả lại trong ngày hôm qua rồi.

 

 

10. Thư trả lời cư sĩ Lưu Quán Thiện

Nhận được thư, biết cư sĩ đạo niệm tinh thuần, thân yên, tâm vui, tôi an ủi lắm! Đối với chuyện [giới giáo dục đ̣i] biến chùa miếu ở Giang Tô [thành trường học], Quang đă sớm gởi thư cho hai ông Ngụy Mai Tôn và Vương Ấu Nông xin họ hăy xoay sở. Ông Ngụy cầm thư Quang đến gặp tỉnh trưởng họ Hàn và trưởng ty giáo dục họ Tưởng. May sao, ông Tưởng cũng thuộc giới Phật giáo [nên nói vun vào], ông Hàn liền chấp thuận băi bỏ lệnh này. Ông Tưởng thương lượng với Ấu Nông, [gợi ư ] nếu kiến nghị này không do các tùng lâm liên danh thưa tŕnh th́ sẽ không xong. Ấu Nông bèn lôi kéo ḥa thượng Diệu Liên ở Quán Âm Am tại ngơ Dương B́ (vị này rất có khí khái lăo thành), cậy Sư liên lạc. Diệu Liên tới các nơi kêu gọi, các nơi đều co cụm chẳng dám ló đầu ra! Về sau, Sư nói chuyện với ḥa thượng chùa Tỳ Lô, ḥa thượng Tỳ Lô cực lực tán thành chuyện ấy. Sư Diệu Liên sang Vu Hồ thâu tô, đi ngang qua chỗ ḥa thượng Tỳ Lô lại liên lạc, họ bèn ước định ngày Hai Mươi Bốn cùng nhau tới Kim Lăng (Nam Kinh) tŕnh bẩm. Đơn thỉnh cầu ấy do Diệu Liên cậy bạn bè soạn thảo, được cụ Mai Tôn sửa chữa. Lại đưa cho ông Tưởng đọc qua trước.

 

Do thấy kỳ hạn c̣n sớm, Ấu Nông bèn đem văn bản ấy gởi cho Quang xem, nghĩ rằng chuyện này đă được băi bỏ rồi. Ấu Nông (nhận được văn bản ấy trước ngày Mười Lăm) cho là chuyện này nhất định đă được giải quyết xong; nhưng [vẫn ngại] người trong hội Giáo Dục thế lực khá lớn, [nếu họ] ngấm ngầm âm mưu chắc sẽ gây ra chuyện đáng lo ngại, liền liên lạc với hai vị pháp sư Đế Nhàn và Đạo Nguyên, [xin họ] gởi thư cho bộ Nội Vụ để vĩnh viễn tránh được hậu họa. Quang nhận được thư [của Ấu Nông] liền gởi thư cho ngài Đế Nhàn. Tới bốn năm ngày sau mới nhận được thư báo rằng: “Bị bệnh, chẳng thể gắng gượng được”. Trước đấy Quang đă gởi thư cho cư sĩ Trang Tư Giam, cậy ông ta đến Nam Kinh chạy vạy, tŕnh báo rơ ràng cho bộ Nội Vụ. Chắc là chẳng đến nỗi v́ sức Quang kém hèn mà sự việc bị vùi lấp vậy! (Cư sĩ La Sưởng Sinh tới núi cho biết Tư Giam sang đất Hàng sắp trở về kinh đô, cùng đi với ông ta. Tới Nam Kinh phải ở lại một ngày; v́ thế Quang liền gởi thư cho ông Trang. Ngày Mười Chín, ông La xuống núi, ước chừng hôm Hai Mươi Bốn th́ Tư Giam đă đến Nam Kinh rồi)

 

11. Thư trả lời cư sĩ Lưu Quán Thiện (Thư thứ hai)

Nhận được thư biết ông đă lành bệnh, an ủi lắm! Chuyện Giang Tô hoàn toàn do công sức của ba vị [Ngụy] Mai Tôn, [Tưởng] Trúc Trang, [Vương] Ấu Nông, nhưng cư sĩ Trang Tư Giam lại có mặt đúng lúc. [Thế là] Quang gởi thư cậy ông ta gặp tỉnh trưởng để tŕnh bày rơ ràng, v́ thế sự việc được hoàn toàn giải quyết xong. Nếu bảo là công của Quang th́ chẳng qua chỉ là gởi thư cho các vị ấy cậy họ xoay sở mà thôi, nào đáng để nhắc đến? Nếu coi đó là công, tức là đă mạo nhận công của người khác làm công của chính ḿnh vậy!

Lệnh thích chôn con, chết cháu, ước theo mặt t́nh cảm con người th́ cũng chẳng thể nào không cảm động, nhưng bi thương đến nỗi gần như điên cuồng tức là chỉ biết có con có cháu, chẳng màng tới cái thân! Sao lại mê chấp đến mức như thế ấy? Thử nghĩ: Con cháu chịu ơn tổ phụ, dẫu tan xương nát thân cũng chẳng thể báo đáp được; nhưng con cháu khi phải chôn tổ phụ có đau đớn như cuồng hay chăng? Nếu là hạng con cháu biết luân lư th́ cũng buồn bă đôi chút, bày ra nghi lễ đại lược th́ vẫn c̣n có thể khiến cho vong linh của tổ phụ được an ủi, vui sướng. Chứ nếu là hạng con cháu từ nhỏ đă quen thói kiêu căng, phóng túng, tà vạy, xa xỉ th́ sáng chiều chỉ mong cho tổ phụ chóng chết ḥng được tùy ư chơi bời, cờ bạc, tiêu dao, không ai quản thúc! Nếu tổ phụ chết thật, ắt trong tâm chúng nó sẽ hoan hỷ chẳng thể dùng ngôn ngữ nào để h́nh dung được! Từ đấy, chúng nó sẽ dùng hết gia nghiệp do tổ phụ tận lực duy tŕ để tạo những ác nghiệp địa ngục cực nặng; c̣n đối với chuyện vun bồi đức, tu phước th́ bỏ ra một đồng sẽ giống hệt như phải cắt thịt trên thân của chính ḿnh, thà chết cũng không chịu bỏ ra! Do vậy, hạng chôn vùi thanh danh của tổ phụ, gây nhục cho tổ phụ đến trăm ngàn đời đông lắm! Trong mắt ông, cha, loại con cháu ấy cố nhiên vẫn được nâng niu như châu báu! Xét tới nguyên nhân, nói chung là do quá coi trọng cái tâm của chính ḿnh, chẳng biết tới lư rộng lớn sâu xa mà ra! Chẳng đáng buồn sao!

Xưa kia, Phạm Văn Chánh Công (Phạm Trọng Yêm) coi người khác như chính ḿnh, coi kẻ sơ hệt như người thân, coi thiên hạ là một nhà, coi cả Trung Quốc như một người. V́ thế, từ đầu đời Tống cho đến cuối đời Thanh, trọn một ngàn năm, con cháu đỗ đạt chẳng dứt. Họ Bành ở Trường Châu tận lực làm lành, từ đầu đời Thanh đến nay, đỗ đạt đứng đầu thiên hạ; nhà ấy có bốn năm vị Trạng Nguyên, anh em ruột thịt cùng đỗ Tam Đỉnh Giáp. Do họ đời đời thờ Phật, phụng hành Âm Chất Văn, Cảm Ứng Thiên, sẵn chí muốn tạo lợi lạc cho người khác lâu dài nên trời ban cho sự báo ứng sâu dầy lâu dài.

Nếu lệnh thích là người thông hiểu, sẽ tự thẹn đức bạc cho nên gặp phải quả báo ấy. Từ đấy, nỗ lực tích đức để mong trời thương xót ta th́ con quế cháu lan sẽ tiếp nối nhau sanh ra. Hiện thời thế đạo nhân tâm ch́m đắm tới tột cùng! Thiên tai nhân họa cũng lắm phen đến mức tột cùng. Nếu lưu truyền những thiện thư có ích cho thế đạo nhân tâm để mong [ai nấy] cùng lên bờ giác, hoặc cứu vớt những người dân cùng quẫn đang mắc nạn lũ lụt, băo tố, để mong họ được sống sót trong cảnh chết chóc; so với để lại tài sản cho con cháu ăn nhậu, chơi bời, cờ bạc, khiến cho kẻ khác thóa mạ, th́ sao bằng chính ḿnh làm chuyện cứu người, cứu đời để vun bồi phước cho chính ḿnh trong đời sau ngơ hầu con cháu sẽ được thọ dụng tới trăm ngàn đời ư? Trong mùa Hạ này, tai ương băo tố thê thảm nhất! Trong hai mươi huyện thuộc quyền quản hạt của đạo Cối Kê có đến mười tám huyện báo cáo gặp nạn băo. Trong ngày mồng Mười tháng Tám, Đài Châu lại bị lụt lớn. Có chỗ nhà dân bị ngập sâu dưới mấy thước nước. Những chỗ gần sông đều ngập nước, thuyền bơi được trên cầu, t́nh trạng thê thảm chắc cứ tưởng tượng sẽ h́nh dung được.

Đạo Doăn Hoàng Hàm Chi tên là Khánh Lan, dốc ḷng tin tưởng Phật pháp, ăn chay trường, niệm Phật. Năm trước, Đài Châu bị tai nạn, ông ta đă quyên mộ cứu chẩn rộng răi. Năm nay tai nạn càng nghiêm trọng hơn, do quyên mộ khó khăn, dân chúng bị tai nạn thật đáng thương, [ông Hoàng] tính muốn đốt ngón tay để lo cứu trợ, chắc sẽ cảm động được ḷng người. Cứu được một người, công đức vô lượng, huống là nhiều người ư? Nay ông ta bảo Quang đứng ra quyên mộ thay, Quang tự thẹn đức bạc, ai chịu nghe lời ḿnh nói? Nhân nỗi lo buồn của lệnh thích khiến Quang động ḷng trắc ẩn, [Quang cho rằng] nếu ông ta xót thương con cháu bị chết yểu giữa độ tuổi trung niên, hăy v́ họ mà lo liệu chuyện cứu tế [dân chúng đang bị tai nạn] nhằm cầu siêu cho linh hồn họ, vun bồi phước đức cho chính ḿnh, tạo duyên chiêu cảm con lan cháu quế, hoặc cầu siêu cho cha mẹ, tổ tông, họ hàng, hoặc cầu cửa nhà b́nh yên. Chỉ cần xuất phát từ ḷng Thành th́ trọn không một ai chẳng được phước báo.

 

Con người hiện thời phần nhiều mượn chuyện công để lo chuyện tư, v́ thế người ta khó tin tưởng được! Nếu luận về tư cách làm người của ông Hoàng Hàm Chi th́ có thể nói là trong số các trưởng quan [hiện thời] không có được đôi ba người như ông ta! Ở Ninh Ba, mỗi năm ông ta thí thuốc hơn hai vạn đồng, huống là thí tặng thiện thư và làm đủ thứ chuyện tốt lành ư? Ông ta làm quan chỉ đem tiền của trong nhà bù đắp [cho chuyện công ích], chứ không phải là phường bóc lột dân chúng, gây hại cho nước nhà nhằm vinh thân ph́ gia! Ông Trương Thụy Tằng là bạn thí tặng thiện thư của ông ta. Thụy Tằng lập một cơ sở cho kẻ b́nh dân vay tiền tại Dương Châu (không cần trả tiền lời, chỉ cần trả đủ vốn), gởi thư xin Hàm Chi thành lập [một cơ sở giống như vậy] tại Ninh Ba. Hàm Chi liền thành lập ngay. [Nhờ vậy], phàm những người buôn bán nhỏ không có tiền vốn đều không phải lo nghĩ nữa. Chỉ qua một chuyện này đă biết được đại khái. Trong số những người bản thân các hạ quen biết có rất nhiều nhà giàu có. Như các ông Trương, Hoàng v.v… sanh trưởng trong nhà phú quư, cố nhiên chẳng biết đến nỗi khổ v́ bần cùng [mà vẫn làm những chuyện cứu tế rộng răi].

 

Nếu chịu phát tâm v́ khắp mọi đứa con của trời đất mà hành cứu tế, cố nhiên sẽ chẳng có những chuyện gia đ́nh bất hạnh, chôn con, chết cháu, con cháu bại hoại thanh danh gia đ́nh khiến tổ phụ phải ngậm hờn nơi chín suối! Nếu chịu phát tâm, hăy giao trực tiếp cho Đạo Doăn Hoàng Hàm Chi ở dinh thự quan Đạo Doăn Ninh Ba thâu nhận. Cố nhiên Quang trọn chẳng nhúng tay vào. Quang nghèo không tấc đất cắm dùi. Trong năm trước đă hai lần đem món tiền in Văn Sao là năm trăm đồng để cứu đói; năm ngoái cũng quyên tặng mấy chỗ một trăm đồng. Mùa Hạ năm nay lại đem khoản tiền một trăm đồng do bạn bè tặng để in Văn Sao gởi cho Hoàng Đạo Doăn nhằm cứu trợ tai nạn. Dùng tiền của người khác để giăi bày tấm ḷng của tôi mà thôi!

12. Thư trả lời cư sĩ Lưu Quán Thiện (Thư thứ ba)

Nhằm tiết Trung Thu khí trời trong mát, nghĩ vầng trăng tṛn vành vạnh trong tâm cư sĩ cũng giống như vầng trăng trên bầu trời, rạng ngời, trong trẻo, không cảnh nào chẳng chiếu, vui mừng an ủi lắm. Chuyện [hội giáo dục] mưu chiếm đoạt chùa miếu ở Giang Tô bị dẹp tan. Trong chuyện này Ngụy Mai Tôn dốc sức xoay xở rất nhiều, nhưng Vương Ấu Nông cũng khá phí tâm lực, nhưng chỗ hay nhất vẫn là nhờ ông Tưởng Trúc Trang chỉ vẽ.

 

13. Lược truyện ḥa thượng Pháp Tràng

Sư húy Hành Xí, hiệu Pháp Tràng, biệt hiệu Nhị Tuyết. Nhà ở Chương An, họ Lâm, vốn có tên là Tăng Chí, tên tự là Khả Nhậm. Tổ tiên vốn là tiến sĩ Chánh Trọng Công đời Tống, suốt mười lăm đời đều nối ḍng văn học. Chiêu Công – vị từng được ban tặng tước hiệu Đông Các Đại Học Sĩ – chính là cha của Sư. Sư chưa đầy tuổi khỏi địu, Chiêu Công đă khuất núi. Sư bẩm tánh hiếu hữu, ham học. Năm mười sáu tuổi vào trường học. Năm hai mươi ba tuổi, tức năm Ất Măo (1615), đỗ kỳ thi Hương, tới đọc sách tại chùa Hưng Thiện, làm bạn với các thiền tăng, tin pháp xuất thế. Năm hai mươi bảy tuổi, mẹ của Sư được vua khen thưởng sự thủ tiết và hiếu thuận, phong tặng tước hiệu Phu Nhân. Giang Thị (mẹ Sư) mất, Sư đau buồn chẳng thiết sống, nghĩ nhờ vào Phật pháp để báo đáp ân cù lao, nhân đó thỉnh các pháp bảo để tụng. Như đă tập quen từ đời trước, từ đấy Sư làm những chuyện tốt lành như phóng sanh, chôn vùi hài cốt [bị bộc lộ] v.v…

Năm ba mươi ba tuổi, Sư chuyển sang sống ở chùa Mật Ấn núi Đầu Đà, đây chính là đạo tràng Nhất Túc Giác (một đêm giác ngộ) đời Đường. Hằng ngày, Sư qua lại học tập nghiên cứu với Thọ Nghiệp Sư là Tăng Ma Mă Sính Quân, càng biết rơ có chuyện hướng thượng. Tăng Ma từng gặp thiền sư Bác Sơn Vô Dị. Ngôi điện cũ trong chùa nghiêng ngả, khéo sao có khu sơn trại trên mạch núi gần đó, Sư bèn đẵn sạch cây cỏ, [khiến nó] quang đăng như mới dựng. Ngay trong lúc ấy, Sư đă có ư sửa chữa, tạo dựng [chùa Mật Ấn]. Sư đỗ Tiến Sĩ năm Mậu Th́n (1628) lúc ba mươi lăm tuổi. Những người đậu cao được chọn nhiệm sở đầu tiên. Thoạt đầu, Sư bói cỏ Thi, chọn làm huyện lệnh Bồ Kỳ thuộc đất Sở (Hồ Bắc). Ngự Sử Hoàng Tông Xương do thấy Tăng Ma khắc in cuốn Tông Môn Tam Quan Ngữ liền hỏi Sư:

- Trong nhà Nho cũng có tam quan ư?

Sư nói: - Có!

Hỏi: - Sơ quan (cửa đầu tiên) là ǵ?

Sư đáp: “Bất tri vi bất tri, thị tri dă” (Không biết nói là không biết, đấy chính là biết vậy).

- Nhị quan?

Sư đáp: -“Ngô hữu tri hồ tai! Vô tri dă” (Ta có biết chi đâu, chẳng biết ǵ cả).

- Tam quan?

Sư đáp: “Ngô vô hành nhi bất dữ nhị tam tử dă, thị Khâu dă” (Ta không làm điều ǵ mà chẳng để cho hai ba người các anh được biết, Khâu làm người như vậy đấy).

Ông Hoàng vỡ lẽ, trở thành bạn rất thân với Sư. Sư từng ở nơi công quán, khi đụng đến cái bô đi tiểu liền có chỗ tỉnh ngộ, bèn viết kệ rằng:

Kỳ tai! Đằng nịch khí,

Thông thân hắc tất tất,

Đẩu nhiên khám phá thời,

Tuyết tiêu địa thượng thấp.

(Lạ thay! Cái bô tre,

Toàn thân sơn đen kịt,

Bỗng nhiên khi nhận biết,

Tuyết tan, đất ướt đầm)

Trong khi cai trị, Sư dùng đức để giáo hóa trước tiên, chí thành cảm động ḷng trời, cảm được mưa ngọt mấy lần giáng xuống. Quan Tuần Án là Tống Hiền lấy làm lạ, nhân dịp sang chúc mừng tướng công Đại Tể Lư Trường Canh được vua gọi vào chầu, bèn cùng dâng sớ tâu lên. Vua liền truyền chỉ những người đảm nhận chức vụ Khoa Đạo không nhất thiết phải tuyển từ người đỗ đạt, mà trước hết phải chọn từ những người được đề cử để sung vào chức vụ ấy. Khi đó, mọi người đều cùng bàn tán: “Mai sau, chắc Bồ Kỳ sẽ là nơi cử hành điển lễ [thăng chức] long trọng ấy”. Do vậy mới có tác phẩm Sở Bồ Kư Thụy (ghi chép về chuyện tốt lành ở Bồ Kỳ trong đất Sở) được khắc.

Dân đất Bồ lập Cam Lộ Sanh Từ. Hai lần Sư tổ chức thi Hội ở đất Sở, lập Trung Ẩn Viên trong dinh thự để giảng sách cho học tṛ vào mồng Một, ngày Rằm. Các sanh đồ thuộc những ấp lân cận kéo đến nghe đông như họp chợ. Khi ấy, Sư có cho khắc cuốn Giảng Học Pháp Vũ. Khi măn nhiệm kỳ [làm huyện lệnh tại đất Bồ], Sư được chọn giữ chức Hàn Lâm Biên Tu. Gặp dịp Đông Cung (Thái Tử) được vua cho ra lập dinh thự riêng, vua bèn chọn Sư làm giảng độc (thầy dạy học) [cho Thái Tử], Sư bèn nhận chức. Sư luôn lo cho dân cho nước, ḷng tha thiết mong làm lợi cho dân chúng. Sư trông coi tấu chương của cả sáu bộ, chiếu, đối, ghi chú những bản cáo, sắc, soạn văn, biên tập tu chỉnh bộ Hội Điển Lục Tử Cách Ngôn, nhận chức Kinh Diên Giảng Quan, rồi chuyển thành Hữu Trung Doăn của Hữu Xuân Phường thuộc Chiêm Sự Phủ Hữu kiêm Thị Độc Học Sĩ. Rồi lại được thăng lên trông coi Thiếu Chiêm Sự Phân Hiệu. Năm Quư Mùi (1643), Sư làm Chủ Khảo kỳ thi Hội.

Năm Giáp Thân (1644), giặc Lư Tự Thành xâm phạm cung khuyết, Sư gặp phải quốc nạn, bị tra khảo tàn khốc gần chết, vẫn giữ tiết tháo chống giặc không khuất phục. Quân giặc bị [quân Thanh vượt quan ải vào Trung Nguyên đánh] bại, bèn xôn xao rút về phương Nam. Khi ấy hậu duệ của nhà Minh là Long Vũ dấy lên ở đất Mân (Phước Kiến); kiên quyết giao cho Sư giữ chức Nội Các Đại Học Sĩ. Đến khi Long Vũ Đế [bị quân Thanh truy kích] phải chạy sang đất Việt (Quảng Đông), Sư biết “theo mạng trời khí số nhà Minh đă hết”, liền xin xuống tóc với vị kỳ túc ở Lă Phong là Quá Tuân. Khi ấy, nhằm tháng mùa Đông năm Bính Tuất (1646), Sư tṛn năm mươi bốn tuổi.

Khi nhà Đại Thanh thống nhất sơn hà, trưng dụng những bậc di lăo trong thiên hạ, riêng ḿnh Sư không tuân chiếu. Nhà chức trách ép Sư ra cộng tác, Sư toan tự sát. Ngài Quá Tuân nói: “Ông đọc sách nhưng không hiểu được đạo. Đang trong lúc nước nhà tan vỡ, quân Thanh noi theo điều nghĩa vào quan ải, đánh một trận dẹp tan giặc [Sấm Vương Lư Tự Thành], báo thù cho các vị hoàng đế [nhà Minh], quả thật có đức đối với nhà Đại Minh. Nếu ông chủ trương trung thần chẳng thờ hai họ, toan học theo chí của Sào Do, chưa chắc đă không được [triều đ́nh] chấp thuận”. Sư nghe vậy bèn mặc tăng phục đến gặp; quả nhiên được toại nguyện. Từ đấy, thiết tha dùi mài, dốc ḷng nghiên cứu đại sự sanh tử. Một đêm nghe tiếng chuông, chướng ngại liền tan ngay, có kệ rằng:

Thử dạ chung thanh kháp dị thường,

Nhất chùy đả phá xú b́ nang,

Bách đơn bát hạ như lôi hống,

T́nh dữ vô t́nh hà xứ tàng?

(Chuông gióng đêm nay thật lạ kỳ,

Một dùi đập nát đăy da hôi,

Trăm tám tiếng rền như sấm động,

T́nh với vô t́nh ẩn chốn nao?)

 

Liền trở về chùa Mật Ấn để tṛn nguyện xưa, tu bổ Tổ Đ́nh, gặp nhiều chuyện cảm ứng huyền diệu đă được chép đầy đủ trong bi kư trung hưng. Sư vốn chuyên chú nơi đạo Thiền, thường có chỗ ngộ, nhưng chưa dám chắc bèn thiết tha, kính mộ tham bái khắp các vị thiện tri thức. Ngẫu nhiên Dư Khổng Khiêm ở Côn Dương tham bái với Tuyết Đậu Vân ḥa thượng trở về, thuật lại lời của Tuyết Đậu như sau: “Pháp Tràng thiền giả nếu muốn tham phỏng các phương, chắc chỉ có Phí huynh109 của ta là kham nổi!” Sư nghe xong, thưa: “Đúng là lời của bậc thiện tri thức, tôi đă có ư muốn đến gặp Tuyết Đậu”. Liền qua núi Tứ Minh yết kiến Tuyết Đậu. Lễ bái xong, Tuyết Đậu nói: “Nếu như lăo tăng không c̣n th́ lễ bái là đúng, hay không lễ bái là đúng?” Sư toan thưa bày, Tuyết Đậu hét lên một tiếng thị oai. Sư bất giác mướt mồ hôi, ngay lập tức thấy được chỗ dụng ư của Tuyết Đậu.

Đến tối, Tuyết Đậu đột ngột giơ nắm đấm, hỏi: “Cái ǵ sanh?” Sư thưa: “Lấy hai miếng da ghép lại!” Tuyết Đậu lại giơ nắm đấm, Sư nói: “Hễ tái phạm sẽ chẳng dung”. Tuyết Đậu úp bàn tay, Sư nói: “Chẳng để ḥa thượng khinh mạn!” Ngày hôm sau, Tuyết Đậu khai thị trong giờ tọa hương, nói: “Ta có một bài thiền kệ dạy cho Sư”. Sư nói: “Ở chỗ này chẳng tiêu mối nghi được!” Tuyết Đậu nói: “Rốt cuộc để làm ǵ?” Sư bước ra lễ ba lạy, lui ra, liền tŕnh kệ rằng:

 

Thuấn mục đương cơ hoán thoại đầu,

Hà như chỉ dụng lăo quyền thù,

Tổ thiền hội đắc hưu khinh tín,

Nhất diệp sơ phi biến giới thu.

(Chớp mắt đương cơ, đổi thoại đầu,

Sao bằng nắm đấm dạy cho nhau?

Tổ thiền hiểu được, đừng tin vội,

Một lá vàng bay khắp cơi thu).

Một bữa uống trà xong, nói đến mọi chuyện phải đảm đương, Tuyết Đậu tặng cho Sư tấm biển “chân giác tái lai”, nói: “Thượng tọa c̣n gánh vác được hay chăng?” Sư nói: “Chẳng phải là tay giỏi gánh vác!” Tuyết Đậu nói: “Cổ nhân hễ biết là chuyện quẩn quanh liền ngừng sai bảo làm ǵ nữa!” Sư nói: “Tận lực nói không ra, Tuyết Đậu đừng ra!” Sư trở về Vũ Lâm, Tuyết Đậu có bài kệ tiễn đưa như sau:

Nhũ Phong cang lưỡng nguyệt,

Độc bộ khứ Tiền Đường

Nhất cú siêu phương ngoại,

Toàn cơ tuyệt phú tàng.

Lâm Tế chánh pháp nhăn,

Diệt khước hạt lư bàng,

Chỉ giả phá sa bồn,

Đăi tương vi cử dương,

(Nhũ Phong vừa hai tháng,

Một ḿnh qua Tiền Đường,

Một câu vượt ngoài cơi,

Cơ phong hết giấu che,

Lâm Tế chánh pháp nhăn,

Diệt sạch lũ lừa mù,

Chỉ là phá chậu cát,

Hăy đợi người thốt lời)

Đến núi Thánh Quả, tảo mộ Mă cư sĩ (tức cư sĩ Tăng Ma Mă Sính Quân), ấy là v́ Sư chẳng quên nguồn gốc. Tham yết khắp các phương, trở về chỗ Tuyết Đậu thọ Cụ Túc Giới, quản lư nhà kho. Một bữa, Tuyết Đậu xuống nơi ấy, bỗng dưng đánh cho Sư một gậy bảo: “Nói ngay!” Sư thưa: “Khoét thịt thành ghẻ”. Tuyết Đậu nói: “Mới chỉ nói được một nửa”, Sư nói: “Ngay cả một nửa cũng chẳng tiêu được”. Từ đấy, đầu mũi tên ghim chắc, không c̣n sơ sót, rơi rớt chỗ nào; người ghi chép chẳng thể thuật hết. Mùa Xuân năm Quư Tỵ (1653), Sư từ biệt trở về Đông Âu. Tuyết Đậu viết thật to vào đầu cuốn sách: “Thân khiết lăo quyền” (Đích thân ăn phải nắm đấm già), dặn ḍ bằng bài kệ:

Biệt ngă xuân phong lư,

Lâm hành nhất cú thân,

Trượng đầu tuyên đại ư,

Túc để bát phương trần.

Văng phục năi vô sự,

Tung hoành dĩ tuyệt luân,

Đáo gia nghiêm diện mục,

Sở dĩ tiếp gia tân.

(Giă từ trong gió Xuân,

Dặn một lời ân cần,

Đầu trượng tuyên đại ư

Gót chân dạo cơi trần,

Qua lại trọn vô sự,

Tung hoành ai sánh bằng,

Tới nhà nghiêm sắc mặt,

Để tiếp đón gia tân)

 

Tuyết Đậu coi trọng Sư giống như Ứng Am Hoa thiền sư coi trọng Mật Am Kiệt thiền sư vậy. Năm Giáp Ngọ (1654), Tuyết Đậu nhận lời thỉnh của chùa Mật Ấn, tấn phong Sư vào ngôi vị Tây Đường. Hết thời hạn an cư, Tuyết Đậu trở về Nhũ Phong. Sư lại đến thân cận, thăm hỏi. Khéo sao, thân sĩ vùng Tứ Minh thỉnh Sư trụ tŕ chùa Bảo Phước ở Đại Mai thuộc huyện Ngân, Sư thấy nơi đó là chỗ ẩn dật xưa kia của Hán Úy, lại c̣n hâm mộ phong cách cao cả của Thường thiền sư, bèn vui vẻ qua đó. Tuyết Đậu đề thơ trên bức đảnh tướng có những câu như sau:

Thanh xuất ư lam, thùy tự nhĩ,

Đại Mai phong đảnh khán phong lôi

(Gió sấm Đại Mai đầu núi ngắm,

Xanh trỗi hơn chàm, ai giống ông? )

Đ́nh viện [Bảo Phước Tự] bỏ hoang hơn tám trăm năm, Sư cùng các thiền tăng chẳng ngại đội sương, dầm tuyết, vâng giữ bổn phận, gần - xa dần dần kéo về trở thành chốn tùng lâm. Do vậy, ḥa thượng Phí Ẩn Dung có đề tặng: “Lănh tụ trong pháp môn, bao người trông ngóng, tám vạn thông xanh nhớ măi vẻ mặt tươi cười”, ḥa thượng Mục Vân Môn đề tặng: “Truyền Tổ đăng ṿi vọi trên ngọn Thái Bạch, thú có sừng tuy nhiều, nhưng chỉ một con lân là đủ [để vượt trội hết thảy]” v.v… Sư đến Thiên Đồng, ḥa thượng Mộc Trần Mẫn thỉnh Sư thăng ṭa, thấy những điều Ngài đề xướng liền nhiệt liệt ca ngợi. Viết lời tựa cho Đại Mai Lục, có những câu như: “Ḷng Từ rỗng rang như hang gió, chiếu rạng ông cháu. Sự giác ngộ soi sáng non Đông, cha con cùng chứng. Quả thật tiếng vang rền măi tới ngàn thu”. Ba vị tôn túc (tức Phí Ẩn Dung, Mục Vân Môn và Mộc Trần Mẫn) lại vui sướng tuyệt mức, hết sức khen ngợi Sư giống như khen ngợi ngài Ứng Am vậy!

Sư trụ tại Đại Mai sáu năm rồi đem chuyện trong chùa giao phó lại cho Thủ Tọa Nhật Hưu Mị, nhận lời thỉnh của Đông Âu. Mùa Đông năm Canh Tư (1660) Sư mở giảng ṭa tại Mật Ấn, so ra c̣n hưng thịnh hơn đạo tràng Đại Mai. Năm Bính Ngọ (1666), Sư nhận lời thỉnh của Quát Thương Tịnh Giác, lại đem Mật Ấn giao cho nhiều học tṛ trông coi, chứ không làm Tây Đường nữa. Cuối Hạ năm Đinh Mùi (1967), Sư thị hiện bệnh nhẹ, ngồi thuyền trở về Đà Phong. Ngày Rằm tháng Tám, Sư đối trước đại chúng nói kệ rằng:

Thất thập ngũ niên nhàn đả hống,

Tổng vô kỳ đặc xuất thường luân

Nhi kim tán thủ huyền nhai khứ,

Nhất nhậm chư phương thuyết huyễn chân.

(Dỗ ngọt người đời bảy lăm năm,

Trọn không chi lạ khác phàm nhân,

Cheo leo vách đá, tay buông thơng,

Mặc kệ nơi nơi luận huyễn - chân)

 

Rồi lặng lẽ qua đời. Sư sanh vào năm Quư Tỵ nhằm niên hiệu Vạn Lịch 21 (1593), mất vào năm Đinh Mùi tức năm Khang Hy thứ sáu (1667), thọ bảy mươi lăm tuổi, Tăng lạp hai mươi ba năm.

 

14. Thư trả lời cư sĩ Phương Gia Phạm

Muốn sanh về Tịnh Độ, trước hết phải hiểu rơ ràng tông chỉ. Tu tŕ theo đường lối thông thường th́ không pháp nào chẳng lấy khai ngộ làm điều mong mỏi; nhưng chuyện khai ngộ cũng chẳng phải là dễ dàng! Nếu biết tông chỉ của Tịnh Độ, quyết chẳng mong đợi khai ngộ. Nếu chẳng chú trọng tín nguyện, dẫu khai ngộ cũng khó liễu thoát được! Nếu có thể nhất tâm niệm Phật th́ chẳng ngộ vẫn được văng sanh. Trong thư ông viết: “Tuy đă sẵn ḷng chán nhàm cơi uế, nhưng chưa hiểu tự tánh như thế nào?” tức là ông dốc chí nơi khai ngộ. Khai ngộ mà có tín nguyện th́ chính là Thiền Tịnh Song Tu, là cao thượng nhất; nhưng trong cơi đời rất ít ai thật sự khai ngộ!

Thế nào gọi là thật sự khai ngộ? Đấy chính nói về minh tâm kiến tánh, tức là trong tự tâm thấu hiểu triệt để, chứ không phải chỉ biết nói mà thôi! Nếu chỉ biết nói th́ chẳng thể gọi là khai ngộ được! Chớ nên hiểu lầm! Thật sự đạt đến địa vị minh tâm kiến tánh, cũng vẫn phải tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương! Người đời cứ hễ cầu khai ngộ đều chẳng chú trọng tín nguyện cầu sanh, cứ muốn nương vào cái ngộ ít ỏi, loáng thoáng ấy để liễu sanh tử th́ chính là tự lầm, lầm người. Cố nhiên, chẳng bằng kẻ chất phác niệm Phật sẽ ổn thỏa, thích đáng hơn!

Quang già rồi, chẳng thể nói tường tận với ông được. Nay lại gởi cho ông hai gói sách, ông hăy lắng ḷng đọc sẽ có thể biết rơ tông chỉ Tịnh Độ. Nếu chẳng thể sanh ḷng tin nơi các sách ấy, lại cầu minh tâm kiến tánh, cầu thành Phật trong thân hiện tại, Quang cũng chẳng trách ông. Chỉ sợ ông từ trần sa kiếp này sang trần sa kiếp khác vẫn luân hồi trong lục đạo. Nhưng muốn liễu sanh tử, ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành để làm người hiền, người thiện trong thế gian. Nếu luân thường khiếm khuyết, tam nghiệp lắm lầm lỗi, muốn khi lâm chung được Phật tiếp dẫn th́ do khí phận trái nghịch với Phật, làm sao có cảm để ứng đây? Phàm gặp kẻ hữu duyên, hăy đều nên bảo với họ điều này!

Nay gởi cho ông Tịnh Độ Ngũ Kinh, Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, Liễu Phàm Tứ Huấn, Ấn Quang Văn Sao, Gia Ngôn Lục, Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ, Quán Âm Tụng, Sức Chung Tân Lương, Niệm Phật Khẩn Từ, Sơ Cơ Tiên Đạo Hợp Biên, mỗi thứ một bộ. Đối với chuyện thọ giới th́ hăy nên dựa theo lá thư gởi cho bà Từ Phước Hiền trong Văn Sao để tự thệ thọ giới trước đức Phật. Nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Phạm, nghĩa là dùng pháp môn Tịnh Độ được nói từ trí huệ của đức Phật để tự hành, dạy người, tạo khuôn phép cho cơi đời. Xin hăy nh́n vào cái tên, nghĩ đến ư nghĩa rồi thực hành th́ may mắn lắm thay! (Ngày Mười Sáu tháng Bảy)

Từ nay về sau, đừng gởi thư tới nữa, cũng đừng giới thiệu người khác quy y. Dẫu thỉnh kinh sách từ Hoằng Hóa Xă cũng đừng thừa dịp thuận tiện gởi thư cho Quang v́ không có sức để thù tiếp vậy.

 

15. Thư trả lời đại sư Viên Chuyết

Nhận được thư khôn ngăn than thở. Người đời chỉ biết phỏng theo dấu tích, chẳng xét đến đúng - sai, lợi - hại. Thường là đối với chuyện làm phước lại ngạo ngược tạo thành nghiệp lớn. Đừng nói ǵ người thế tục, ngay cả tăng nhân đa số cũng giống như thế. Cuốn Tây Phương Công Cứ được lưu hành trong cơi đời, phía trước có khắc h́nh Pháp Hội, phía sau khắc A Di Đà Kinh, Văng Sanh Chú. Cuối cùng khắc cửu phẩm liên đài, trên mỗi đài sen là một đức Phật ngồi, chung quanh khắc những chấm tṛn để người ta chấm vào. Hễ chấm kín hết [các ṿng tṛn đó] sẽ đem kinh ấy thiêu đi. Một người bạn tôi (tức ḥa thượng Chân Đạt) muốn sửa chữa lại để ấn hành rộng răi. Quang nói: “[Người niệm Phật] chấm xong ắt sẽ thiêu sách, cả kinh lẫn h́nh Phật đều bị thiêu theo. Do sách đă bị chấm đen đúa lem luốc th́ cũng chẳng thọ tŕ được nữa”. Do vậy bèn bàn định biện pháp, chẳng khắc kinh, tượng, chỉ vẽ h́nh chín phẩm đài sen và những chấm tṛn xung quanh để [người niệm Phật chấm vào] ḥng nhớ số.

Việc sửa chữa, sắp xếp ấn hành đều do Quang lo liệu, sao lại nói là có chuyện Đại Báo Ân Tháp? Do vậy, tôi liền qua nhà kho t́m kiếm phụ bản của sách ấy, quả thật có chuyện đó! Số trang của phụ bản được đánh số tới hai mươi th́ ngừng, c̣n trang in h́nh tháp ấy được đánh số một và hai. Đủ biết là về sau này, do muốn khế hợp ḷng ưa thích của người đời, người đứng in bèn thêm vào. Đủ thấy khó lay chuyển được ḷng ưa thích của người đời! Vương Đại bán hương Ấn Độ, bốn mặt hộp đựng hương in tổng cộng h́nh của năm mươi mấy vị Phật. Quang chẳng bằng ḷng người ta bán loại hương đó, đă nói rơ lẽ lợi - hại với người quản lư tiệm hương ấy, hai lượt gởi thư bảo đảm, mong họ ắt sẽ trả lời, nhưng rốt cuộc họ không trả lời! Chúng ta không có quyền, làm ǵ được họ?

Huyết Bồn Kinh, Thọ Sanh Kinh chính là do những tăng sĩ hèn kém ngụy tạo ra để cầu lợi khiến cho những kẻ chẳng biết Phật pháp tưởng kinh Phật đều toàn do lũ tăng sĩ kém hèn ngụy tạo! Đối với hàng thiện tín vô tri, nếu không phá huyết hồ, không trả nợ thọ sanh sẽ không được! Ngay trong những tùng lâm nổi danh nhất nước, cũng không một chùa nào chẳng tán thành làm chuyện ấy, bởi đấy là cái nguồn kiếm lợi nhuận, chẳng ai bận tâm chuyện ấy chính là cái gốc họa hủy diệt Phật pháp. Hiện thời chẳng thể gởi sách được!

Một người bạn sao lại lời bàn luận của Quang với Lư Huệ Trừng về chuyện đốt kinh, nay tôi đem bản sao ấy gởi kèm theo thư. Ông Lư dựa theo lời người khác bảo “[đốt kinh] có công đức” nên mở đầu thư tôi liền bắt đầu bằng chuyện “có công đức” để nói đến tội lỗi, chớ nên hiểu lầm, tưởng Quang tán thành “đốt kinh có công đức”! Pháp môn bước vào buổi chiều tà, sai ngoa quá nhiều! Nếu thường tranh luận với người khác, sợ sẽ đến nỗi bị kẻ khác nhao nhao công kích, đâm ra chẳng có ích ǵ cho người ta, lại có hại cho pháp, cho ḿnh vậy! Qua mấy chuyện này th́ đă đủ biết rồi! Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ, xin đừng gởi thư tới nữa, gởi đến quyết không trả lời. Xin hăy sáng suốt soi xét th́ may mắn lắm thay! (Ngày mồng Hai tháng Mười)

 

16. Thư trả lời cư sĩ Trần Tiếp Ḥa

Nghe nói Sĩ Mục sắp sang Vân Nam bởi cảm thấy thiếu sót v́ cha già đă tám mươi hai tuổi mà chính ḿnh chẳng thể thường hầu hạ dưới gối ḥng bầu bạn niệm Phật với cha. Quang quyết diệt tung tích trong tháng Chín này; ông và tôi có t́nh thầy tṛ, chẳng thể không giăi bày cùng ông một phen. Con người sống đến bảy mươi tuổi xưa nay đă hiếm, huống chi ông đă tám mươi hai rồi! Nếu đă chứng được bất sanh bất diệt th́ cố nhiên chẳng cần tới Quang phải dông dài một phen. Nếu chưa đạt được, cố nhiên phải như chôn cất cha mẹ, như cứu đầu cháy để sanh ḷng tin chân thật, phát nguyện thiết tha, tŕ A Di Đà Phật vạn đức hồng danh để cầu sanh Tây Phương. Hiện nay, cơi đời đă loạn đến cùng cực, đúng là thời buổi đại loạn phá toang đất trời kể từ thuở có trời đất đến nay. Huống hồ đang lúc già suy, sáng chẳng bảo đảm được tối, há có nên giống như bọn thiếu niên vô tri, cứ chần chừ để ngày tháng trôi qua đến nỗi sống uổng chết phí, tuy gặp Phật pháp mà vẫn không có cách nào hưởng được lợi ích lớn lao ư?

May mắn là Trí Dục, Tịnh Anh v.v… vẫn sốt sắng niệm Phật, hăy nên trong lúc này lập ra một quy ước: Nếu đến lúc lâm chung, chớ nên thay áo, lau rửa sẵn (xin coi lời dạy về lúc lâm chung trong Gia Ngôn Lục! Ở đây không viết cặn kẽ) và khóc lóc đến nỗi nhiễu loạn cái tâm trong lặng của người [sắp mất] đến mức mất chánh niệm, chẳng khế hợp với Phật, không cách ǵ được Phật tiếp dẫn, vẫn phải luân hồi trong tam đồ lục đạo y như cũ! Đấy gọi là ḷng hiếu kiểu “đă té giếng c̣n quăng thêm đá!” Nỗi hại ấy không sao nói xiết! Hăy nên đọc mấy chương dạy về đại sự sanh tử trong Gia Ngôn Lục sẽ tự biết rơ. Nếu trong lúc này chẳng nỗ lực, chỉ mong an nhàn thảnh thơi th́ ngàn đời vạn kiếp trọn chẳng có ngày nào thoát khổ được đâu! Nếu như tâm lực suy nhược, hăy nên bảo con trai, con dâu, cháu gái v.v… luân phiên trợ niệm. Chuyện này có rất nhiều điều lợi ích:

1) Một là phụ trợ cho chánh niệm của chính ḿnh.

2) Hai là khéo léo gieo thiện căn tối thắng cho bọn họ.

3) Ba là mở mang phong thái nhằm mong mọi người bắt chước làm theo.

4) Bốn là nếu đến lúc lâm chung [thân quyến] sẽ tự chẳng đến nỗi bày vẽ hay hoảng loạn quá mức, phá hoại chánh niệm [của người sắp mất].

Cửa ải lâm chung khẩn yếu cùng cực. Dẫu cho lúc thường ngày công phu đắc lực, nếu gặp phải cảnh con cháu phá hoại [chánh niệm] do chẳng biết pháp môn th́ sẽ phải ở lại trong thế giới này, chẳng thể văng sanh! Nếu biết nghĩa này, con cháu trợ niệm Phật hiệu nhằm thành tựu chánh niệm, tuy công phu thường ngày của người sắp mất ấy chẳng thích đáng cho lắm cũng vẫn được văng sanh. Do vậy, đối với người già, Quang đặc biệt chú ư, đừng cho là viễn vông, hủ bại th́ may mắn lắm thay!

 

17. Thư gởi cho hai cư sĩ La Khanh Đoan và Trần Sĩ Mục

Hôm trước nhận được thư biết Phật pháp ở quư địa có vẻ phục hưng. Lời duyên khởi do các ông đă soạn chưa thể làm cho người ta cảm ân đức của Phật, Quang soạn riêng một bài khác, lời văn khá rườm rà, sử dụng được hay không tùy các ông. Quang chẳng ép ai! Nếu sử dụng th́ hăy nên làm một tấm bảng bằng gỗ, thỉnh người viết chữ đẹp, dùng lối chữ cung kính, mực thước viết trên hai tờ giấy Tuyên rộng tám thước, hoặc dán, hoặc khắc [bài duyên khởi ấy] trên tấm bảng gỗ, chắc sẽ tồn tại lâu dài. Hoặc [chia tấm bảng đă khắc hay dán bài duyên khởi ấy] làm bốn miếng hay sáu miếng (tính luôn cả bài viết “Tŕnh bày những điều ẩn kín của Văn Trung Công” chắc sẽ chia thành tám miếng) để ngừa khi thời cuộc không tốt, sẽ đem cất.

Bài viết nêu bày ư nghĩa ẩn kín cuốn sách Hành Dư Nhật Khóa của Lâm Trung Công có quan hệ rất lớn, cũng nên theo biện pháp ấy. Bài văn ấy nhằm giăi bày trọn hết những điều ẩn tàng của bậc cổ đại nhân thuở trước, chứ không phải chỉ riêng ḿnh Văn Trung Công. Văn Trung Công là người đất Mân (Phước Kiến). Có được bài văn ấy th́ những kẻ hẹp ḥi, câu nệ sẽ chẳng dám buông lời báng bổ xằng bậy. Ông nói đến chuyện chùa Lâm Dương định chiếu theo chương tŕnh của Linh Nham th́ vàn muôn phần sẽ làm không được đâu! Đừng nói người khác đến đấy làm không được, ngay cả thầy Đương Gia Linh Nham là Diệu Chân đến đấy cũng làm không được. Các ông thiếu sự từng trải nên chẳng biết nỗi khó khăn! Quang do trải đời năm mươi mấy năm nên mới nói thẳng thừng với các ông.

Đôi câu đối ở Niệm Phật Đường của Liên Tŕ đại sư đă soạn vào thời Minh hay tuyệt, trọn chưa từng thấy ai dùng đến. Quang nhiều lượt sao lại bảo người khác treo, do đức của đại sư sẽ cảm được người rất sâu. Các ông bảo Quang viết [giùm đôi câu đối ấy] là v́ chẳng biết Quang một mực không viết được chữ lớn; gần đây mục lực suy đến cùng cực, không dùng kính lăo lẫn kính lúp sẽ chẳng thể xem và viết được chữ! Tôi vốn muốn gởi thư từ sớm, nhưng do ngày hôm qua mới có giấy đưa đến nên bây giờ mới trả lời. Từ nay về sau không có chuyện ǵ quan trọng th́ đừng gởi thư tới nữa, bởi không có mục lực lẫn tinh thần để phúc đáp! Hoằng Hóa Xă trước kia có ba người, đều do thời cuộc biến động lớn lao đă đi hết rồi, nên cũng phải biến đổi sao cho thật hợp thời nghi, Quang chẳng hỏi tới nữa. Thầy Đức Sâm qua chùa Thái B́nh ở Thượng Hải để lo giảo chánh sách, sợ rằng có lẽ chẳng thể xong được trong năm nay! Khi nào thầy ấy trở về, sẽ tùy thầy ấy lo liệu.

Những sách các ông cần sẽ gởi tới. Hiện thời chỉ theo biện pháp căn cứ vào giá vốn, không c̣n cho thỉnh nửa giá hay biếu không nữa! Lần này gởi biếu, lần sau đều chiếu theo giá vốn để lo liệu. Nay gởi cho các ông Đồng Mông Tu Tri, Quán Âm Từ Lâm Tập hai cuốn, đem tờ thông báo rộng răi về chuyện sữa độc giết chết trẻ con [gởi cho các ông] là v́ mong các ông hăy nói với hết thảy mọi người [về chuyện ấy]. Xin hăy sáng suốt soi xét th́ may mắn lắm thay! (Ngày Mười Hai tháng Tám)

Chủ Cực Lạc lục bát đại nguyện chi từ tôn, tuyệt hạn lượng thọ mạng quang minh, bất ly đương xứ,

Quá Sa Bà vạn triệu Phật bang chi Tịnh Độ, diệu trang nghiêm lâu đài tŕ chiểu, nguyên thị ngô hương (Liên Tŕ đại sư đời Minh soạn).

(Đức Từ Tôn chủ cơi Cực Lạc, bốn mươi tám đại nguyện, thọ mạng, quang minh không hạn lượng, chẳng rời nơi đây;

Cơi Tịnh Độ vượt khỏi Sa Bà vạn triệu cơi nước Phật, lầu, đài, ao chuôm tuyệt trang nghiêm, đích thị quê ḿnh)

 

18. Thư trả lời cư sĩ Trí Mục

Nhận được thư khôn ngăn vui mừng, an ủi. Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, nếu không có ai đề xướng th́ thiện căn không cách ǵ phát hiện được! Như hạt giống gieo xuống đất, chẳng có mưa đúng thời sẽ không cách nào nẩy mầm, tăng trưởng được! Cha ông đă có thiện căn từ đời trước, cho nên vừa được thúc đẩy liền chuyển biến, những chấp trước lầm lạc trước kia bèn tiêu diệt ngay, ắt có hy vọng được văng sanh trong tương lai! Nay đặt pháp danh cho cụ là Đức Ḥa, bởi Tiếp () chính là Ḥa vậy. Nếu chẳng biết tự tâm sẵn có Minh Đức th́ chẳng thể trên ḥa với hoằng thệ đại nguyện của chư Phật ḥng quyết chí ức niệm cho đến khi tâm và Phật tương ứng, như nước ḥa lẫn vào sữa; mà cũng chẳng thể dưới là phát khởi cho những người cùng hàng tin tưởng sâu xa, nguyện thiết tha rồi nhất tâm tŕ A Di Đà Phật vạn đức hồng danh để mong thoát khỏi cơi Sa Bà này lên được cơi sen kia ngay trong đời này, như mẹ với con ḥa hợp, vĩnh viễn không chống trái.

Nếu có thể lắng ḷng đọc Văn Sao, rồi lại xem Tịnh Độ Tam Kinh, Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục v.v… th́ sẽ tự biết được cương yếu của đạo “tự lợi, lợi người”. Lại c̣n khẩn thiết, chí thành, ra rả nói cùng với gia quyến, xóm giềng, thân thích, bè bạn. Dùng công đức ấy để hồi hướng văng sanh ắt sẽ cao đăng Thượng Phẩm. Do đấy, cha ông sẽ được lợi ích thật sự bởi thiện căn nhiều đời. Đạo thờ cha mẹ của ông đă đạt được lớn lao. Vẫn mong ông khuyên dụ nhiều cách để cụ tăng trưởng tín tâm th́ sẽ có lợi ích lớn lao. Xin hăy thấu hiểu rơ ràng th́ may mắn lắm thay!

Cháu dâu là Tâm Chi sẵn đủ thiện căn, vừa nghe liền tin, lại muốn quy y, nay đặt pháp danh cho cô ta là Tâm Phức. Do cái tâm sẵn có cực kỳ thanh tịnh mà cũng cực kỳ thơm tho, chỉ v́ đủ mọi vọng niệm nối tiếp nhau dấy lên nên biến thành cảnh tượng ô uế, mất đi bản thể thơm sạch. Cô ta đă phát tâm tu tŕ lại c̣n đem tâm hương ấy xông ướp chồng và con cái, khiến cho ai nấy đều trừ được tâm niệm ô uế, khôi phục bản thể thơm sạch. Công đức bậc nhất của nữ giới chính là hiếu thảo với bố mẹ chồng, giúp chồng dạy con. Đă là đệ tử Phật mà chẳng biết hiếu thảo với cha mẹ, giúp chồng dạy con th́ chưa tṛn hết bổn phận trách nhiệm của chính ḿnh, chắc người khác sẽ do vậy liền chỉ trích những sai trái, chẳng thể nào khiến cho người ta nh́n theo bắt chước làm lành được! Nếu có thể dốc sức trọn hết bổn phận của chính ḿnh, lại c̣n tu tŕ Tịnh nghiệp th́ kẻ thấy người nghe khắp xa gần sẽ đều sanh ḷng ngưỡng mộ. Đấy chính là “dùng lời lẽ để dạy sẽ bị tranh căi, dùng thân để dạy, người khác thuận theo”. Thất phu thất phụ nếu tốt lành th́ cũng có thể thay đổi phong tục; nếu chẳng lành cũng sẽ khiến cho phong tục thay đổi!

Giới giáo dục hiện thời chẳng biết tới nghĩa này, cứ hở ra là khuyên nữ nhân học tập những nghề nghiệp của nam giới, chẳng biết răn nhắc thiên chức giúp chồng dạy con. Cái học ấy là học để gây loạn, chứ không phải là cái học để đạt đến b́nh trị! Tôi thường nói: “Dạy con là căn bản để trị quốc b́nh thiên hạ, nhưng dạy con gái lại càng thiết yếu hơn”. Ấy là v́ con người lúc bé hằng ngày ở cạnh mẹ được mẹ hiền un đúc th́ chưa có ai chẳng trở thành hiền nhân. V́ thế tôi thường lải nhải về chuyện này, hăy nên làm cho hàng nữ nhân của thân hữu đều biết th́ may mắn lắm thay!

 

19. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ nhất)

Nhận được thư và bản thảo [Phật Học] Đại Từ Điển, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Các hạ soạn ra cuốn sách ấy khiến cho những người nghiên cứu Phật học nhập môn dễ dàng, thật giống như người chỉ cho kẻ lạc lối đi đúng đường, công đức ấy làm sao cân lường được? Nhưng cần phải khảo sát tỉ mỉ, xin đừng đem sai ngoa lan truyền sai ngoa!

Những chuyện xa xưa và [chuyện xảy ra] ở ngoại quốc được thuật dưới từ ngữ “nhất thiết kinh” (hết thảy kinh) Quang đều không biết, nhưng những chuyện được tường thuật [trong mục ấy mà Quang được biết th́] phần lớn đều sai lầm, như Minh Thành Tổ ghi là [Minh] Thế Tổ. Năm Vĩnh Lạc 18 (1420), Minh Thành Tổ cho khắc Đại Tạng Kinh suốt hai mươi mốt năm, tới năm Chánh Thống thứ năm (1440) mới hoàn tất. Đấy là Minh Bắc Tạng (Đại Tạng Kinh đời Minh, bản khắc in ở phương Bắc) vậy. Nam Tạng được khắc vào thời Minh Thái Tổ, nhưng do chưa có lời đề từ và lời bạt nên không thể khảo chứng được năm tháng, nhưng chắc chắn chẳng phải là được khắc dưới thời Minh Thành Tổ! Tuy có thuyết nói Minh Thành Tổ đă cho khắc Đại Tạng Kinh ở cả hai kinh đô (Nam Kinh và Bắc Kinh) và cho khắc trên đá, nhưng thật ra [Minh Thành Tổ] chỉ khắc bản Bắc Tạng. V́ sao biết? Do [xét theo] quy củ của Nam Tạng, số ḥm và số quyển đều chẳng theo thứ tự [như trong bản Bắc Tạng], há lẽ nào cùng do một người khắc kinh mà Nam Tạng lại lập riêng một quy củ ư? Hơn nữa, trong Bắc Tục Tạng có [những bản kinh] mà Nam [Tục Tạng] không có, hoặc trong Nam Tục Tạng có [những bản kinh] mà Bắc [Tục Tạng] không có. Đủ biết Bắc Minh Tạng được khắc trong niên hiệu Hồng Vũ thời Minh Thái Tổ không c̣n nghi ngờ ǵ nữa! Bản khắc trên đá hoàn toàn chưa được thực hiện.

Đối với chuyện ni sư Pháp Trân khắc Đại Tạng Kinh th́ ni sư là người thuộc triều Nguyên, Tạng [được ni sư khắc] thuộc loại Phạn bản. Trong mục từ ngữ nói về Tạng Tạng (Đại Tạng Kinh Tây Tạng) ở trước đó, từ điển cho biết [tạng kinh của Tây Tạng] được khắc từ năm Khang Hy hai mươi ba (1684) đến năm Ung Chánh thứ sáu (1728), nhưng Thanh Tạng (Hán truyền Đại Tạng Kinh khắc dưới đời Thanh) của nước ta được khởi công vào năm Ung Chánh thứ mười ba (1735), hoàn tất vào năm Càn Long thứ ba (1738) sao lại hoàn toàn chẳng nhắc tới?

Hơn nữa, Thạch Kinh Sơn ở Tây Kinh là nơi pháp sư Uyển Công đời Tấn khắc kinh trên đá, chứa trong thạch động, v́ lo rằng thời Mạt Pháp kinh Phật diệt hết, mong sẽ có bậc Đại Sĩ thừa nguyện mở động ấy in kinh lưu truyền rộng khắp. Từ đời Tấn đến cuối đời Minh, vẫn có người khắc kinh để cất giữ [trong động ấy], phía ngoài dùng những song sắt niêm phong cửa động, chỉ có thể đứng bên ngoài nh́n vô chứ không thể vào được. Những bản khắc đá ấy chất đầy kín trong động, có khá nhiều động. Trong Văn Tập của các vị Tử Bách và Hám Sơn đều chép về chuyện này.

Hơn nữa, hai chữ Từ Điển nếu nói tổng quát th́ toàn bộ giáo pháp trong cả Đại Tạng đều có thể gọi là Từ Điển. Nếu nói hạn cuộc th́ chỉ những sách chuyên giảng rơ về danh tướng mới đáng gọi [là Từ Điển], như Giáo Thừa Pháp Số, Đại Minh Tam Tạng Pháp Số chẳng hạn. C̣n như những ngữ lục trong nhà Thiền chính là những cơ phong chuyển ngữ chuyên xiển dương pháp hướng thượng, c̣n chưa thể gọi là Giáo, há nên gọi là Từ Điển? Các vị đại thiền sư kể từ sau thời ngài Mă Tổ trở đi đều có ngữ lục, ngài Vân Môn c̣n về sau nữa, sao đối với ngữ lục của những vị trước đấy chẳng gọi là “từ điển”, lại gọi riêng ngữ lục của Vân Môn là “từ điển”?

Hơn nữa, ngài Vân Môn thuyết pháp như mây trôi, mưa dội, trọn chẳng thích người khác ghi chép lại. V́ thế Hương Lâm Viễn, Song Tuyền Khoan mỗi vị đều lấy giấy làm áo để lén ghi chép lại, [những ghi chép của hai vị ấy được tập hợp thành] ngữ lục của ngài Vân Môn được lưu truyền hiện thời vậy! Các hạ không tŕnh bày thật rơ ràng th́ chắc rằng kẻ không biết sẽ tưởng ngài Vân Môn tự ḿnh lén ghi, hóa ra là chính Ngài tự ngăn cấm rồi lại làm!

Tổ Đ́nh Sự Uyển là sách ghi chép những ngôn hạnh trong nhà Thiền, cũng như những sách Lâm Gian Lục, Tông Môn Vũ Khố cũng chẳng nên gọi là “từ điển” trong bản sửa chữa lần thứ hai. Bởi lẽ những sách ấy ghi chép những câu nói và những câu chuyện trực chỉ nhân tâm. Trong lời tựa cho thiên thứ hai, có lẽ nên đổi chữ Tông thành chữ Giáo! Như Lai thuyết kinh, chư Tổ hoằng truyền, lưu truyền khắp trong ngoài nước, những danh tướng, pháp số trong ấy nếu không đọc nhuyễn nhừ toàn bộ tạng kinh sẽ chẳng dễ ǵ biết được. Do vậy [cổ đức] bèn soạn ra các sách Giáo Thừa Pháp Số, Đại Minh Tam Tạng Pháp Số. Đấy chính là cội nguồn của những sách này vậy.

Quang mục lực quá suy, lại thêm tinh thần chẳng đủ. Thoạt đầu vừa mới về đến núi th́ do bị trúng gió trong khi ngồi thuyền, cả mười mấy ngày chẳng được khỏe khoắn; sau đấy tuy đă khỏi bệnh nhưng hằng ngày lại phải trả lời thư hoặc giảo duyệt sách, gần như không rảnh rỗi chút nào. Đối với bộ Lục Tổ Đàn Kinh, chỉ xem ba tấm bia của Vương, Liễu, Lưu, những phần khác chưa xem. Các hạ chí mong lợi người, muốn dùng một bộ sách để chú thích trọn khắp các kinh th́ hăy nên dốc sức khảo sát nghiên cứu hai ba năm, ngơ hầu người đọc đoạn sạch mọi mối nghi th́ công đức lớn lắm. Nếu chỉ muốn ra sách cho nhanh, chắc chắn khó thể không sai lầm! Đối với bậc thông gia th́ không trở ngại ǵ, nhưng kẻ sơ cơ chắc sẽ không biết nguyên do. Quang túc nghiệp sâu nặng, chẳng thể dốc chút sức mọn cho các hạ được, nhưng trọn một niềm ngu thành. Chỉ v́ sợ lỡ ra người trong cả cơi đời chẳng được hưởng lợi ích cho nên mới ăn nói phiền phức, lụn vụn như thế.

 

20. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ hai)

Hôm qua nhận được thư và cuốn Phật Học Cơ Sở , khôn ngăn vui mừng, biết các hạ chỉ mong cho ai nấy đều xây lầu cao vạn trượng mau được thành công, vĩnh viễn không bị nghiêng đổ. “Sanh tạng” chính là bộ vị nơi thức ăn chưa được tiêu hóa; c̣n “thục tạng” là bộ vị nơi thức ăn đă tiêu hóa. Do vậy, con nằm trong bụng mẹ sẽ ở phía dưới sanh tạng, phía trên thục tạng. Các hạ thông hiểu y học sâu xa, những h́nh vẽ giải phẫu bụng v.v… đều thuộc nằm ḷng, ắt sẽ biết rơ từng bộ vị, c̣n Quang chỉ biết danh nghĩa mà thôi. Tác phẩm Phật Học Cơ Sở [của các hạ] xếp đặt khá xác đáng, nhưng đem những lời lẽ hủ bại của Quang xếp vào thể loại Quỳnh Lâm (rừng quỳnh) th́ thể loại, khí phận chẳng xứng, cảm thấy xấu hổ khôn ngằn! Lời tựa của Thiền ḥa thượng rất hay, đủ để khơi gợi ḷng tin tưởng, kính ngưỡng của người khác rồi, cần tới lời b́nh hủ bại của Quang làm chi nữa?

 

21. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ ba)

Hôm qua nhận được một bộ Phật Học Tiểu Từ Điển do ông ban tặng. Đọc rồi khôn ngăn cảm kích (chẳng qua là lật xem qua mà thôi, chứ ngay cả một trang cũng không xem trọn). Cư sĩ Tôn Kế Chi phát đại tâm hướng dẫn làm lợi kẻ sơ cơ như thế ấy công đức vô lượng, nhưng cỡ chữ quá nhỏ, đọc lâu ắt sẽ hư mắt. Đối với người nghiên cứu Phật học đă lâu th́ xem sách này hay không đều được! Tôi trộm sợ người chỉ có tín tâm, chưa từng nhập môn, trông thấy sách này sẽ dựa vào đấy như ngôi thành quan trọng, như ḥn Thái Sơn, sẽ dẫn đến t́nh thế “nếu mắt chẳng bị tổn thương th́ chẳng chịu tạm buông sách ra”. Các hạ và ông Tôn đều cùng sẵn ḷng lợi người nhưng do đấy làm hỏng con mắt của người khác th́ tuy kết pháp duyên mà cũng gây nên cái họa mắt bị tật trong đời vị lai.

Ấn Quang sanh ra liền bị bệnh mắt, nay tiếc cho con mắt của người khác c̣n hơn chính ḿnh, thường thấy những thiếu niên thông minh, mẫn tiệp đa số đều cận thị, hỏi tới th́ họ nói do đọc sách chữ nhỏ mà ra. Trộm nghĩ những kẻ buôn bán tại các tiệm sách chỉ thích những sách hiếm lạ, phô phang chuyện dị thường để được lời to, chẳng cần biết sẽ có lợi hay gây hại cho người khác! Tối ḷng, mờ lư, tận lực t́m cầu phương cách để thu lợi, hạng người ấy nào đáng để nói tới, chỉ đành mặc kệ họ làm ǵ th́ làm! Quả thật Quang chẳng dám nghĩ các hạ và ông Tôn đă phát đại Bồ Tát tâm mà cũng bắt chước phương thức của bọn chúng! Hơn nữa, là bạn tâm giao với nhau đă lâu, v́ thế chẳng thể không giăi bày tấm ḷng ngu thành để mong sao nhục nhăn lẫn pháp nhăn của hết thảy những người cùng hàng đều cùng sáng ngời, các hạ và ông Tôn sẽ đạt được quả báo ngũ nhăn viên minh, vĩnh viễn dứt được nỗi lo âu mắt quáng! Nếu tái bản sách này, hăy nên sửa đổi phương thức tŕnh bày!

Bộ [Phật Học] Đại Từ Điển muôn vàn đừng dùng kiểu chữ làm hỏng con mắt này th́ Ấn Quang được đội ơn nhiều lắm. Trong phương thức tŕnh bày sách Giản Ma Biện Dị Lục giữa Nam Kinh và Dương Châu th́ những chữ được in lớn hay nhỏ đều giống như nhau, nhưng trong ấy có những đoạn in hàng đôi, người già đọc sẽ cảm thấy tốn sức, Ấn Quang đều sửa thành hàng đơn để mong người đọc được lợi ích, không bị tổn hại.

Trong mùa Xuân, các hạ đă ban tặng cuốn Phật Học Chỉ Nam, sai Quang châm chước, sửa chữa. Quang gắng vâng theo nhă ư, nhưng giữ đă lâu vẫn chưa duyệt cặn kẽ được. Ấy là v́ cư sĩ Từ Úy Như có một người bạn sao được bản Thập Nhất Diện Thần Chú Kinh Sớ từ Đại Tạng Kinh Nhật Bản, do bản này được lưu truyền đă lâu, có nhiều chỗ sai ngoa. V́ năm ngoái ông ta đă dựa theo Đại Tạng Kinh Nhật Bản để khắc cuốn Tùy Tự Ư Tam Muội, đem gởi cho Quang. Quang đọc cặn kẽ, tâm cảm thấy không yên, liền làm càn sửa chữa rồi gởi đi. Ông ta hết sức tán thành, tính khắc in lại ngay; lại bảo Quang viết lời tựa tŕnh bày rơ nguyên do. Chắc các hạ đă để mắt xanh đọc lời tựa ấy trên tờ Thời Sự Tân Báo rồi. Do bởi lẽ ấy, lại phải sửa chữa bản Thập Nhất Diện Sớ [theo lời yêu cầu của ông Từ]. Chữ của bản sao ấy quá nhỏ, Quang chỉ đọc mười mấy tờ, chưa viết lách ǵ mà mắt đă bị tổn thương nặng nề! Suốt hai mươi mấy ngày chẳng dám dùng đến mắt chút nào. Đến nay, Phật Học Chỉ Nam lẫn Thập Nhất Diện Sớ đều chưa ngó tới, sợ các hạ phải đợi lâu chắc sẽ trách móc, nên trần thuật nguyên do. Gần đây, ngoài chuyện phải thù tiếp chuyện của người khác ra, c̣n có hơn bảy trăm trang sách chưa duyệt! V́ thế, chẳng thể nhanh chóng đáp ứng ḷng mong đợi cao nhă. Thợ khắc chữ ở Dương Châu cứ kéo dài dây dưa, trong tháng Tư này tôi lại phải qua đó lo liệu. Nay tôi tính ra đi vào đầu tháng Bảy, chứ đi sớm sẽ vô ích!

 

22. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ tư)

Vừa nhận được thư, biết các hạ tuy học rộng lại chẳng thẹn hỏi xuống. Quang thật sự là kẻ vô tri vô thức, chẳng ngại dâng lên những điều ḿnh hay biết. Dựa theo cuốn Đại Minh Trùng Khắc Phương Sách Đại Tạng Duyên Khởi (Duyên Khởi Khắc Lại Đại Tạng Kinh của nhà Đại Minh theo lối in Phương Sách), trong lời tựa của Lục Quang Tổ nơi thiên thứ nhất có đoạn: “Xưa kia có người nữ tên là Thôi Pháp Trân chặt tay để quyên mộ khắc Đại Tạng Kinh, ba mươi năm mới hoàn thành. Đương thời có đàn-việt hy sinh hết tài sản, đem con đi gán nợ [để lấy tiền] cung ứng. Thánh triều hoằng dương đạo pháp rộng lớn, hơn hẳn những triều đại trước rất xa, há chẳng có bậc hào kiệt có ḷng cao trỗi hơn [Pháp Trân] ư? Đă không đề xướng cho [việc khắc kinh] được thành tựu mà khi được khuyên dụ lại viện cớ khó khăn, như vậy th́ chí của kẻ trượng phu chẳng bằng được một người nữ!”

Nơi thiên thứ hai, trong lời tựa của Phùng Mộng Trinh có đoạn: “Trong thời Tống - Nguyên, trừ bản được khắc ở kinh đô ra, như bản [Đại Tạng Kinh được khắc bởi chùa] Tích Sa ở B́nh Giang, một ngôi chùa nọ ở Ngô Hưng hoặc ngôi chùa kia ở đất Việt đều có tàng bản, không ít hơn bảy tám bản [Đại Tạng Kinh khác nhau]. Đấy là một đầu mối khiến cho pháp đạo thịnh hành. Đến quốc triều chỉ có hai bản Đại Tạng được khắc ở kinh đô”.

Lại c̣n viết: “Do vậy, ghi chép duyên khởi của bản Tích Sa Tạng : Ni sư Hoằng Đạo chặt tay để quyên hóa. Hoằng Đạo khuyến hóa xong, đồ đệ của ni sư lại nối chí chặt tay, phải qua ba đời mới măn nguyện ấy. Bọn ta là trượng phu, chẳng thể dùng thâm tâm gánh vác đại pháp, khắc bản lưu thông, đâm ra chẳng bằng một nữ nhân! Nay sanh đúng cơi đời Phật pháp được thanh lặng, vào núi báu lại về tay không, há chẳng thẹn đến chết ư?”.

“Người nữ tên Thôi Pháp Trân” như ông Lục đă viết chính là “vị ni sư tên Hoằng Đạo ở chùa Tích Sa” trong bài viết của ông Phùng. Hai cái tên Pháp Trân và Hoằng Đạo th́ một là nêu pháp tự, hai là nêu pháp hiệu, chứ không phải là hai người. Nói “nữ nhân” để tăng khí thế cho câu văn ở phía sau: “Chí của kẻ trượng phu chẳng bằng được một người nữ!”. Ghi “Thôi Pháp Trân” là theo cách viết tên trên độ điệp thời cổ, đều ghi họ ngoài đời trước pháp danh. V́ thế mới có kiểu gọi [pháp danh] kèm theo họ ngoài đời, như Mă đại sư, Vương lăo sư, Trầm Liên Tŕ v.v… chứ chẳng phải [Thôi Pháp Trân] là một nữ nhân tại gia, không phải là ni sư!

Câu tiếp theo là: “Thánh triều hoằng dương đạo pháp rộng lớn, hơn hẳn những triều đại trước rất xa”. Lại dựa theo lời tựa của ông Phùng th́ biết ni sư không phải là người đời Minh. V́ sao biết ni sư không phải là người đời Tống mà là người đời Nguyên? Do [căn cứ trên] phương pháp khắc ván. Bắt đầu từ thời Ngũ Đại, Phùng Đạo cho khắc ván chín bộ kinh Nho giáo phải mất mấy chục năm mới khắc xong. Đến đời Tống tuy đă tinh xảo, nhanh chóng hơn, nhưng dựa trên sự kiện sách Long Thư Tịnh Độ Văn chỉ gồm hơn một trăm trang, lúc ấy đang nhằm thời Nam Tống mà vẫn phải khắc mất mấy tháng. “Do một người nữ đứng ra đề xướng, ba mươi năm mới khắc xong toàn bộ Đại Tạng” th́ rơ ràng là dưới triều Nguyên chứ không c̣n nghi ngờ ǵ nữa!

V́ sao biết kinh được khắc thuộc dạng Phạn bản? Trong lời tựa thứ năm của Mật Tạng đại sư có ghi: “Thái Tổ đă khắc toàn bộ Đại Tạng tại Kim Lăng (Nam Kinh), Thái Tông lại cho khắc bản đích xác hơn ở Bắc B́nh (Bắc Kinh). Ấy chính là ư nguyện hoằng pháp của thánh nhân chỉ mong [kinh điển nhà Phật] được phổ biến. V́ thế, Đại Tạng được khắc để lưu hành trong cơi đời, chẳng ngại phải khắc đi khắc lại. Về sau, [chùa Chiêu Khánh ở] Vũ Lâm thuộc Chiết Giang vâng theo đức ư liền cho tạo phương sách, nhưng năm tháng đă lâu, bản khắc bị thất lạc”. Đây chính là khởi nguồn của việc in kinh Phật theo lối Phương Sách vậy! Xưa kia, hễ là sách Phật th́ đều dùng lối in Phạn bản. Ở kinh đô, Quang từng được thấy bản lưu thông của [các sách] Lăng Nghiêm Hội Giải, Hoa Nghiêm Sớ Sao đều được [in theo lối] Phạn bản. Chẳng phải chỉ có thế mà thôi, ngay như cuốn Quảng Nguyên Giáo Luận do Trầm Sĩ Vinh soạn được in theo lối Phạn bản. Đủ biết sách nhà Phật thời cổ đều nhất loạt được in theo kiểu Phạn bản. Từ khi [lối in] Phương Sách được lưu hành trở đi, do muốn thuận tiện, bất luận kinh, luật, luận, hay trước thuật, đều dùng kiểu Phương Sách. Chẳng biết các hạ có cuốn Duyên Khởi Khắc In Đại Tạng Kinh này hay không? Mùa Thu năm nay tôi đă nhờ người viết chữ đẹp chép lại, cho khắc ván, có thể ra sách vào mùa Xuân năm sau. Khi in ra, sẽ đem mấy cuốn dâng lên các hạ và một hai người bạn quen biết để kết pháp duyên. Quang hiểu biết như vậy đó. V́ thế liền đem điều ḿnh biết tŕnh lên, những sự tích khác th́ tôi chẳng được biết.

Sách Duyên Khởi Khắc Đại Tạng Kinh gồm mười tám thiên tất cả. Mỗi tác giả tŕnh bày theo một quy củ riêng; v́ thế có người viết liên tiếp, có người chừa một ô trống, có người chừa trống hai ô để thay cho cách viết Đài Đầu. Ngoài mười tám thiên ra c̣n có quy ước khắc tạng, giảo đối v.v… tổng cộng tám mươi mấy trang. Quang chiếu theo cách khắc kinh hiện thời: Cứ mỗi trang là mười hàng, mỗi hàng hai mươi chữ, chép liên tiếp, nên [bản mới] gồm tổng cộng năm mươi trang. Lời văn giữ theo đúng nguyên văn, nhưng phương thức tŕnh bày tuân theo cách thức hiện thời. Do vậy, bớt được ba mươi mấy trang giấy cho dễ lưu thông.

Phật Học Đại Từ Điển là cửa ngơ đầu tiên để vào Phật pháp, chỉ nên [biên soạn] thong thả trong hai ba năm, chớ nên muốn mau ra sách kẻo bị sai ngoa. Tuy các hạ huệ quang chiếu khắp như mặt trời mọc lên soi trọn hoàn vũ, nhưng kẻ thấy cạn nghe ít chẳng ngại ǵ đem kiến thức thấy cạn nghe ít để dâng lên nhằm tỏ ḷng ngu muội khăng khắng chí thành ngưỡng mộ mà thôi! Hơn nữa, Pháp Trân và Hoằng Đạo quyết không phải là hai người. Nếu là hai người th́ v́ sao ông Lục lại chỉ nhắc đến Pháp Trân, ông Phùng chỉ nói đến Hoằng Đạo? Chuyện đặc biệt ấy sao lại bỏ sót không nêu lên? Huống hồ [hai ông] đều muốn nhờ vào đấy để phát khởi cái tâm thù thắng gánh vác pháp của bậc trượng phu ư?

 

23. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ năm)

Hôm qua nhận được thư và cuốn Phật Giáo Tông Phái Chú (ghi chú về các tông phái Phật giáo), khôn ngăn vui mừng, an ủi. Quang gần đây bận việc túi bụi, không rảnh rỗi để đọc kĩ được, chỉ đọc lời tựa tổng quát mà thôi; những phần khác đều là tùy tiện xem qua. Nơi ḍng thứ bốn trong trang hai mươi sáu, phần chữ nhỏ, chữ Sách () trong từ ngữ Thiên Sách (天册: sách trời) bị viết sai thành Đan (), chữ Vũ () trong Vũ Thị (武氏: họ Vũ) bị viết sai thành Từ (). Đấy là do kẻ sắp chữ không cẩn thận mà ra. Ông Vạn làm thầy dạy học đă lâu, những kẻ được ông ấy chỉ dạy chắc sẽ chẳng đến nỗi phạm những sai lầm nhức mắt ấy.

An Sĩ Toàn Thư được các hạ nhận lănh làm sách tài liệu và lưu thông, Quang sẽ thay cho quốc dân đối trước Tam Bảo lễ tạ hằng ngày. Thoạt đầu, An Sĩ tiên sinh quyết định cách [tŕnh bày bản in] cũng chưa tốt lành tột bậc, bởi lẽ những lời văn giáo huấn [của cổ nhân], cũng như những sự việc dùng để dẫn chứng, những lời bàn luận về cái tâm do ông ta viết ra v.v... đều in Đảnh Cách hết, cho nên không phân biệt được chủ và khách. Các hạ bảo đổi thành cỡ chữ Nhị Hiệu Tự quả là chí lư danh ngôn, nhưng sợ làm theo cách ấy sẽ khó thể điều chỉnh được, lỡ ra chẳng được như pháp! Quang tính trừ những đoạn văn ghi sự tích ra, những phần khác đều in thấp xuống một chữ ngơ hầu chẳng bị lẫn lộn. Đối với bốn câu “Vu Công…” [tiên sinh An Sĩ không giải thích], trong năm ngoái khi vị Đô Đốc đất Điền (Vân Nam) phát tâm khắc ván [bộ An Sĩ Toàn Thư], Quang đă sao lại [hành trạng trong đời cuối cùng của] Đế Quân [tại nhân gian (tức Trương Á đời Tấn)] và những sự tích [được nhắc tới trong] bốn câu ấy đem gởi đi . Ông Đường tuy đă rút lui, nhưng sách đă khắc xong, chỉ là chưa gởi đến. Sẽ sao ra một bản khác, cho đính kèm vào sau phần mục lục trong đầu quyển sách và soạn một lời tựa ngắn để nêu rơ nguyên do, ngơ hầu chẳng phạm đến nguyên văn mà lại khiến cho dù văn hay nghĩa đều không bị thiếu sót ǵ! Chẳng biết các hạ nghĩ như thế nào? An Sĩ Toàn Thư chính là bộ sách trọng yếu để văn hồi thế đạo nhân tâm. Tuy nói là tính in một vạn bộ, nhưng in càng nhiều càng hay, há nên tự vạch [giới hạn]? Hơn nữa, bảo người ta xuất tiền th́ tợ hồ cắt thịt kẻ ấy vậy! Ngay trong hiện thời với số tiền đă gởi tới sẽ in được sáu ngàn bộ; nếu trọn chẳng có một ai chịu bỏ tiền ra nữa th́ cũng tạm để an ủi tấm ḷng đau đáu của các vị. Vạn sự tùy duyên, bất tất phải chấp chặt th́ mới là cách thức yên vui.

Bản kinh Lăng Nghiêm do bà Ngô Nghệ Anh chép được chồng bà ta lưu thông. Bản kinh Pháp Hoa do bà Trang Nhàn chép (bà này là em gái của Trang Tư), chồng bà ta là Lục Giá Hiên cũng muốn lưu thông, cậy cư sĩ [Cao] Hạc Niên cầm kinh đến xin Quang xem xét, sửa chữa và xin viết lời Bạt. Do vậy, tôi đọc đại lược, thấy nét chữ mạnh mẽ, thanh tú, từ đầu đến cuối giống hệt như nhau, nhưng kiểu chữ đa phần vướng phải tập khí văn nhân: Hoặc là viết theo lối Tục Thể, Phá Thể, Thiếp Thể, Biến Thể v.v… hoặc là ngược ngạo coi lối chữ Chánh Thể đang được lưu hành hiện thời là sai nên đổi sang dùng lối Cổ Thể. Quang cho rằng viết như vậy là theo thói tục, trái thời, chẳng đáng theo khuôn phép ấy, liền viết thư chê trách, bảo bà ta viết lại, cũng như phải sửa cho nét chữ hơi lớn hơn ngơ hầu người thọ tŕ lẫn kẻ ứng phó đều vui thích thỉnh mua. Bà ta đọc thư Quang khá bội phục, ngày hôm sau liền cùng chồng đến bái kiến. Quang bảo bà ta hăy chép kinh giống như tiến sĩ viết đối sách th́ công đức sẽ lớn lao. Nghe nói bà ấy tuân thủ Nữ Huấn khá tốt, phàm những nơi vui chơi đều nhất loạt không tới, rất được phu nhân Thịnh Hạnh Tôn khâm phục, kính trọng. Không biết cuốn sách của Trang Ngô là viết cho chị em gái? Hay là dành cho cô và cháu? Ai là chị, là cô? Ai là em, là cháu? Nếu sách được sửa chữa lần thứ hai xong, Quang chẳng thể không viết lời đề từ, sợ vẫn phải phiền các hạ lưu thông. Gần đây, phong khí Phật học rộng mở, những bậc anh hiền chốn khuê các cũng dấy lên nhiều lắm, cũng giải được nỗi lo đau đáu của những người bận tâm tới đất nước, nhân dân vậy!

 

24. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ sáu)

Chuyện nhân quả báo ứng trong cuốn Phật Học Khởi Tín Biên do ông rộng ḷng ban cho trước đây đủ để chấn động kẻ điếc, mở mắt cho người mù. Do vậy, tôi bèn tùy tiện nói với một hai người bạn, bọn họ cũng vui thích muốn xem, nhưng phiền một nỗi là không có ai tiện dịp sang đất Thân (Thượng Hải) [để nhờ thỉnh sách]. Do vậy, Quang tính thuận theo ư họ, xin ông đọc thư rồi sẽ gởi cho một gói Phật Học Khởi Tín Biên. Gói sách ấy chỉ lấy kích thước của [bưu kiện] do bưu cục [đă quy định] làm chuẩn, không cần biết là bao nhiêu cuốn! Hăy ghi một tờ hóa đơn, thỉnh một bản phải tốn bao nhiêu tiền, đợi khi Quang tới Thượng Hải vào cuối tháng Sáu sẽ trả lại theo đúng số, ắt chẳng đến nỗi sai chạy vậy!

 

25. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ bảy)

Lá thư tôi dâng tŕnh lần trước chắc ông đă nhận được rồi. Ngày hôm qua, ông Bao Ngọc Đường đến thăm, cầm theo thư của các hạ và một gói Phật Học Toát Yếu. Sách này từ chỗ cạn tiến vào sâu, [giảng giải] nhân quả sự tích, luân hồi báo ứng cũng như sự văng sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử, đúng là đă trao cho người ở trong nhà tối một ngọn đèn khiến cho tu nhân kết quả nơi thân trước, thân sau đều có thể quyết đoán sẵn được. V́ thế, kẻ có tín tâm đều cùng yêu thích, chẳng tiếc tiền tài để lưu thông.

Các hạ gạt bỏ lời ông Ngũ nói th́ cũng là chuyện hay lắm. Phàm muốn đoạn nghi, khơi gợi ḷng tin, chớ nên dùng những lời lẽ nửa tin, nửa ngờ, cũng như trích dẫn những lời lẽ giảng giải nghĩa lư nhưng chẳng nương theo Thật Lư. Bởi lẽ, những lời nói ấy có thể khơi gợi tín tâm cho người khác mà cũng có thể khơi gọi ḷng nghi ngờ của kẻ khác vậy! Có lẽ nên đưa chương thứ tám ra phía sau th́ thể tài [của cuốn sách] sẽ hợp lư hơn, mà cũng có thể khiến cho người khác biết có những loại sách ấy để thỉnh về đọc. Những điều nào nên cắt bỏ hoặc nên thêm vào, xin ông hăy tự cân nhắc. Quang gần đây bận bịu đa đoan, hằng ngày không rảnh rỗi, xin ông hăy rủ ḷng thông cảm. Khi ông Bao đến, Quang đă khuyên ông ta hăy tu tại gia, tu chân ngay trong cơi tục, không cần phải xuất gia. Sợ rằng sau khi xuất gia do hằng ngày ở chung với bọn Tăng lười nhác, biếng trễ, lâu ngày chầy tháng sẽ chỉ trở thành một gă ăn bám cửa Phật! Chẳng biết ông ta có chịu nghe theo hay không?

 

26. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ tám)

Vừa nhận được thư và mười tám cuốn Phật Học Khởi Tín Biên, c̣n Lục Đạo Luân Hồi Lục vẫn chưa nhận được. Mỗi lần gởi sách và thư th́ thường được chia thành hai lần gởi đến. Quang cũng chẳng thể đọc Lục Đạo Luân Hồi Lục nhiều được, trong những phần tôi đă xem th́ thấy không có ǵ sai sót lớn lao. Nhưng loại sách này nên lấy chuyện nêu rơ nhân quả báo ứng làm chủ yếu, những bài dịch từ các báo ngoại quốc như tờ Linh Học Chí v.v… đăng ở cuối sách cũng có thể dùng để chứng minh [nhân quả báo ứng]. Gần đây, ngoại quốc cũng tin có quỷ thần. Đă có quỷ thần th́ đời trước lẫn đời sau đương nhiên chẳng phải là không có, mà liễu sanh thoát tử lại càng là nhiệm vụ cấp bách; nhưng người đọc chẳng suy tới chỗ ấy, bèn học theo thói phù phiếm, chẳng thân thiết!

Từ nay trở đi, hễ sao lục những chuyện xưa, chuyện nay, hăy đều nên chú trọng sao cho nhân quả báo ứng được nêu tỏ rạng rỡ th́ sẽ có thể làm cho người thấy kẻ nghe không ai chẳng kinh sợ rét buốt tận xương, lông tóc dựng đứng, sanh ḷng kiêng nể, sợ hăi. Đối với những lời bàn luận chung chung về chuyện có ma quỷ, hăy nên dành cho những tiểu thuyết gia thâu thập ḥng tô vẽ, lưu truyền. Có người bảo các hạ tính [viết sách về Phật pháp để] kiếm lợi cũng chẳng phải là không có nguyên nhân. Các hạ đă lấy hoằng pháp lợi sanh làm trách nhiệm của chính ḿnh, đừng nên bắt chước những kẻ buôn sách: Hễ in ra một cuốn sách mới liền áp dụng cách định giá của các loại sách mới, chẳng bận tâm tới số trang, công thợ! Các loại sách do các hạ in ra hăy nên căn cứ vào giá vốn rồi tính giá tiền dôi ra đôi chút ngơ hầu đại pháp được lưu thông mà cũng chẳng bị hụt vốn. Nếu giá sách cao gấp mấy lần giá vốn lẫn công thợ, sẽ bị người khác công kích, chê gièm (ngay như Phật Học Tiểu Từ Điển cũng bị định giá quá cao). Do tôi lạm nhận là người cùng chí hướng với các hạ nên mới dám nói thẳng như vậy, xin hăy rủ ḷng tha thứ!

 

27. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ chín)

Quang trọn chẳng có học vấn lại thêm mắt ḷa; v́ thế đối với trước thuật của các bậc danh nhân xưa nay đều chưa từng ghé mắt vào. Tôi chưa đọc bài văn bia của Ma Cật nên ư nghĩa, ngữ mạch trong phần văn trên và dưới tôi đều không biết. Nếu chẳng vâng lời thưa tŕnh, sợ các hạ trách móc. Nay tôi dựa theo bổn phận của kẻ ḷa thốt lời sờ voi cho xong trách nhiệm, chứ chưa chắc đă hoàn toàn đúng, mà cũng chưa chắc đă hoàn toàn sai bét. Xin bậc sáng mắt hăy cân nhắc để chọn hay bỏ th́ may mắn lắm thay!

“Cổ duệ hải sư” ( : bậc thầy đẩy mái chèo trong biển cả) là từ ngữ thường được dùng trong kinh để chỉ người vào biển cả t́m vật báu. Từ ngữ “Hành giả chẳng biết Bồ Đề” là nói về Thiền Tông, ngụ ư: Chỉ ra trí thể của chư Phật ở ngay trong Phiền Hoặc của chúng sanh. Ư nói: Kẻ vào trong biển cả t́m của báu, chẳng biết nhà ḿnh sẵn có đồ quư, cao sang nhất, quư báu nhất, có thể sanh ra vô lượng các món báu, cứ rong ruổi t́m cầu bên ngoài, nào khác kẻ ôm của báu lạc nẻo, đang cưỡi trâu lại đi t́m trâu! Cần biết rằng: Thật Tánh của tham - sân - si chính là Phật tánh! Nếu có thể triệt ngộ Phật tánh ấy th́ trọn chẳng thể t́m được tham - sân - si. Chân Giới, Chân Định, Chân Huệ ở ngay trong bản thể, nhưng cũng chẳng thể t́m được tướng của Chân Giới, Chân Định, Chân Huệ ! Đại ư của lời Lục Tổ nói là như thế đấy. Lấy hai câu này làm câu văn để soi ngược lại, nhằm tỏ rơ sự thắng diệu. Đấy là sự sờ sẫm mù ḷa của Quang vậy! Chẳng biết các hạ nghĩ như thế nào?

Hơn nữa, Thiền Tông chuyên trọng tham cứu, chứ không chú trọng giảng giải. [Pháp Bảo] Đàn Kinh tuy có những chỗ giảng nói ư nghĩa, nhưng nếu chưa mở được con mắt nhà Thiền th́ nếu chẳng biến Tông thành Giáo cũng sẽ tưởng mê là ngộ. V́ thế, ông Bùi Công Mỹ nói: “Hễ hiểu được ư chỉ th́ mau thành Phật đạo! Hễ lạc mất ư chỉ, sẽ mau vào Nê Lê”. Quang th́ Giáo cũng chẳng thông, huống hồ là Tông ư? Nhưng cũng hơi biết lối vào môn đ́nh hai tông ấy. Tiếc đă không chân, lại chẳng có mắt, nên chẳng thể bén mảng nơi phên giậu được!

Kinh ấy (tức Pháp Bảo Đàn Kinh) cũng có thể lợi người mà cũng có thể khiến cho người khác bị lầm lẫn! Nếu có thể đối với pháp nào, chuyện nào cũng đều nêu rơ tông chỉ “trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật”, lại chẳng trái nghịch giáo nghĩa th́ dẫu có nói “Lục Tổ xuất thế” cũng không phải khen ngợi quá lố! Nếu không, đă chẳng làm cho người khác thấy được Tánh, lại c̣n đến nỗi do Tông mà trái Giáo th́ lợi ích nơi Tông lẫn Giáo hai đằng đều bị mất, sẽ ứng với ư nghĩa trong câu nói thứ hai của Công Mỹ (tức câu “hễ lạc mất ư chỉ sẽ mau vào Nê Lê”), cố nhiên vẫn chẳng bằng để nguyên diện mục sẵn có của nó th́ hay hơn! Các hạ có tâm lợi người tha thiết, Quang cũng ôm ḷng tha thiết ngừa cho người khác khỏi bị sai lầm; v́ thế chẳng thể không thưa trước để tận tấm ḷng ngu thành khăng khăng trọn hết t́nh tri kỷ vậy!

Câu chữ trong nhà Thiền cần phải có con mắt khác để lănh hội! Nếu chẳng khéo hiểu ư sẽ chưa khỏi “y văn giải nghĩa, tác tam thế Phật oan” (dựa theo văn tự để hiểu ư nghĩa khiến cho ba đời chư Phật phải bị oan uổng). Lỡ như trái nghịch giáo nghĩa, chỉ thành “ly kinh nhất tự, tức đồng ma thuyết” (rời kinh một chữ, sẽ giống như lời ma nói). Dễ th́ dễ như trở bàn tay, khó th́ khó như lên trời. Nếu không phải là bậc Tông lẫn Giáo đều thông, hai mắt viên minh, cố nhiên chẳng nên khinh thường, dễ duôi theo đuổi việc chú giải kinh ấy!

 

28. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ mười)

Quang bẩm tánh ngu bướng, đă không hiểu biết, lại chẳng hiểu đời nên chẳng thể mềm mỏng thuận theo t́nh người. V́ thế, phát nguyện suốt đời làm một Tăng nhân ăn nhờ ở đậu măi măi, may được cư sĩ chẳng chê bỏ Quang là hạng không ra ǵ. Phàm nói ra điều nào dẫu cuồng ngạo, trái nghịch, cũng đều được cư sĩ khen ngợi, cảm thấy hổ thẹn đến cùng cực! Tục ngữ có câu: “Nhặng xanh bám vào đuôi ngựa Kư bèn đi được ngàn dặm”. Ḷng Quang ngu thành, nhờ sức của các hạ mà khiến cho hết thảy những ai có tín tâm đều cùng sanh ḷng kính nể kinh tượng, ngơ hầu diệt được tội khiên của tôi, tăng thêm phước huệ cho họ. Xét tới nguồn cội, đều là được thành tựu bởi các hạ vốn là một bậc thiện tâm vui đạo vậy. Hết sức cảm ơn!

Quư môn nhân là Vạn cư sĩ hỏi về Bảo Hoa Tam Muội Truyện, chùa Pháp Vũ không có sách ấy. Ở quư cục (tức Y Học Thư Cục) đă không có th́ cũng khó thể t́m được ở nơi nào khác! Hăy nên hỏi ở Bảo Hoa chắc sẽ t́m được! Vị này chính là Bồ Tát thị hiện chứ không phải là người thường, Sư là học tṛ của Huệ Vân Hinh Công, là thầy của Kiến Nguyệt Thể Công. Vào năm Sùng Trinh thứ mười (1637), Kiến Nguyệt thọ giới dưới ṭa của vị ấy xong liền nối pháp. Đến năm Thuận Trị thứ mười (1653), Ngài đă làm Trụ Tŕ tại Hoa Sơn, vẫn chẳng biết Ngài đă vào chùa bao nhiêu năm? Do điều này có thể biết Ngài là người sống vào cuối đời Minh. Người được Linh Ẩn Hối Công nhắc đến chính là vị này vậy!

Kẻ mờ mịt Phật tánh, mù mờ Chân Như bèn bài xích người kiến đạo là chuyện thường thấy, cần ǵ phải hỏi tới xuất xứ? Dẫu có chỉ ra xuất xứ th́ cũng chưa chắc người ấy đă là kẻ đầu tiên thốt ra lời ấy. Do vậy, chẳng thà không chỉ ra xuất xứ th́ hơn! Bồ Đề Đạt Ma truyền y bát tại Trung Quốc nhằm thời Ngũ Đại, đến đời Lục Tổ chỉ truyền pháp ấn, chứ không truyền y bát. Hăy nên tra trong Lục Tổ Đàn Kinh sẽ biết được nhân duyên. Nguồn tâm sẵn có của chúng ta đều bị t́nh thức ngăn lấp nên chẳng thể hiển hiện được. Nếu có thể phản chiếu hồi quang, thấy ngay được t́nh thức huyễn vọng ấy th́ nó sẽ c̣n khởi từ đâu được nữa? Như vậy th́ trong chẳng do tâm, ngoài chẳng do cảnh, hai đằng đều bị cắt đứt, chính giữa cũng chẳng lập. Cái gọi là “t́nh thức” hóa thành trọn chẳng c̣n ǵ! T́nh thức chướng lấp đă trừ th́ nguồn tâm triệt để hiển lộ. Đấy chính là cảnh tượng đại triệt đại ngộ trong Tông môn vậy!

Tiễu () là diệt. Theo đao chẳng theo sức, hễ theo sức th́ chẳng phải là đúng nghĩa. Càng về sau càng thua kém đời trước cũng là chuyện thường được Giáo nói đến! Nếu chẳng thể chỉ ra lời nói ban đầu do ai nói, chẳng thà không nêu ra [th́ hơn]! Nói chung, hết thảy mọi sự được tiền nhân sáng lập, người đời sau kế thừa. Tuy càng về sau, càng tinh vi, càng mầu nhiệm, nhưng công hiệu vẫn chẳng thể vượt trỗi lúc ban đầu, bởi điều ấy do tiền nhân sáng lập. Huống chi các vị tiền nhân sáng lập, trước thuật trong Phật pháp phần nhiều là hạng Pháp Thân đại sĩ thừa nguyện tái lai. Người đời sau kế thừa, dẫu có đổ công sức làm cho pháp ấy tinh vi, nghiêm mật trỗi vượt tiền nhân, nhưng đại cương, yếu chỉ, những lời bàn luận sâu xa thâm nhập được lư, không có ǵ chẳng phải do tiền nhân đă t́m ra. Dẫu chưa nêu rơ ra th́ [những ǵ người đời sau nêu ra] vẫn là suy luận dựa theo ngữ mạch của những lời tiền nhân đă nói. V́ thế, tuy những ǵ về sau này trỗi hơn những ǵ thuộc thuở ban đầu, quả thật vẫn kém hơn thuở ban đầu vậy!

Từ ngữ “quang ảnh môn đầu” ( ) chỉ cho t́nh trạng “kiến đạo chẳng chân thật”. Ấy là v́ lấy mặt trăng trên bầu trời và thân h́nh con người để ví cho đạo. Những kẻ chỉ thấy được ánh trăng và bóng người bèn cho là đă đắc, há có được chăng? Hơn nữa, nếu dùng mặt trăng để ví cho đạo, lấy ánh trăng, bóng trăng để ví với chỗ đạo lưu lộ th́ cũng được. Ánh trăng, bóng trăng chính là chỗ lưu lộ của mặt trăng, nhưng hăy nên từ ánh trăng, bóng trăng mà ngẩng lên nh́n vầng trăng trên trời, đừng ngỡ ánh trăng và bóng trăng trong nước là vầng trăng thật sự!

Chuyện Huệ Quả chưa được chép trong Tống [Cao] Tăng Truyện. Từ sau Tống [Cao Tăng] Truyện, tiểu truyện của những vị Tăng [trong các triều đại kế tiếp] chưa được biên soạn. Bộ Minh Cao Tăng Truyện, hai cuốn, chỉ sao chép [hành trạng của] một hai vị đă biết, chẳng đáng gọi là sách tiếp nối bộ Tống Cao Tăng Truyện. Hiện thời, pháp sư Đạo Giai ở Bắc Kinh đang thỉnh người sưu tập rộng khắp, tính chép nối tiếp [hành trạng] của các vị cao tăng sau thời những vị được nêu tên trong Tống Cao Tăng Truyện cho đến hiện tại. Như vậy th́ số quyển sẽ không thể dưới một trăm mười quyển được!

Mật Tông lấy Tam Mật Gia Tŕ khiến cho phàm phu được chứng thánh ngay trong hiện đời, công đức lực dụng ấy chẳng thể suy nghĩ được, chẳng thể bàn bạc được, nên gọi là “lực dụng chẳng thể nghĩ bàn”. Tuy Mật Tông đề xướng tông chỉ ấy, nhưng cần phải là đúng người th́ mới có thể làm được! Hạng người ấy là hạng người nào? Chính là các vị như Kim Cang Trí, Thiện Vô Úy v.v… Nếu không phải là hạng như vậy th́ đạo chẳng thể không hành xuông. Những kẻ học Mật Tông hiện thời đều chỉ học được ngoài da, hoàn toàn không có Kim Cang giới lực lẫn Bồ Đề đạo tâm. Họ chẳng chú trọng tŕ chú để đoạn Hoặc chứng Chân mà phần lớn bắt chước hiện chữ, hiện h́nh tướng, để hỏi cát - hung, họa - phước, nhân trước, quả sau, giống như tác dụng của linh quỷ. Đấy gọi là làm cho Mật Tông bị bại hoại; tôi sợ quở tội họ c̣n chẳng xuể, nói chi là thành thánh ngay trong cơi phàm! Chúng ta chỉ nên lấy pháp môn Tịnh Độ làm một ṭa núi Tu Di lớn lao để dốc hết toàn thân nương tựa, ngơ hầu chẳng bị hết thảy tri thức lay động ḥng có thể liễu thoát ngay trong đời này! Nếu không, sóng sẽ theo gió dấy lên, trọn chẳng có lúc nào ngưng th́ buồn thay!

Tôi chưa từng thấy sách Đại Tạng Bí Yếu, chắc là sách được lưu truyền bởi người Nhật. Bốn câu “đoạt nhân cảnh”… chính là lời lẽ trong bài Tứ Liệu Giản của ngài Lâm Tế. “Đoạt” có nghĩa là dứt bặt dấu tích, h́nh tượng vậy. “Bất đoạt” có nghĩa là “hiển thị Lư Thể”. “Nhân cảnh” chính là cảnh trí của nhân và pháp. “Sanh th́ quyết định sanh, đi th́ thật sự chẳng đi”, tức là “đoạt cảnh bất đoạt nhân”, nêu rơ người đi văng sanh, dứt bặt cảnh được sanh về. “Đi th́ quyết định đi, nhưng sanh th́ thật sự chẳng sanh” chính là “đoạt nhân bất đoạt cảnh”, nêu rơ cảnh được sanh về, diệt người đi văng sanh. “Đi th́ thật sự chẳng đi, sanh cũng thật sự chẳng sanh” chính là “nhân lẫn cảnh đều đoạt”, tức nhân lẫn cảnh đều vắng lặng vậy. “Đi th́ quyết định đi, sanh cũng quyết định sanh” chính là “nhân lẫn cảnh đều chẳng đoạt”, bởi nhân lẫn cảnh cùng được hiển thị vậy. Tuy có bốn câu, nhưng chỉ nhằm nói lên ư “tuy về mặt Sự th́ quả thật có sanh, nhưng xét trên mặt Lư th́ thật sự vô sanh”, cũng là diệu chỉ “nêu Chiếu, diệt Tịch; nêu Tịch, diệt Chiếu; Tịch lẫn Chiếu cùng diệt; Tịch Lẫn Chiếu cùng nêu”. Hễ sanh th́ ắt phải có người [thực hiện hành động đó], v́ thế gọi là Nhân. Hễ đi th́ ắt phải có cảnh [để đến] nên gọi là Cảnh. Lư này rất sâu, hăy nên sốt sắng niệm Phật ḥng đích thân thấu hiểu được. Nếu không, sẽ trở thành Khẩu Đầu Thiền, bàn xằng Bát Nhă đấy!

 

29. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ mười một)

Hôm qua nhận được thư và [bản chú giải] Quán Thế Âm Kinh, cũng như tác phẩm lớn lao [của các hạ] là [Phật Học Đại] Từ Điển, khôn ngăn cảm kích, cảm ơn lắm! Nhưng do nét chữ quá nhỏ, chẳng thể đọc kĩ được, chỉ xem đại lược lời Tựa và mấy điều thuộc phần Phàm Lệ mà thôi, giống như Hà Bá dơi nh́n biển cả, khôn ngăn than dài sườn sượt! Tự thẹn cô lậu quả văn (học kém, nghe ít), sống luống uổng nơi cửa Phật chẳng có ích ǵ, cảm thấy hổ thẹn không thể cùng cực được! Nay có người khẩn cầu: Cư sĩ Tôn Ngọc Tiên ở Phụng Hóa gần đây khá sanh ḷng tin tưởng nơi Phật học, do thấy Di Lặc Bồ Tát từng thị hiện giáng trần ở huyện Phụng Hóa, chí càng tha thiết muốn lưu truyền sự tích của Ngài để mong khơi gợi ḷng tin cho hết thảy mọi người. Năm trước, ông ta đă khắc cuốn sách Tích Lục Hoàn do ông nội của ông ta soạn. Mùa Xuân năm ngoái đến núi tặng cho Quang một bộ. Quang đọc, thấy những điều được nói trong ấy đều là dùng tri kiến phàm phu để suy lường, chứ trọn chẳng phải là những lư đương nhiên trong Phật pháp cũng như [chẳng nêu được] nguyên do v́ sao Di Lặc Bồ Tát ứng thế. Lại c̣n sử dụng từ ngữ giống hệt như lời lẽ thông tục chốn quê mùa, lầm lạc khinh nhờn xằng bậy khiến cho người khác đau đớn, bi thương. Quang vạch rơ cặn kẽ khuyết điểm ấy, bảo ông ta: “Ông lưu thông sách này nhằm tôn vinh ông nội, nhưng đối với Phật pháp, đối với chúng sanh đều chẳng có ích ǵ mà chỉ có hại, xin đừng lưu thông!” Ông ta nghe lời Quang nói liền hủy bản in ấy.

Về sau, [ông Ngọc Tiên] lại khắc Di Lặc Truyện, sách ấy rất hay. Đầu Xuân ông ta liền gởi thư cho Quang, cho biết là t́m được ngữ lục tại đạo tràng của Phó Đại Sĩ, cũng muốn khắc ván. Quang từng được thấy một bản do pháp sư Hưng Từ bảo đệ tử quy y của thầy ấy khắc in, [bản ấy] sai ngoa nhiều khôn kể xiết! Sợ bản do ông Tôn t́m được chính là bản ấy, cho nên bèn hỏi có phải là bản ấy hay không? Ông ta bèn gởi sách ấy tới. Đây là bản in theo lối Thạch Ấn, so với bản do pháp sư Hưng Từ đă khắc sai ngoa càng nhiều hơn nữa. V́ thế, bảo ông ta hăy khoan khắc. Năm trước Quang đă khuyên pháp sư Hưng Từ nên in bản khác, Sư cũng chấp thuận. Nếu Sư khắc in th́ [ông Tôn] không khắc bản này cũng được, c̣n nếu khắc th́ hăy chiếu theo bản của Sư đem khắc trong lần này cho đỡ bị sai ngoa.

Ngọc Tiên lại nói bi kư của Phó Đại Sĩ vốn do Từ Lăng đă soạn dưới đời Trần, văn sâu, nghĩa uyên áo, người đọc phần nhiều chẳng hiểu được ư nghĩa, bảo Quang hăy khẩn cầu các hạ chú giải tường tận th́ hết thảy người đọc sẽ liền phát tâm Bồ Đề mong được văng sanh Tây Phương ngay trong đời này, dự hội Long Hoa trong tương lai. Quang nói khi chú giải ắt phải xem kĩ ngữ lục hầu biết cội nguồn, sự việc, cũng như biết đại lược những điều Ngài đă đề xướng.

Bản khắc hiện thời sai ngoa quá nhiều, nếu chẳng xét kĩ chắc sẽ khó khỏi phạm sai lầm! Đợi cho bản khắc lần thứ hai của thầy Hưng Từ được in ra rồi mới chú giải th́ một là sẽ đỡ tốn tâm lực, hai là không sai ngoa, ngơ hầu có thể dẫn chứng đích xác, mở mang chánh nhăn cho người khác. Tấm ḷng ấy thật ân cần! Đến hôm qua [ông Tôn] lại gởi thư tới, ư muốn thực hiện ngay chuyện này để mong sao Phó Đại Sĩ Ngữ Lục sẽ được lưu hành cùng với Di Lặc Truyện, bảo Quang gởi thư xin các hạ hăy v́ chúng sanh mà phát Bồ Đề tâm, ngơ hầu mọi người đều được biết tới đạo uyên áo của đức Di Lặc, cầu khẩn khôn ngằn! Do vậy, bèn đem bản Phó Đại Sĩ Tập do Quang đă châm chước sửa đổi gởi đi bằng thư bảo đảm và bỏ luôn thư của Ngọc Tiên vào phong b́, mong ông hăy thỏa măn ư nguyện nhỏ nhoi của Ngọc Tiên và Quang mà vung ngọn bút lớn lao khiến cho quang minh của ngài Di Lặc được chiếu trời soi đất đến tận đời vị lai.

Đạo tràng của Phó Đại Sĩ ẩn sâu trong xó núi. Gần đây thật ít cao nhân tới trụ, nên bản ngữ lục ấy qua nhiều lần sao chép, khắc ván thường tăng thêm phần sai ngoa, hoặc thêm phần thừa thăi, hoặc bị sai sót. Quang thấy vậy khôn ngăn đau tiếc, bèn dùng tri kiến kém hèn để châm chước, sửa chữa. Bản khắc lại của pháp sư Hưng Từ sẽ dựa theo bản [sửa chữa] này. Nhưng trong cơi đời không có bản nào hoàn chỉnh, Quang lại không có sự hiểu biết chân chánh, chưa chắc mỗi một điều đều đúng pháp. Những chỗ được sửa cho đúng chiếm hơn một nửa, dẫu có những chỗ bị sửa đúng thành sai th́ cũng chỉ chiếm chưa tới một nửa. Do trong cơi đời không có một bản hoàn chỉnh nên không thể [dựa vào đâu để] châm chước, cân nhắc sửa đổi được. Do vậy, nếu giữ chết cứng thái độ thận trọng, theo lệ chẳng dám sửa đổi một chữ th́ tấm ḷng đau đáu của Đại Sĩ sẽ bị phong kín bởi văn tự sai ngoa, thiếu sót, thừa thăi, sẽ không có cách nào phô bày rơ rệt được! (Đây chính là nỗi khổ tâm “chẳng lượng sức, cứ làm chuyện châm chước, giảo định” của Quang).

Dựa theo mặt sau trang ba trong quyển bảy sách Phật Tổ Thống Kỷ th́ tôn giả Pháp Hoa, tổ thứ sáu của tông Thiên Thai, chính là hậu thân của Từ Lăng. Ngài Trí Giả hoằng pháp ở kinh đô vào đời Trần, Từ Lăng quy y dưới ṭa, phát nguyện hoằng pháp trong đời sau.

Trong một cuốn sách Phó Đại Sĩ Ngữ Lục có tới ba bốn tên, trong phần Thư Thiêm và b́a sách đều ghi là Tập. Quyển một và hai lại ghi là Truyện Lục. Quyển ba ghi là Thi Kệ. Quyển bốn hoàn toàn chẳng đề danh xưng chánh thức của sách. Phần văn bia th́ ghi là Phụ Lục Bi Văn, những chỗ khác chỉ có hai chữ Phụ Lục. Quang châm chước đặt ra một tên gọi, gọi chung toàn bộ cuốn sách là Phó Đại Sĩ Tập. Hai quyển đầu ghi kèm thêm hai chữ Truyện Lục, quyển ba ghi là Thi Kệ, quyển bốn th́ trước phần văn bia ghi thêm ḍng chữ “phụ lục bi văn”. Các truyện th́ ghi là “phụ lục truyện này nọ”. Trong bản của pháp sư Hưng Từ tôi đă viết rơ cách thức tŕnh bày cho thầy ấy; c̣n bản này vốn để Quang giữ cho nên chưa ghi rơ.

 

30. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ mười hai)

Mấy hôm trước, em trai ông Mạnh Do là Quần Tranh tính thí tặng các sách nói về nhân quả do các hạ đă soạn và Long Thư Tịnh Độ Văn cũng như bộ Văn Sao của Quang, nhưng v́ người đọc sách trong hiện thời trọn chẳng chú trọng cung kính kinh sách của thánh hiền, sợ người được tặng sách sẽ đọc với thái độ như đọc sách Nho th́ tội lỗi vô lượng. Do vậy, Quần Tranh gởi thư cho Quang, xin soạn một bài văn khuyến cáo, tính cho khắc ván, in vào đằng sau b́a sách, ngơ hầu những kẻ hiểu biết sẽ chẳng đến nỗi giữ măi thói quen [khinh nhờn] ấy! Quang liền viết một bài gởi cho ông ta, nhưng do học thức kém cỏi, thật khó thể cảnh tỉnh kẻ khác được! Tuy thế, ắt sẽ có người do vậy mà sửa đổi đôi chút thói quen cũ ấy.

Lại nghĩ: Sách đă đóng b́a xong, nếu in thêm vào sẽ thật khó, nếu hơi chẳng lưu tâm sẽ trở thành bôi lem nhem. Nhân đấy nghĩ: Trên b́a của những cuốn sách do các hạ biên soạn, nếu các hạ chịu in những lời này, cố nhiên sẽ có ích lớn lao cho người đọc. Đấy cũng là một đầu mối để dùng pháp giáo hóa người khác. Nay tôi đem bài văn ấy gởi kèm theo thư để tŕnh lên. Nhưng đấy bất quá chỉ là nói đại lược mà thôi; nếu các hạ chịu vận dụng tài viết lách lớn lao để soạn một bài văn khiến cho người đọc vừa nh́n vào sẽ kinh hồn th́ càng tốt đẹp hơn nữa! Do vậy, không nhất định phải dùng bài văn của Quang! Chỉ mong cho người khác biết kiêng sợ ḥng ai nấy đều được lợi ích vậy! Muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp, phải hướng về cung kính mà cầu, đấy chính là thường pháp chẳng thể thay đổi trong suốt mười phương ba đời vậy! Tiếc cho người đời nay phần nhiều coi thường chuyện này; do vậy, chỉ mang cái danh nghiên cứu xuông, chẳng đích thân đạt được thực chứng!

 

31. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ mười ba)

Quang vô tri vô thức, bị ép vào thế bất đắc dĩ, bắt chước cách thức gom lá nhóm cỏ cho xong trách nhiệm, Úy Như lầm lạc lưu truyền, cũng chẳng qua là tạm thời mà thôi, lâu ngày ắt sẽ diệt mất! Nay được các hạ sao lục đưa vào trong những trước tác lớn lao, quyết sẽ được lưu truyền rộng khắp thiên hạ hậu thế. Đúng như câu nói: “Nhặng xanh bám đuôi ngựa Kư nên đi được ngàn dặm”, cảm kích, hổ thẹn khôn sánh!

Trong lá thư lần trước, ông đă nói đại lược về Huệ Mạng Kinh, Quang chưa hiểu được ư. Nay nhận được thư, biết các hạ muốn nhổ trọn các cội rễ tà kiến, nêu đích danh sách ấy [là kinh điển tà vạy của ngoại đạo giả danh Phật pháp] và dẫn lời Quang đả phá, bài xích, có thể nói ḷng từ sâu xa, ḷng bi lớn lao đến cùng cực không ǵ hơn được nữa! Cảm tạ! Bộ Văn Sao hủ bại của Quang nhờ được các hạ tán dương quá mức sẽ được lưu thông tận phương xa, sẽ có ích lớn lao cho kẻ sơ cơ học Phật. Đợi đến khi người ấy đă biết được đường lối sẽ chẳng ngại ǵ coi [Văn Sao] như chó rơm. Nếu vẫn coi như khuôn thước th́ cũng không phải là chẳng được! Bởi lẽ, pháp không có hơn - kém, được lợi ích tùy nơi mỗi người mà thôi!

 

32. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ mười bốn)

Nhận được thư, các hạ ra rả răn nhắc Quang phải đọc trọn [Phật Học] Đại Từ Điển, càng chứng tỏ ḷng các hạ vô ngă rỗng rang dường như biển cả, dung nạp khắp mọi ḍng chảy, trọn chẳng khi nào đủ! Quang mục lực suy đồi gần như ḷa, thẹn chẳng thể ra sức ḍ theo từng hàng mực, hổ thẹn khôn sánh! Ngày Hai Mươi Ba mới nhận được bài chú giải Đại Sĩ Bi (văn bia thuật hành trạng của Phó Đại Sĩ) do ông Hoàng [Hàm Chi] biên soạn. Trộm nghĩ văn tự, điển cố trong bài văn bia ấy cực khó thấu hiểu tường tận được. V́ thế, ông Tôn Ngọc Tiên tính cậy các hạ chú giải nhằm phát khởi thiện căn của hết thảy người đọc, ngơ hầu được sanh về Tịnh Độ ngay trong đời này, tương lai sẽ phụ trợ đức Di Lặc trong hội Long Hoa. Lợi ích ấy quả thật chẳng nông cạn! Nay thấy trong bản chú giải của ông Hoàng, phàm những điển tích người khác chẳng dễ biết mỗi mỗi đều được nêu ra, chẳng những Quang và Ngọc Tiên vui mừng, an ủi khôn cùng, mà Di Lặc Bồ Tát nơi cơi Thường Tịch Quang và trời Đâu Suất cũng mỉm cười bảo [ông Hoàng] đă nêu bày thông suốt được bản hoài xuất thế của Ngài! Nếu bài văn ấy được khắc, ắt sẽ được lưu truyền khắp cơi, vĩnh viễn không ngừng.

Quang do vô tri lại muốn giúp lưu thông nên bèn dùng lối đánh số để chỉ ra những chỗ sai ngoa do lưu truyền sao chép trong ấy và những chỗ chưa được giảng giải hết sức thông suốt, viết riêng vào một tờ giấy khác để mong ông ta sẽ lại sửa chữa. Cổ nhân soạn sách chẳng hiềm ba bốn lượt sửa đổi bản thảo. Biết ông Hoàng và các hạ là bạn tâm giao, sẽ trọn chẳng trách móc Quang phiền phức, vụn vặt, mà sẽ vui vẻ sửa chữa để mong sao trong hội Long Hoa thường được Di Lặc Thế Tôn đề cao là bậc đa văn trí huệ đệ nhất.

Điều đáng tiếc là núi sông xa xôi cách trở chẳng thể gặp mặt trong khi các vị biên soạn nhằm trọn hết t́nh bằng hữu thiết tha dùi mài! Những điều tôi đă nêu ra chưa chắc đă đều đúng cả, nhưng ngu kiến của Quang chỉ được như thế mà thôi! Ví như kẻ thôn dă dâng rau cần, đứa bé dâng cát, chỉ trọn hết phận ḿnh, há cứ ắt muốn người khác phải sử dụng ư? Tưởng nghĩ các hạ vô ngă, ông Hoàng cũng sẽ vô ngă, chỉ muốn thành tựu thiện căn cho người lẫn ḿnh, sẽ chẳng đến nỗi chê Quang lắm chuyện! Nếu ông Hoàng chịu sửa đổi thành bản khác th́ may mắn chi hơn! Nếu như không chịu, tôi sẽ đem nguyên cảo gởi lại, bảo Ngọc Tiên khắc in th́ cũng được!

Trong quyển bảy của bộ [Phật Học] Đại Từ Điển, trang 1029, phía dưới từ ngữ “ấn hoại thành văn” (ấn nát nhưng dấu khắc trên ấn đă hiện) chú rằng: “Đúc sáp thành ấn, in trên bùn đất”, chưa đích xác! Ở đây là nói về kim nê, dùng ấn [đúc hay khắc bằng] sáp áp vào kim nê đang nóng chảy. Do kim nê chưa nguội nên c̣n mềm mại có thể đóng ấn vào được. Tuy đă bị ấn sáp đóng xuống thành vết, nhưng v́ sức nóng của kim nê nên ấn sáp bị chảy tan. Tuy ấn sáp bị chảy tan, nhưng mỗi một nét khắc trên mặt ấn sáp đă đều hiện rơ trên kim nê. Như vậy th́ ấn bị hoại, nhưng nét khắc trên mặt ấn đă h́nh thành, [hai chuyện này xảy ra] cùng một lúc. Nếu hiểu là [đem ấn sáp] in trên bùn đất th́ làm sao ấn có thể bị hư hoại cho được? Điều này tuy không quan trọng khẩn yếu, chẳng qua là giăi bày tấm ḷng ngu thành của Quang mà thôi!

 

33. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ mười lăm)

Vừa nhận được thư, khôn ngăn hổ thẹn, sợ hăi! Ấn Quang là hạng người nào mà dám nhận lấy lời khen ngợi ấy! Các hạ muốn cho kẻ sơ cơ dễ được nhập đạo bèn dùng phương tiện khéo léo, Quang thật sự khâm phục ngưỡng mộ khôn cùng. Đối với chuyện ông đă rộng thí pháp tài, cảm phục đến cùng cực! Tuy thân Ấn Quang chẳng dư tiền, nhưng gần đây do khắc ván, ấn loát v.v… cũng chẳng ngại v́ các hạ làm công đức. Hôm nay nhận được thư của Úy Như cho biết sẽ in Ấn Quang Văn Sao, lại bảo Thương Vụ Ấn Thư Quán sắp chữ để tái bản. Khoản tiền này [do các hạ biếu tặng] ắt phải cầm sang [cho ông ta]. Đợi khi sắp chữ thỏa đáng, sẽ dùng khoản tiền ấy để thỉnh sách Văn Sao hủ bại của Quang nhằm kết pháp duyên. Lại xin ông ta gởi mấy chục bộ theo đường bưu điện tới Phổ Đà để làm pháp thí rộng răi cho các hạ. Lại nhờ các hạ dặn Thương Vụ Ấn Quán hăy giữ lại bản in để khi cần in lần thứ hai sẽ đỡ phải tốn công sắp chữ lại. Thêm nữa, xin ông dặn họ đừng dùng loại giấy có độ bóng, hăy dùng đúng loại giấy mà ông Từ Úy Như đă dùng để in [trong những lần trước]. Ngày Hai Mươi Bốn, Úy Như đă lên Bắc Kinh, xin các hạ hăy để tâm dặn ḍ.

Hơn nữa, trong sách Quán Âm Linh Cảm Lục, nơi mặt trước của trang hai mươi hai trong chương thứ năm, đoạn chép về Lương Cung Thần, Quán Âm nói với Phạm Vương về mười thứ tướng mạo danh nghĩa của chú tâm, thứ nhất là “đại từ bi tâm thị” (tâm đại từ bi là tướng mạo danh nghĩa của chú Đại Bi), cho đến thứ mười là “vô thượng Bồ Đề tâm thị”. Năm trước, trong sách Phật Học Chỉ Nam, ông đă từng sử dụng cú pháp như thế này: Đem chữ Thị đặt trên đầu mỗi câu, Quang đă từng nói cặn kẽ. Nay lại sử dụng cú pháp như thế, biết các hạ bận bịu nhiều việc trọn chưa thể kiểm nghiệm từng điều. Chuyện này tuy nhỏ nhặt, nhưng để cho bậc thông gia trông thấy ắt sẽ chê cười, c̣n kẻ chẳng phải là bậc thông gia trông thấy sẽ bắt chước! Cố nhiên Quang ḷng dạ thẳng băng, ăn nói thẳng tuột, thường muốn làm ḥn đá mài nơi ngọn núi khác nhằm giồi mài cho viên ngọc xứ Kinh, cho nên lại thưa rằng: Với từ ngữ A Già La trong hàng thứ mười hai, chữ La () chính là chữ Đà () bị viết sai, [A Già La] tức là thuốc A Già Đà vậy. Có người bạn tặng cho Quang bức tranh vẽ chùa Vạn Niên núi Thiên Thai, nay xin tặng lại để ông có cái ngao du tinh thần.

 

34. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ mười sáu)

Vừa nhận được thư, biết các hạ có chí mong lợi người nhưng lại thận trọng nơi sự, sợ rằng có chỗ không thích đáng sẽ gây trở ngại cho pháp đạo, đáng gọi là “chân tâm hộ pháp, chân tâm lợi người”. Lại do thấy Quang nghèo nàn tiền bạc, liền đặc biệt gởi cho mười tấm bưu phiếu, cảm ơn lắm. Đời Mạt ít có tri thức thật sự, thường có những gă tục Tăng vô tri dạy người khác niệm Phật, bảo: “Cứ niệm Phật một tiếng th́ sẽ có một đồng trong cơi Âm!” Nhưng kẻ ngu thấy biết nhỏ nhoi, nói: “Mỗi ngày niệm Phật mấy vạn tiếng liền có mấy vạn đồng! Buôn bán trong thế gian nhọc nhằn, gian nan, trọn chẳng có được chuyện lợi ích lớn lao như thế ấy”, liền phát tâm niệm Phật coi như phương kế tích tụ tiền tài, trọn chẳng biết tới nguyên do niệm Phật! Do kẻ ấy tâm tâm niệm niệm dùng ḷng chí thành để mưu tính tích tụ tiền bạc nên sẽ tùy tâm tùy nghiệp mà hiện thành tiền.

 

Chuyện của Trương Bân đích xác chẳng phải là ngụy tạo! Điều đáng tiếc là ông ta chưa gặp được bậc tri thức sáng mắt dạy cho biết nguyên do niệm Phật. Nếu biết được nguyên do, dùng cái tâm khẩn thiết ấy để phát nguyện tự lợi lợi người, chắc ông Bân sẽ cao đăng chín phẩm, chứng quả Vô Sanh! Há c̣n lo tích trữ mấy kho kim tiền để đợi sau này sử dụng trong cơi Âm nữa ư? C̣n như vua cơi Âm bảo: “Phàm ai thọ Bát Quan Trai Giới chí tâm niệm Phật một tiếng th́ cũng đúc được một đồng tiền bằng bạc” cho thấy người đời dùng niệm Phật để tích trữ tiền [nhằm sử dụng sau khi chết] nhiều lắm! Họ chẳng biết tới công đức niệm Phật, chỉ mong có tiền để dùng sau khi chết, giống như đem Như Ư bảo châu đổi lấy một tấm áo, một bữa ăn! Há chẳng đáng tiếc ư?

 

Tuy nhiên, do vị Thượng Thư khẩn cầu người thợ bện dép cỏ Bồ nên liền được sống lại để chuộc tội. Tri kiến phàm phu trong thế gian chẳng thể suy lường công đức của sự phát khởi tâm đại Bồ Đề niệm Phật! V́ thế, ngài Tỉnh Am nói: “Tạm tŕ thánh hiệu c̣n hơn bố thí suốt một trăm năm, vừa phát đại tâm sẽ vượt trỗi tu hành suốt kiếp”. Hai câu này đều dựa theo những điều kinh luận đă nói mà nêu rơ, chứ không phải là bịa đặt. Phàm sao lục những sự thật ấy, hăy nên nói rơ chánh lư Phật pháp ở đằng sau mỗi chuyện và chỉ rơ: Phàm phu thấy biết nhỏ nhoi, chỉ biết niệm Phật để tích cóp tiền th́ tiền ấy sẽ theo cái tâm mà cảm vời, theo cái nghiệp mà hiện ra, cho nên thật sự có mấy kho tiền vàng trữ trong chốn âm phủ!

 

Phàm là người niệm Phật, ắt phải phát đại Bồ Đề tâm phổ độ chúng sanh th́ trong hiện tại các duyên sẽ thuận thảo, thích đáng, lúc lâm chung chánh niệm văng sanh. Từ đấy, thoát khỏi hàng phàm phu, dự vào hội thánh hiền, nương theo Phật từ lực và nguyện luân của chính ḿnh trở vào Sa Bà hiện khắp các sắc thân độ thoát chúng sanh. Há nào phải khư khư như viên Thượng Thư chỉ mong được nhờ ân ḥng diệt tội ư? [Dẫn giải] như thế sẽ khiến cho người đọc đoạn trừ được những tri kiến kém hèn, mở mang, khơi gợi tín tâm chân thật.

Nếu chỉ sao lục nguyên văn, trọn chẳng b́nh luận th́ kẻ ngu sẽ tưởng niệm Phật chính là một pháp để tích trữ tiền bạc trong cơi Âm! Từ đấy một người xướng, trăm kẻ họa, chỉ mong làm quỷ có tiền, đánh mất chỗ nương dựa để tạo lập công phu văng sanh Tây Phương! Người trí thấy vậy sẽ chê kẻ biên soạn trọn chẳng có chánh nhăn. Nếu b́nh luận nguyên do th́ đôi điều đều đạt được! Nếu không, cả hai điều đều mất. Những sách vở trong thế gian đều có những chỗ giúp nêu tỏ Phật pháp, nhưng do người soạn chưa mở được chánh nhăn nên thường đến nỗi [dẫn đến hiệu quả] trái nghịch. Như Kỷ Văn Đạt, Viên Tử Tài cực lực muốn làm cho người khác tin sâu nhân quả, nhưng chưa hiểu rơ tự tâm, nên thường viết những câu tự mâu thuẫn, hoặc hiểu lầm tin tức, ngỡ ma cảnh là Phật cảnh, huống là những kẻ khác ư?

 

 

35. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ mười bảy)

Vừa nhận được thư và Đại Sĩ Tập, khôn ngăn mừng rỡ. Bài văn Đại Sĩ Bi đă được ông Hoàng [Hàm Chi] chú giải th́ ân trạch của [Phó] Đại Sĩ sẽ thấm nhuần khắp mọi quần manh. Tôi gởi thư ngay cho Ngọc Tiên, nói rơ nguyên do và gởi kèm theo thư của các hạ. Chú giải đă xong, nếu cho khắc ván chẳng cần phải nói đến nữa! Nếu không khắc th́ sao ông ta lại miệt mài muốn xin các hạ chú giải. Nhưng sau khi chú giải đă soạn xong, sẽ đem nguyên cảo từ chỗ Quang gởi đi, đợi cho ông ta đọc xong th́ mới quyết định khắc ván hoặc đúc bản kẽm! Lời hỏi của ông Vạn nên ghi vào phía sau.

Tác phẩm lớn lao của ông là [Phật Học] Đại Từ Điển chữ quá nhỏ, mắt Quang chẳng thể đọc được! Ngẫu nhiên đọc một hai đoạn, tựa hồ có chỗ cần phải thương lượng, châm chước, nên cũng viết vào sau thư này. Những điều ông giảng giải về từ ngữ “được Phật tiếp dẫn” không sai, nhưng Thiên Thân Luận chính là Vô Lượng Thọ Kinh Luận, cũng c̣n gọi là Văng Sanh Luận. Trong Đại Tạng Mục Lục gọi là Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá. Ưu Ba Đề Xá chính là từ ngữ tiếng Phạn để chỉ Luận vậy.

Trong từ ngữ “cách ấm chi mê” th́ Ấm có nghĩa là sắc thân, tức Ngũ Ấm. Do điều này, bậc Bồ Tát chưa đoạn sạch Kiến Tư Hoặc trong tam giới hễ thọ sanh th́ vẫn c̣n có cái làm cho họ bị mê hoặc, v́ thế gọi là “cách ấm chi mê”. Rất nhiều vị đại căn khí lúc thoạt đầu cũng mê muội trái nghịch giống như phàm phu, nếu gặp được duyên hoặc vừa nghe khai thị liền ngộ ngay lập tức, thật giống như người thuộc hai cuộc đời khác nhau, đấy đều là do đời trước đă gieo thiện căn sâu xa nhưng chưa đoạn được Phiền Hoặc, hễ vừa chuyển sang đời sống khác liền trở thành mê trái. [Kinh luận thường] gọi lúc chưa chết là Hiện Ấm, gọi lúc chết rồi nhưng chưa thọ sanh là Trung Ấm, thọ sanh rồi th́ gọi là Hậu Ấm. Hậu Ấm là ước theo lúc chưa chết mà nói, chứ nếu ước theo lúc đă thọ sanh để nói th́ phải gọi là Hiện Ấm. Thuyết “cách ấm” chỉ cho điều này!

Gạt bỏ Tây Phương Di Đà, coi đó là chấp lấy pháp ở ngoài tâm; đấy chính là căn bệnh chung của những kẻ tham Thiền nhưng không hiểu được ư, chỉ chấp có tâm, chẳng biết có Tịnh Độ, cũng như [chẳng biết có] vị giáo chủ cơi Tịnh Độ. Ư họ cho rằng: “Hết thảy duy tâm mà Di Đà ở Tây Phương tức là chấp lấy pháp ở ngoài tâm”, chẳng biết: Do hết thảy duy tâm nên Sa Bà chỉ là do sự nhơ uế trong tâm cảm thành, Cực Lạc cũng chỉ do sự khiết tịnh trong tâm cảm thành! A Di Đà Phật ở Tây Phương chính là đức Phật thiên chân nơi tự tánh của chúng ta, đức Phật thiên chân trong tự tánh của chúng ta chính là A Di Đà Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Chẳng thấu hiểu nghĩa lư “duy tâm”, lầm lạc sanh ư niệm lấy - bỏ, lỗi ấy kể sao cho xiết? Ngoài tâm không cảnh, ngoài cảnh không tâm, do tâm tịnh th́ cơi Phật tịnh, do tâm uế th́ cơi Phật uế. Cảnh thiện hay ác là do tâm thiện hay ác cảm thành. Trọn chẳng có chuyện thiện tâm, tịnh tâm lại cảm ác cảnh, uế cảnh, hoặc ác tâm uế tâm lại cảm được thiện cảnh, tịnh cảnh! Do bởi lẽ ấy cho nên nói: “Ngoài tâm không cảnh, ngoài cảnh không tâm”.

 

36. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ mười tám)

Nhận được thư, biết sách Phật Học Toát Yếu đă được sửa chữa, ấn hành, rộng kết pháp duyên, khôn ngăn mừng rỡ, vui thích. Ông gởi tới hai mươi cuốn, tôi chưa hề nhận được. Thoạt đầu sợ là được gởi riêng trong một bưu kiện khác, nên chắc sẽ chậm trễ một hai ngày. V́ thế, tính khi nào nhận được sách mới dâng thư phúc đáp. Đến nay vẫn chưa nhận được, sợ bưu cục đă để lạc mất rồi! Nhưng thiện thư ấy hễ có ai xem th́ cũng được rồi, cũng chẳng cần phải áy náy v́ Quang không được xem! Nhưng gởi nhiều đồ vật qua bưu cục mà vẫn bị như thế, chẳng biết họ đă bao lần làm hư chuyện lớn của người khác? Xin hăy nói rơ với bưu cục để họ lưu tâm.

Đối với những bộ Nhị Thập Sử Cảm Ứng Lục đă được khắc bản, các hạ có được sáu bảy loại th́ những chuyện lạ lùng hiếm nghe được ghi chép trong các bộ sử sẽ chẳng bị thiếu sót. Nếu các hạ chịu chọn lọc hết ra để lưu truyền trong vũ trụ sẽ khiến cho những kẻ thiên chấp đoạn kiến và những kẻ chỉ tin vào sử sách chẳng tin vào nhân quả báo ứng được nói tới trong các sách vở khác đều được lợi ích. Ấy là công đức chẳng thể nghĩ bàn, chẳng những có ích cho Phật pháp mà quả thật c̣n là khuôn mẫu lớn lao cho việc tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ vậy! Nguyện sau khi đă soạn thành sách rồi sẽ đặc biệt ban cho Quang một bộ nhằm thỏa tấm ḷng ngu muội th́ tôi cũng chẳng ngại phiền phức, sẽ hướng đến khắp mọi người hữu duyên để tuyên nói!

 

37. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ mười chín)

Vừa nhận được Quán Âm Linh Cảm Lục và Phật Học Sơ Giai do ông gởi tới, khôn ngăn cảm phục. Năm Mậu Ngọ (1918), Quang nhận lời thỉnh của ông Trần Tích Châu tu chỉnh [Phổ Đà] Sơn Chí, Quang tính sưu tầm khắp mọi sự tích linh cảm của ngài Quán Âm trong Đại Tạng để đưa vào trong Sơn Chí, nhằm nêu rơ thật nghĩa nơi Bổn và Tích của vị chủ nhân núi này. Hiềm rằng mắt vẫn ḷa như cũ, không cách nào viết lách được, nay thấy bản biên tập của các hạ, khôn ngăn mừng cho chúng sanh không nơi nương tựa trong cơi Sa Bà đă có được nơi che chở. Tôi sẽ cất giữ [cuốn sách này] trong pḥng chứa kinh. Nếu vạn nhất được toại nguyện, mắt được sáng lại, sẽ thực hiện ư nguyện sửa chữa, tu chỉnh Sơn Chí lần nữa, ắt sẽ chọn lọc sử dụng tài liệu trong cuốn sách này nhằm đáp tạ ân lớn lao của Đại Sĩ, ḥng an ủi nỗi khổ tâm của các hạ, mà phẩm sen của lệnh nghiêm, lệnh từ cũng sẽ được chuyển cao lên hơn nữa.

Cuốn Phật Học Sơ Giai tôi sẽ đem tặng cho người có tín tâm để rộng kết pháp thí cho các hạ. Bát Đại Nhân Giác Kinh do ông gởi khi trước tôi đă nhận được rồi. Ông sai tôi viết lời đề từ cho cuốn Phật Học Sơ Giai th́ tôi văn từ thô lậu, quê mùa, chẳng thể nêu tỏ ư nghĩa của cuốn sách ấy được! Do vậy, chẳng qua là làm chuyện tắc trách mà thôi!

 

38. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (Thư thứ hai mươi)

Quang vốn là chủng tử địa ngục hủy báng Phật pháp, may mắn nhờ vào thiện căn đời trước, giữa chừng giác ngộ xuất gia tu tŕ Tịnh nghiệp để mong thoát khỏi cơi khổ năo này mà thôi! Nào ngờ [Mă] Khế Tây cứ muốn ép tôi vào địa ngục A Tỳ, biến tôi vốn là chủng tử địa ngục rốt cuộc thành một vị Bồ Tát sống! Hay th́ hay thật đấy! Nhưng Diêm La đại vương quyết chẳng chấp nhận đem phàm lạm thánh, ắt sẽ phải mời tôi là một vị Bồ Tát giả tới hiển hiện thần thông trong vạc sôi, ḷ than, rừng gươm, núi đao v.v… nơi ấy! Sợ rằng sẽ phải đem đầu mặt giao nộp mà thôi! Chẳng những không thể sanh về Tây Phương mà c̣n sợ rằng sẽ phải thường ở măi trong địa ngục A Tỳ không thể thoát ra! Nếu ông thương xót tôi, quyết sẽ đem truyện ấy đốt sạch hết đi khiến cho ông ta chẳng c̣n làm những chuyện bịa đặt sáo rỗng ấy nữa th́ may mắn muôn phần, vạn phần vậy!

 

39. Thư trả lời cư sĩ Đinh Phước Bảo (thư thứ hai mươi mốt)

Nhận được thư và sách Tam Tạng Pháp Số, khôn ngăn mừng vui, an ủi. Nhưng Quang cứ một mực muốn in phần Thư Căn. Sau này hễ in sách, đều cần phải in chữ nơi phần Thư Căn để tiện kiểm tra pḥng ngừa sách bị mất trang. Cách ấy chính là cách tốt đẹp để bảo tồn sách vở vậy. Cao Tăng Truyện c̣n phải đợi ba năm nữa mới khắc ván được, năm năm nữa mới in ra sách được! Sách ấy bị sai ngoa rất nhiều v́ Dụ Muội Am nghề nghiệp bận bịu, cậy người khác biên soạn giùm; khi biên chép, tŕnh bày đều không giảo duyệt tường tận. Ông ta lại đôi ba lần cậy Quang giảo chánh, nhưng Quang quả thật suốt ngày không có lúc rảnh rỗi. Hôm nay ông ta gởi thư đến nói: “Dù phải chậm trễ ba năm cũng không đáng lo ngại!” Nhưng các sách [ông ta] đă đọc phần nhiều đều là các tỉnh phủ huyện chí, những sách được liệt kê tuy không nhiều lắm, nhưng những sai sót trong ấy cố nhiên chẳng ít. Ông đáng gọi là bậc đọc rộng răi các sách, phàm những điều nào không có trong các truyện về những bậc cổ đức lỗi lạc xin hăy đều sao ra, phán đoán thời đại của các vị ấy để lúc khắc ra sẽ tùy theo từng loại mà ghép vào phần trước hay phần sau [bộ sách này].

 

Hơn nữa, tập sách này không có lời b́nh luận, Quang tính thỉnh ông Hứa Chỉ Tịnh viết lời b́nh luận [dưới mỗi truyện] cho giống với thể tài của ba tập trước. Hơn nữa, ba tập [cao tăng truyện các đời] Lương - Đường - Tống đều có thiếu sót. Nếu ông đọc các sách cổ thấy có vị cổ đức lỗi lạc nào mà trong Cao Tăng Truyện chưa có th́ cũng nên sao ra để soạn thành phần Bổ Di in kèm sau sách. Ông Hứa Chỉ Tịnh bút lực vượt trỗi vạn người, văn chương lừng lẫy một thuở, hiện đang biên soạn bộ Quán Âm Cảm Ứng Tụng cho Quang. Phần chánh văn đă biên soạn xong, Quang bảo ông ta viết thêm lời chú, sẽ hoàn tất vào tháng Ba năm sau th́ ân trạch của Đại Sĩ sẽ được thấm nhuần khắp hoàn vũ vậy!

 

40. Thư trả lời cư sĩ Châu Quần Tranh

Ḥa Thượng Liễu Thanh đưa thư của ông cho tôi đọc, cảm kích sâu đậm tấm ḷng chân thật v́ pháp của cư sĩ. Ông yêu mến tôi tới tột bậc, nhưng chẳng biết cách yêu mến, nên chẳng thể không tŕnh bày đại khái để dứt nghi t́nh. Bộ Phật Môn Vựng Tải được biên soạn nhằm chấn hưng pháp đạo, chỉ dạy kẻ ngu mê, nếu [tác phẩm nào] lư không đạt tới mức uyên thâm, bút mực không siêu diệu như biển rộng trời cao, vàng rung, ngọc chạm, khiến cho người khác vừa đọc sẽ sanh ḷng tỉnh ngộ mạnh mẽ như trong đêm tối nghe tiếng chuông sẽ tỉnh ngay giấc mộng hư huyễn th́ làm sao đáng đưa vào trong ấy! Ấn Quang là một ông Tăng tầm thường, trăm sự chẳng làm được một, mắt lại c̣n bị tật đă lâu, chẳng thể đọc khắp các kinh luận, lại trọn chẳng có tánh nghe, nghe xong liền quên sạch, trọn chẳng nhớ được tí ti nào! Làm sao có thể dự vào trong hội tốt lành ấy cho được? Trong mấy chục năm qua, không có chuyện ǵ [cần thiết] th́ tôi chẳng gần gũi bút mực. Úy Như sưu tập những bản văn hủ bại đem khắc ván là đă quá phận rồi, huống chi nay lại giao cho Thời Sự Tân Báo Quán ư?

Tục ngữ có câu: “Không gạo không sao nấu cơm được!” Không phải là Quang chẳng muốn được thể diện, nhưng do không có gạo nên chẳng thể đem đất, đá, trấu, tấm giả làm món ăn ngon lành khiến cho người khác chê cười! Đối với ḍng họ ngoài đời, năm tháng xuất gia, những chỗ đă trụ, những chuyện đă làm, đấy chính là những dữ liệu về bậc đại thông gia có công đối với pháp đạo nên được người đời sau sao chép để nêu gương nhằm phát khởi cái tâm kính ngưỡng, mong mỏi, hâm mộ của người khác nên không thể nào chẳng làm như vậy. C̣n như Quang là một ông Tăng tầm thường, ngoài chuyện ăn ngủ ra, trọn chẳng biết ǵ cả, trọn chẳng làm được ǵ! Sao đáng để noi theo khuôn sáo ấy? Dùng khuôn sáo ấy sẽ trở thành khắc phân người giả làm Chiên Đàn, đẹp th́ đẹp mặt thật đấy, nhưng chỉ thối tha, không thơm tho ǵ! Cũng giống như đem đất, gỗ giả làm vàng ngọc, choáng lộn th́ choáng lộn thật đấy, nhưng chỉ có sắc chứ chẳng thể tỏa sáng được! Khi chưa xuất gia, Quang đă coi chuyện hư trương thanh thế là điều đáng thẹn, huống chi nay đang muốn theo gót các vị thượng thiện nhân ưu du trong thế giới An Dưỡng! Há chịu biến không thành có để lừa đời, dối ḿnh ư?

Một câu Nam Mô A Di Đà Phật chỉ cần niệm cho thuần thục th́ thành Phật c̣n có thừa, không học Mật pháp nào phải áy náy ǵ? Mỗi ngày niệm Phật ba chục vạn câu th́ ư căn lẫn thiệt căn đều nhạy bén, nhưng đừng chỉ hâm mộ niệm cho nhiều! Hăy nên dốc sức nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối mà thôi! Hơn nữa, những kẻ tu hành phù phiếm, hời hợt hiện thời phần nhiều đều chẳng tu hành chân thật, chỉ mong được hư danh. Quang từng thấy rất nhiều kẻ công khóa hằng ngày niệm Phật tới mười vạn câu Di Đà, nhưng đều là phô phang thanh thế sáo rỗng nhằm dối ḿnh lừa người mà thôi! Hễ nhiễm phải thứ tập khí ấy th́ sẽ chỉ nhọc nhằn chứ không có công hiệu ǵ đâu! Nhỏ th́ sẽ biến không thành có, lớn th́ đem phàm lạm thánh, chẳng những không có công lao ǵ mà tội lỗi cũng chẳng thể nói trọn hết được!

Hiện nay, tăng nhân tuy nhiều, nhưng kẻ có thể hoằng pháp thật ít. Do thỉnh pháp sư chẳng dễ, cho nên đến nỗi như thế. Nhưng nghe kinh giống như tu tŕ Tịnh nghiệp, hễ nêu rơ nguyên do của tự lực và tha lực th́ sẽ có lợi lớn lao. Nếu chỉ cầu thông đạt giáo nghĩa, chẳng chú trọng Tịnh Độ th́ sợ rằng sẽ không có sức đoạn Hoặc chứng Chân. Muốn đới nghiệp văng sanh mà lại chẳng sanh tín nguyện th́ tuy có Phật lực nhưng không có cách nào nương cậy, sẽ trở thành kẻ có nhân không quả, nghiệp thức mờ mịt! Cần biết rằng: Những giáo pháp được nói trong suốt một đời đức Phật đều thuộc về pháp môn tự lực, chính là giáo lư theo đường lối thông thường; c̣n Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt, hoàn toàn cậy vào Phật lực. Nếu có thể đoạn Hoặc chứng Chân ngay trong đời này th́ chẳng cậy vào Phật lực cũng chẳng mắc lỗi ǵ! Chứ nếu đă không thể đoạn Hoặc chứng Chân ngay trong đời này mà lại chẳng cậy vào Phật lực th́ nếu không ngu ắt cũng là cuồng! Những bậc đại thông gia hiện thời thường là như thế đấy, buồn thay!

Người học đạo chuyện ǵ cũng phải noi theo thật t́nh, cuối thư há nên dùng chữ “trăm lạy” sáo rỗng? Chắc là ông nghĩ khuôn phép sáo rỗng ấy là cung kính đấy chăng? Từ nay về sau đừng nên như thế nữa! Chỉ nói “đảnh lễ” là được rồi!

Thư của Lâm Tâm Liên hỏi về Lư Trác Ngô. Người này cũng thuộc hạng “tưởng chừng là đúng mà thật ra là sai!” Xét ra, ông ta xuất gia nhưng không thọ giới, liền tự nói pháp, tới khi người trong vùng chê là tà thuyết, ngông cuồng, trái nghịch, bèn đội mũ làm nhà Nho. Xét theo học thức của Trác Ngô, làm sao có thể phô bày, đề cao tâm pháp của Thích - Nho được? Ông ta đột ngột hoàn tục tức là hành vi không có đường lối nhất định, cứ làm bừa theo ư ḿnh. Há c̣n đáng gọi là bậc quân tử hiểu lư, thấu hiểu tận cùng tánh hay chăng? Cuốn Cư Sĩ Truyện đặc biệt viết truyện về ông ta, quả thật là đề cao quá đáng! Sợ ông Lâm vẫn chẳng chấp nhận lời Quang là đúng, v́ thế tôi viết kèm thêm vào thư gởi cho ông.

Ông muốn xuất gia đă lâu, chẳng biết khẩn thiết như thế nào? Nay thấy [cách xử sự khi] ông ở chùa Thái B́nh th́ cũng là phường hời hợt, hờ hững. Tức là ông muốn xuất gia chỉ nhằm cầu được thanh nhàn, tự tại mà thôi! Nếu thật sự muốn tu tŕ sẽ chẳng đến nỗi thong dong, lửng lơ như thế!

Kinh Lăng Nghiêm có ǵ mà chẳng thể nghiên cứu được! Nhưng cần phải lấy Tịnh Độ làm chủ th́ hết thảy kinh sẽ xiển dương lợi ích của Tịnh Độ. Phần mở đầu kinh Lăng Nghiêm gạn hỏi cái tâm khó khăn như thế th́ biết chúng sanh đời Mạt nếu cứ muốn nghiên cứu [kinh điển xuông] để giải quyết sự việc th́ sẽ tự lầm, lầm người lớn lao! Huống chi trong phần Hai Mươi Lăm Pháp Viên Thông, kinh xếp pháp Viên Thông của ngài Thế Chí trước pháp Viên Thông của ngài Quán Âm, hàm ư lấy Tịnh Độ làm [pháp môn] chủ yếu cũng lớn lao thay! Đến phần giảng rơ về cảnh Ngũ Ấm Ma, [Phật dạy] kẻ phá được hai ấm Sắc và Thọ mà vẫn c̣n có chuyện bị ma dựa, đủ thấy sự khó khăn khi dùng tự lực để liễu sanh tử, sự dễ dàng khi dùng Phật lực để liễu sanh tử. Nghiên cứu được như thế th́ sẽ có lợi ích lớn lao.

Phàm khi nghiên cứu, ắt phải lắng ḷng, dứt bặt suy nghĩ, ngưng thần đọc kĩ th́ sẽ như vào trong đảo châu báu lớn, ắt sẽ có thu hoạch. Nếu chỉ mong đọc ào ào cho nhanh, hận chẳng vừa đọc là xong ngay, th́ chẳng những không hiểu được nghĩa lư của kinh mà lâu ngày chắc sẽ bị bệnh đến nỗi tổn khí, thổ huyết v.v… Người khéo được lợi ích, không ǵ chẳng tạo lợi ích; kẻ cam chịu tổn hại, không ǵ chẳng phải là tổn hại! Kinh Lăng Nghiêm quả là bản kinh mầu nhiệm để hoằng dương Tịnh Độ, nhưng kẻ chưa hiểu pháp môn Tịnh Độ thường do kinh Lăng Nghiêm mà ngược ngạo coi thường pháp môn Tịnh Độ. Đấy gọi là “kẻ nhân thấy là nhân, kẻ trí thấy là trí”, do chính ḿnh chưa có đủ chánh nhăn, cứ cậy vào ư kiến của chính ḿnh để hiểu ư kinh mà ra!

Lăng Nghiêm quán nhiếp khá rơ ràng, nhưng giải thích kinh văn dễ dàng, rơ ràng nhất th́ không ǵ bằng sách [Lăng Nghiêm] Chỉ Chưởng; nhưng đa số những chỗ trọng yếu trong Chỉ Chưởng lại không theo sát kinh văn, đấy là do mỗi người khéo hiểu mà thôi! Thoạt đầu cần phải nghiên cứu Tịnh Tông đến chỗ không c̣n bị dao động, mê hoặc th́ mới có thể đọc rộng răi các kinh luận. Nếu chưa hiểu rơ Tịnh Tông, hễ đọc rộng răi các kinh luận sẽ khó khỏi bị kinh giáo hoặc lời lẽ của tri thức xoay chuyển, ngược ngạo gác bỏ Tịnh Độ ra ngoài. Người đời nay hễ hiểu kinh giáo đôi chút bèn chú trọng nơi nghiên cứu, hễ hơi hiểu Thiền ư bèn chú trọng nơi tham cứu. Nguyên nhân nói chung là do họ không biết chính ḿnh là nghiệp lực phàm phu chẳng thể tự chứng giải thoát được! Cái cực thâm diệu nằm ở chỗ cực b́nh thường! Ví như một câu Phật hiệu vốn cực b́nh thường, nhưng niệm tới cùng tột th́ trăm ngàn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa đều có thể hiểu được! Lại như gốc cây, vốn cực b́nh thường, nhưng sanh rễ, nẩy mộng, đâm cành, trổ nhánh, nẩy lá, đơm hoa, kết quả, thật mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn! V́ thế, kẻ biết nh́n vào, biết thực hiện cái b́nh thường th́ chính ḿnh mới thật sự có sở đắc. Nếu chỉ biết thâm diệu th́ phần nhiều khó thể tận tụy thực hiện được, trở thành kẻ chỉ biết nói những lời lẽ thâm diệu mà thôi!

Lệnh hữu bị bệnh, chỉ nên khuyên ông ta trở về nhà dưỡng bệnh. Vàn muôn phần chớ nên để ông ta tới Phổ Đà; do ông ta quen thói kẻ cả, thức ăn phải nấu nướng khéo léo, nhà cửa phải lộng lẫy, người hầu hạ phải lanh lợi, hễ gặp một chuyện ǵ không vừa ư liền sanh phiền năo! Ở Pháp Vũ chẳng có một điều nào hợp ư ông ta được đâu! Huống chi ông ta tự cao tự đại, trọn chẳng có tín tâm, tuy anh ông đă ghi tên xin quy y giùm ông ta, thế mà khi Quang đến Thượng Hải, ông ta trọn chẳng có một lần nào đến thăm hỏi (Quang không trách ông ta bất kính, nhưng do vậy biết ông ta tự đại cũng như thiếu hẳn tín tâm). Làm sao tới núi dưỡng bệnh cho được? Nếu chẳng nói rơ những chuyện này, chắc ông ta sẽ nghe theo lời hai anh em ông khuyên, đường đột chẳng nghĩ thân phận, tánh t́nh của ḿnh như thế nào, Pháp Vũ là nơi chốn như thế nào để rồi đến ngay, sẽ trở thành chướng ngại, không bao lâu sẽ phải bỏ đi, đâm ra bị tổn hại vô ích! Ngàn vạn phần đừng khuyên ông ta tới núi kẻo đến nỗi đôi bên đều bất an.

Sư Hoằng Nhất chỉ muốn làm một gă tự giải thoát, muôn phần chẳng thể đảm nhiệm sự việc được! Do thầy ấy tâm hạnh tỉ mỉ, tinh tế, hễ phải đảm nhiệm công việc sẽ bị tổn thương, hễ bị tổn thương sẽ phải bỏ cuộc giữa chừng. Nếu tự ḿnh dụng công th́ sẽ được yên vui.

Mua loài vật phóng sanh, nếu dựa theo lư rốt ráo “tự thương, thương người” để luận, [khi con vật bị chết trước lúc được phóng sanh] cố nhiên nên đem chôn, chớ nên đổ xuống nước khiến xác con vật đă chết trôi lềnh bềnh trong nước, rốt cuộc chẳng phải là kế sách tốt đẹp! Nếu bảo là v́ nó đă chết, liền đem cho người khác ăn và thí cho người nghèo ăn th́ cũng không phải là không được. Hăy nên bảo người ăn niệm Phật cho con vật đă chết ấy thật nhiều bởi nó là con vật được phóng sanh; nếu không, ăn vào sẽ bị mắc tội. Nếu có thể niệm Phật cho nó th́ đôi bên đều được lợi ích. Dùng điều này để khuyên bảo th́ cũng có thể dẫn dụ người ăn kia gieo được chút thiện căn. Dẫu chưa thể thả được sanh vật th́ đối với những thức ăn do chính ḿnh sắm sửa, hăy nên niệm Phật cho nó th́ đôi bên cũng đều được lợi ích. Ông chấp chặt hẹp ḥi như thế, cho rằng đă nói quy y niệm Phật th́ không được ăn, tức là dạy kẻ ăn thịt nhất loạt chẳng niệm Phật! Những kẻ ăn thịt ấy chỉ biết thịt là thứ có vị ngon, chẳng biết sau này khi chính ḿnh cũng sẽ là thức ăn có vị ngon để cho người khác giết ăn th́ trong tâm họ mới cảm thấy khó chịu. Kẻ ấy đă chẳng hiểu sự việc như thế th́ đành để mặc cho kẻ ấy sau này đợi người khác giết ăn là được rồi; cần ǵ phải phí sạch tâm tư khuyên nhủ hắn! Hắn đă mong cầu được người khác ăn hắn, ông khuyên hắn đừng muốn t́m cầu sự khổ ấy, đâm ra trong tâm hắn lại chẳng yên vui! Cứ để mặc hắn đi, để cho hắn đem thân làm món ăn cho người khác; đến lúc ấy, dẫu tâm can đau xé cũng vô ích. Khi ấy hắn sẽ tự hiểu sự sai lầm trong lúc này và lời ta đă nói với hắn chẳng phải là dọa dẫm th́ cũng đă muộn rồi!

Thuốc là vật dùng để trị bệnh, hễ bị bệnh do nghiệp gây ra th́ thuốc men chẳng làm ǵ được cả! Huống hồ sắp chết th́ thuốc có thể hồi sanh được hay chăng? Dẫu không phải là do nghiệp gây ra mà chí tâm niệm Phật th́ cũng sẽ tự chẳng sanh bệnh. Mắc bệnh th́ uống thuốc cũng được! Nếu chuyên trông cậy vào thuốc th́ nhà phú quư, nhà thầy thuốc sẽ không có ai bệnh tật, đều trường thọ cả rồi!

Những kẻ ăn thịt kia do tâm tham sai khiến, muốn bảo họ đừng ăn th́ phải từ nhân quả báo ứng và nỗi đau khổ, oán kết phát sanh v́ bị giết hại mà nói th́ mới dễ lay động ḷng người được! Nếu chỉ biện minh là tịnh hay bất tịnh th́ đấy chỉ là sự việc nơi cành nhánh. Hơn nữa, người ta đă muốn ăn th́ đâu cần bận tâm thịt là thứ bất tịnh! Trước kia, có một vị đại cư sĩ hoằng pháp mấy chục năm, nhưng hằng ngày vẫn ăn thịt (tên của vị này Quang chẳng nói, ông cứ suy ra là biết liền), huống chi những kẻ hời hợt, hờ hững ư? Nếu ông thật sự muốn làm lợi người khác, hăy nên lưu truyền những lời răn dạy cực thống thiết của cổ nhân. C̣n như trong bài văn ông đă soạn, ông nêu ư nghĩa “một người phóng sanh th́ mười nhà được hưởng lợi ích” và thuyết “những thứ ấy chẳng phải là tam tịnh nhục” th́ đấy chính là những nghĩa lư chi ly, vụn vặt, phiền phức của các vị giảng sư. [Nghe nói về những nghĩa ấy], kẻ có tín tâm th́ c̣n sanh được thiện tâm, chứ kẻ không có ḷng tin chắc sẽ phỉ báng.

Tôi đă nhận được bài văn Mười Thứ Lợi Ích, đem tặng hết rồi. Suy nghĩ cặn kẽ th́ thấy những điều được nói trong bài văn ấy sẽ có thể khiến cho những gă đứng ngoài cửa dấy lên lời dị nghị, hễ tặng hết bài văn ấy xong hăy đừng in nữa th́ hơn. Tôi chẳng bảo những lời ông nói không đúng, chỉ là chưa nói được cương lănh trọng yếu. Cương lănh trọng yếu là ở chỗ nào? Chính là ở chỗ [sát sanh] sẽ kết oán thù triền miên, đời đời kiếp kiếp tàn sát lẫn nhau. Ông chỉ nên chí tâm niệm Phật để làm phương kế siêu thoát cho những kẻ giết chóc và những con vật bị giết chóc th́ sẽ có lợi ích lớn lao. Nếu khăng khăng đem bài văn ấy đăng trong các tờ báo Phật giáo th́ rốt cuộc có được mấy ai xem?

Vợ và em gái ông nhất định muốn dùng thịt để đăi khách, hai người ấy chết đi chắc chắn phải biến thành lợn, dê, gà, vịt, tôm, cá. Nếu chẳng biến thành những thứ bị người khác giết để ăn th́ trời đất cũng sẽ đổi vị trí, mặt trời, mặt trăng sẽ xoay sang phương Đông. V́ sao vậy? Do nhân như vậy nên phải cảm quả như vậy. Xin hăy đem lời này của Quang đưa cho họ xem, chắc c̣n có thể cứu được! Nếu không, chắc họ sẽ thường biến thành món ăn ngon nhất cho người ta đăi khách, chẳng biết họ sẽ vừa ḷng thỏa ư hay đau khổ mong mỏi được cứu nhưng vạn phần chẳng có cơ duyên được cứu?

Trong cơi đời, những người ăn chay phần nhiều khỏe mạnh, những ai ăn thịt thường lắm bệnh tật. Do ăn thịt trược ác nên dễ sanh dục tâm, ăn chay thanh tịnh nên dục tâm nhẹ ít. Kẻ ngu chẳng hiểu lư, tưởng ăn thịt để bổ dưỡng con người, đấy là muốn cho cả ḿnh lẫn người sẽ đều biến thành súc sanh trong đời kế tiếp và đời sau, chẳng đáng buồn ư?

Ông nay muốn cầu được văng sanh Tây Phương ngay lập tức, ư niệm ấy cũng tốt, nhưng chỉ nên thuận theo nhân duyên của chính ḿnh. Nếu đặc biệt khởi lên cái tâm quyết liệt, cứ mong được văng sanh ngay th́ sẽ trở thành cái gốc để bị ma dựa đấy! Cái họa mai sau làm sao tưởng tượng được! Sách Trung Dung có câu: “Quân tử tố kỳ vị nhi hành. Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn” (Quân tử hành xử theo đúng địa vị; gặp cảnh hoạn nạn bèn cư xử theo đúng cảnh hoạn nạn). Cách cư xử theo đúng cảnh hoạn nạn ấy nay ông hăy nên bắt chước làm theo. Gặp cảnh tật bệnh, phiền năo bèn cư xử theo đúng cảnh tật bệnh, phiền năo, coi chính ḿnh là kẻ thường bị bệnh tật th́ không có cái tâm bộp chộp mong gấp được lành, cứ nhất tâm niệm Phật th́ mới chóng lành. Thấy quyến thuộc đáng giận hay đáng yêu liền nghĩ những người ấy chính là ḥn đá thử vàng để ta trui luyện công phu nên đặc biệt đối với kẻ đáng giận sẽ chẳng sanh ḷng giận, đối với kẻ đáng yêu sẽ chẳng sanh ḷng yêu. Đấy gọi là “chuyển phiền năo thành Bồ Đề, chuyển bệnh khổ thành an lạc”. Nhất tâm niệm Phật cầu mau được văng sanh. Nếu như chẳng thể văng sanh được ngay, chớ nên khởi lên tâm niệm bộp chộp, mong gấp đạt được th́ bệnh khổ sẽ tự tiêu diệt, quyến thuộc sẽ tự ḥa thuận tốt lành. Xin ông hăy suy nghĩ sâu xa. Bệnh chưa hoàn toàn b́nh phục hẳn, trọn chớ nên gần nữ sắc!

Hiện thời trừ đề xướng nhân quả báo ứng và giáo dục trong gia đ́nh ra, sẽ chẳng thể nào cứu văn được đâu! Giáo dục trong gia đ́nh phải rất chú trọng tới nhân quả báo ứng. Các vị Lưu, Tŕ đáng gọi là biết bệnh, biết thuốc, nhưng chưa đề cập đến giáo dục trong gia đ́nh th́ vẫn chưa thể viên măn đầy đủ. Xin hăy nói tường tận với các vị ấy.

Đức Như Lai thuyết pháp đều thuận theo t́nh người, chẳng ép người khác làm chuyện khó khăn. Như kẻ thọ giới Ưu Bà Tắc, hoặc thọ một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn điều, hoặc thọ trọn đủ, đều tùy theo ư muốn của con người. Ngay như giới dâm, kẻ xuất gia phải đoạn hoàn toàn, chứ với người tại gia chỉ ngăn cấm tà dâm. Bởi lẽ, nam nữ lập gia đ́nh có quan hệ lớn với luân thường nên chẳng ngăn cấm; nhưng đă thọ giới nhà Phật th́ ắt phải tiết dục. Nếu chẳng v́ [có người nối ḍng để] thờ phụng tổ tiên, chỉ mong vui sướng, tuy chẳng phạm giới vẫn phạm lỗi lớn; chẳng qua so với tà dâm th́ giảm nhẹ hơn mà thôi!

Bồ Tát sống trong cơi tục tuy cũng có vợ con nhưng không có dục niệm, cũng v́ thuận theo t́nh cảm con người mà có lúc làm chuyện vợ chồng, bởi phàm phu chẳng thể vô t́nh. Nếu muốn trọn chẳng thân ái, chắc sẽ tạo thành oán hận đến nỗi khởi lên họa hại hủy báng Phật pháp. Chẳng những không thể tăng trưởng thiện căn mà c̣n tạo thành nghiệp hủy báng, đọa lạc trong ác đạo. V́ thế, trước hết phải dùng dục để lôi kéo, sau mới làm cho con người tiến nhập Phật trí. Đấy chính là ḷng đại từ bi uyển chuyển thuận theo t́nh cảm của con người, khéo bày phương tiện. Chỉ nên tiết dục, bất tất phải tuyệt dục. Mỗi quư (ba tháng) gần gũi một lần, ngơ hầu vợ chẳng đến nỗi mang nỗi khổ oán vọng mà sự tu tŕ của ông cũng chẳng bị trở ngại, lại c̣n có thể dẫn dụ vợ tu tŕ Tịnh nghiệp.

Hăy nên nói: “Nếu chẳng tu hành Tịnh nghiệp sẽ vĩnh viễn tuyệt giao!” Cô ta sẽ gắng sức thực hành. Đối với chuyện có sanh con hay không, chẳng cần phải bàn đến nữa! Bởi lẽ anh em ông thật đông con, há cứ cần chính ḿnh phải có con th́ mới chẳng tuyệt ḍng nối dơi tổ tiên ư? Ấy là v́ vợ chồng ăn ở với nhau bởi có túc duyên. Chẳng thể làm cho vợ ḿnh gieo thiện căn, nỡ ḷng bỏ mặc cô ta đọa trong ác đạo ư? Kinh Thi có câu: “Thê tử hảo hợp, như cổ cầm sắt. Huynh đệ kư hấp, ḥa lạc thả trạm. Nghi nhĩ thất gia, lạc nhĩ thê noa” (Vợ con ḥa hợp, như gảy đàn cầm, như đánh đàn sắt. Anh em ḥa thuận, vui sướng, yên ổn. Gia đ́nh êm ấm, vợ con vui vầy). Khổng Tử nói: “Phụ mẫu kỳ thuận hỹ hồ!” (Cha mẹ đẹp ḷng vậy thay). Ông nhất ư tu hành, đoạn tuyệt dục sự, chắc cô ta sẽ oán hận triền miên, hoặc đến nỗi uất ức mà chết. Nếu ông quả thật đạt được Thượng Phẩm Thượng Sanh th́ không bị trở ngại lớn lao ǵ. Nếu không, sẽ mắc lỗi trái ư cha mẹ, trở thành kẻ oán đối của vợ th́ cũng là phiền lụy lớn lao, so với nỗi phiền lụy do nới lỏng dục sự đôi chút th́ sẽ sâu đậm hơn nhiều lắm!

Quang là Tăng nhân, trọn chẳng khuyên người khác tạo nghiệp. Người ta đă đem thân giao phó cho ông th́ hăy nên trọn hết đạo vợ chồng. Chuyện này chính là nghĩa trọng yếu trong đường tu hành, là điều chí t́nh nơi luân thường. Xin ông hăy phát Bồ Đề tâm, dẫn dắt cô ta là kẻ chẳng biết “dục chính là cội khổ” cùng sanh về thế giới Cực Lạc vô dục, ngơ hầu chẳng phụ đời trước có duyên với nhau, đời này làm vợ chồng vậy!

Lại nữa, nếu vợ sanh con th́ sẽ là phiền lụy lớn lao. Không con th́ sẽ yên vui tột bậc! Nhưng cháu cả một bầy, chứ đâu phải chẳng có đứa con nào! Luận sát sao theo sự thật th́ ông có phước thù thắng hơn anh em ông nhiều lắm, nhưng người đời phần nhiều chẳng thấy được điều này, nên suốt cả đời làm đầy tớ cho con cái. Thử suy nghĩ sẽ thấy quả thật là một điều may mắn lớn lao! Lời này tuy trái nghịch t́nh cảm, nhưng thật ra là chí lư chí t́nh.

Bảy anh em của ông nội lệnh hữu do cùng một cha sanh ra, con cháu của ông nội thứ năm đều là hậu duệ của cùng một ông cố. V́ hai gian nhà cho thuê thâu nhập hơn ba trăm đồng liền muốn kiện nhau nơi cửa quan, chắc sẽ tốn bộn tiền. Chuyện kiện tụng chỉ là khoe tài căi lư, muốn biến vô lư thành chuyện hữu lư! Nếu họ khởi lên ác tâm, thốt ra lời ác [chửi bới, tranh chấp nhau], sẽ khiến cho người chung quanh cũng như người đời xầm x́: “Nhà ấy tổ đức đă suy nên lũ con cháu trong cùng một nhà tranh chấp lẫn nhau, anh em bêu riếu nhau!” Nhục lây đến tổ tiên, tội không chi lớn hơn nữa! Chuyện nhỏ tí tẹo trong gia đ́nh, hăy nên nghĩ đến ân đức tổ tiên mà đặc biệt rộng lượng, chớ nên [xử sự] giống như tranh chấp cùng người đời! Dẫu là đối với người trong cơi đời đi nữa, vẫn nên làm chuyện nghĩa, chỉ mong cho ai nấy được sống yên vui, dẫu ngàn vàng cũng chẳng nuối tiếc! Huống chi [ai nấy] đều là hậu duệ của cùng một cụ cố hay sao?

Bảy chi họ đều có sản nghiệp, chi dụng trong nhà cố nhiên chẳng cần phải nhờ vào mối thu nhập ấy để sống c̣n, sao lại ăn thua đủ với nhau, chẳng ai chịu nhường ai? V́ tranh chấp món tiền mấy chục đồng ấy mà kiện nhau ra cửa quan, chưa chắc bảy chi họ đă khỏi phải tốn một đồng nào! Dẫu chẳng phải tốn một đồng nào đi nữa, không ǵ bằng chôn vùi tổ đức, nỗi nhục ấy c̣n quá bại gia phá sản! Chỉ v́ một chi họ tuy vẫn đủ ăn, nhưng toan độc chiếm tài sản chung do tổ tiên để lại, đến nỗi sáu chi họ kia cùng dấy lên cái tâm bất b́nh, tức là đă vứt bỏ tổ tiên ra ngoài, chỉ muốn mưu tính cho con cháu [của chi họ ḿnh] được giàu có, trái nghịch tổ đức, phạm các điều ác! Đừng nói là hơn ba trăm đồng, dẫu cho ba trăm vạn đồng đi nữa cũng chẳng phải là điều phước cho con cháu mà chính là chuốc họa cho con cháu để mong cho chúng bị tuyệt diệt đấy! Đọc sách hiểu lư, sao lại tăm tối đến như thế?

Hăy thử xét xem: Xưa nay những ai giúp người lợi vật, tôn kính tổ tiên, thương yêu cho ḍng họ, con cháu không ai chẳng nắm địa vị cao, hưởng phước dầy, đời đời kế thừa tổ đức triền miên chẳng dứt? Kẻ chỉ biết lợi ḿnh, chẳng đoái hoài tổ tông, đất nước, nhân dân, không ai ba đời chẳng nối tiếp nhau tuyệt diệt hay chăng? V́ sao vậy? Do căn bản tâm địa đă hoại, giống như dùng nước có chất độc để tưới tắm cây hoa, lúa, đậu, chẳng những vô ích mà c̣n có hại! Nếu một chi họ đă như vậy th́ sáu chi họ kia há nên bắt chước ăn thua đủ, cứ muốn “cá đối bằng đầu” với họ, trọn chẳng muốn chiếm địa vị cao cả, cứ nhất quyết phải cùng với họ chen chân vào chốn hèn hạ ô uế ư?

Hăy nghĩ xem: Nếu tổ tiên chẳng để lại căn nhà ấy th́ có c̣n làm người được hay chăng? Lại may mắn là tổ tiên để lại lắm của cải, chứ nếu nghèo trắng tay th́ sẽ tranh giành với ai? Suy nghĩ đến điều ấy th́ nhường cho bọn anh em trong họ mấy chục đồng có ǵ mà không được? Phạm Văn Chánh (Phạm Trọng Yêm) c̣n tậu nghĩa điền cho cả họ, huống là anh em cùng một nhà ư? Họ Phạm từ đầu đời Tống cho đến cuối đời Thanh đỗ đạt chẳng dứt, ấy là do đức dầy của Văn Chánh Công và con cháu đời đời vâng giữ, tu tập tổ đức mà ra.

Bọn anh em cùng một chi họ của lệnh hữu đều là con em nhà thư hương, dẫu chẳng nghe tới đạo lư rất sâu của Phật pháp, nhưng những chuyện ấy (tức gương tốt đẹp của Phạm Trọng Yêm) chắc đă từng nghe, sao chẳng “thấy người hiền mong được bằng” để chú trọng vun bồi tổ đức? Xin hăy đưa thư này của Quang cho khắp các chi họ của lệnh hữu được xem, chắc ai nấy sẽ nghĩ đến tổ đức, noi theo dấu vết cũ. Nếu không, hăy khuyên lệnh hữu đem món tiền của ḿnh dùng vào việc công để mong chấm dứt được chuyện ấy. Ông ta không có con cái, vẫn nên [coi như] dùng [món tiền ấy] cho con cái ḿnh th́ sẽ rạng rỡ tổ đức, rạng rỡ pháp đạo. Mai sau được tốt đẹp như thế nào chẳng phải là điều Quang có thể biết được nổi!

 

 

41. Thư trả lời cư sĩ Lư Cận Đan (Thư thứ nhất)

Nhận được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Quang là ông Tăng chỉ biết cơm cháo, trừ mặc áo, ăn cơm ra, chẳng làm được ǵ khác! May là vẫn chịu học theo thói ngu phu ngu phụ nên chẳng đến nỗi than thở xuông, chẳng biết làm sao! Các hạ muốn thọ Tam Quy Ngũ Giới, sao chẳng chọn vị nào đạo đức học vấn cao siêu, lại chọn một ông Tăng chỉ biết cơm cháo th́ các hạ cũng muốn dự vào đội ngũ ngu phu ngu phụ, chẳng muốn gia nhập hàng ngũ của những vị cao siêu, lạ lùng, đặc biệt ư? Tuy nhiên, đang trong thời thế này, hành theo ngu phu ngu phụ vẫn thực tế hơn! Nếu kẻ cao siêu kỳ đặc chịu buông xuống những chuyện cao siêu, lạ lùng, đặc biệt, ắt sẽ có kết cuộc cao siêu, lạ lùng, đặc biệt lớn lao! Nếu không chịu buông xuống th́ cũng chỉ đạt được kết cuộc là hư danh cao siêu, lạ lùng, đặc biệt, quyết chẳng đạt được sự cao siêu, lạ lùng, đặc biệt thật sự. Pháp Niệm Phật lư cực cao sâu, sự thật b́nh thường, muốn cầu tâm tương ứng với Phật th́ điều thứ nhất là phải chí thành khẩn thiết, điều thứ hai là [lắng] nghe. Quay trở lại nghe nơi tiếng niệm Phật, cùng giữ được ḷng thành và lắng nghe th́ sẽ tự trừ được hôn mê tán loạn!

 

42. Thư trả lời cư sĩ Lư Cận Đan (Thư thứ hai)

Nhận được thư, biết cư sĩ tự đảm nhiệm và quyên mộ người khác đảm nhiệm in Đại Sĩ Tụng, lấy hai ngàn bộ làm chuẩn, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Cư sĩ cảm khái v́ ḷng người chẳng bằng thuở trước, biếu tặng thiện thư rất ít đạt hiệu quả, nhưng người trong nước ta gần đến năm vạn vạn người! Trước đây, Quang đă cho khắc ván An Sĩ Toàn Thư, sau đấy lại bảo Trung Hoa [Thư Cục] sắp chữ ấn hành, quyên mộ chỉ được bốn vạn cuốn. Trung Hoa Thư Cục in kèm và in riêng tổng cộng được một vạn hai ngàn bộ. Nếu luận về hiệu quả th́ cũng chỉ được một hai phần! Ấy là v́ con người chưa suy xét kĩ, đa số không biết. Quan Quưnh Chi tin tưởng Phật pháp là do bản khắc ván của An Sĩ Toàn Thư phát khởi; Chí Viên giảng thuyết cho ông ta nên từ đấy bèn sanh ḷng chánh tín. Nếu đất Hỗ (Thượng Hải) không có Quưnh Chi th́ sợ rằng cảnh tượng nơi đất Hỗ sẽ kém xa hiện thời! Chúng ta chỉ cần phát khởi cái tâm làm lành cho người khác, c̣n người ta có phụng hành hay không th́ tùy họ. Ấn Quang sanh ḷng tin đối với pháp môn Tịnh Độ là nhờ quyển Hạ của Long Thư Tịnh Độ Văn, đủ biết sách ấy có ích cho con người vừa sâu vừa xa vậy! Quán Thế Âm là chỗ nương tựa cho pháp giới chúng sanh, nếu ai nấy đều biết, sẽ có đông đảo người do vậy mà cầu mong tiêu tai thoát họa cho đến liễu sanh thoát tử. Tiếc cho cơi đời chưa có một bản sưu tập đến nỗi những kẻ chẳng tu tập Phật pháp đều chẳng được biết. Đấy chính là nguyên do v́ sao Quang thỉnh ông Hứa Chỉ Tịnh soạn sách Đại Sĩ Tụng này vậy!

 

43. Thư trả lời cư sĩ Lư Cận Đan (Thư thứ ba)

Hôm trước, sư Minh Đạo đến đây, cho biết đă đưa bộ Đại Tạng Kinh bản đời Tống của ông qua chùa Hiển Ninh, công đức vô lượng. Thầy ấy chẳng lượng sức, tiếp nhận bốn ngôi chùa hoang tàn ở Hàng Châu, đều do các vị cư sĩ đất Hỗ và thầy của ông ta giúp đỡ duy tŕ. Về sau, Tam Thánh Đường ở trên núi [Phổ Đà] bị hỏa hoạn, cháy rụi một nửa, vị thầy ấy không thể lo liệu thêm các nơi khác được. Hiện thời c̣n thiếu tiền công thợ và các hóa đơn phải chi phí hơn ba ngàn đồng, không làm cách nào được. Những khoản tiền dư ra ở chỗ Quang phần lớn đều để giúp cho hai chùa Linh Nham và Thọ Lượng, cũng chẳng thể giúp đỡ thầy ấy! Thầy ấy chỉ mong các vị đă bỏ tiền làm công đức trước kia mỗi người sẽ cho mượn ba trăm đồng, nhưng sợ chưa thể lo liệu mỗi việc vẹn toàn được! Nếu cư sĩ chịu giúp cho sự cấp bách cháy mày này th́ trong năm sau vẫn c̣n tiến hành [sửa chữa cho xong] được. Nếu không, chắc là phải bỏ cuộc giữa đường, há có phải là thất bại khi sắp thành công hay chăng?

 

44. Thư trả lời cư sĩ Lư Cận Đan (Thư thứ tư)

Những lời nói trong nhà Thiền tốt nhất là chỉ nên bỏ mặc, đừng bàn đến! Nếu muốn biết hiểu rơ ư nghĩa nguyên do của những lời lẽ ấy th́ phải ngộ đôi chút. Nếu không, dẫu có đọc sách Thiền th́ cũng như nói chuyện với người ngoại quốc, hoàn toàn chẳng thấu hiểu được cái hay trong ấy. Huống chi ông tuổi đă cao rồi, thời thế lại như thế này, há nên dùng thời gian đáng quư báu nhất để nghiên cứu những câu nói không thể suy luận ấy ư? Thường có những kẻ ở trong nhà Thiền mấy chục năm vẫn chẳng hiểu được những câu nói ấy có ư nghĩa ǵ! Dẫu có dùng ư tưởng để suy đoán đi nữa th́ cũng là nói mớ trong mộng mà thôi! Xin hăy bỏ ư niệm ấy đi!

Hăy nhất tâm niệm Phật, niệm đến mức Phật lẫn tâm đều mất th́ vừa nh́n vào những câu nói ấy sẽ khôn ngăn bật cười. Nếu chẳng được như thế th́ chỉ cần văng sanh vẫn có thể đích thân chứng được lư ấy, huống là hiểu được những lời lẽ ấy ư? Nếu chẳng coi lời Quang là đúng, cứ suốt ngày đọc ngữ lục nhà Thiền th́ Tông cũng chẳng thể thông mà Tịnh cũng chẳng chú trọng. Khi sanh tử xảy đến, chỉ đành theo nghiệp thọ sanh!

 

45. Thư trả lời cư sĩ Lư Cận Đan (Thư thứ năm)

Hôm qua nhận được thư, biết Thánh Định đă văng sanh Tây Phương, lâm chung chánh niệm, chết rồi đảnh đầu vẫn ấm, vẻ mặt càng đẹp, đang lúc nắng gắt mà chẳng hôi thối. Chỉ ngay từ mấy tướng lành ấy đă có thể quyết đoán bà ta được văng sanh. C̣n về phẩm vị văng sanh th́ nói chung là Trung Phẩm. Do Trung Phẩm đều là phẩm vị văng sanh của người trọn vẹn điều lành nơi giới và điều lành thế gian; cũng chẳng cần phải nói cho dễ nghe, cứ khăng khăng bà ta Thượng Phẩm văng sanh. Dẫu cho Hạ Phẩm Hạ Sanh th́ nghiệp đă vượt trỗi chư thiên trong tam giới rồi, huống hồ văng sanh trong bậc Hạ thuộc Trung Phẩm ư? Bốn mươi chín ngày không ngớt tiếng niệm Phật, chẳng những hữu ích cho người đă khuất mà quyến thuộc hiện tại cũng được lợi ích lớn lao!

Linh Nham theo lệ không niệm kinh, bái sám, phóng Diệm Khẩu, làm pháp sự hệ niệm, làm đàn Thủy Lục, truyền pháp, thâu nhận đồ đệ, giảng kinh, truyền giới, làm pháp hội. Công khóa hằng ngày giống như Phổ Thông Phật Thất. Chỉ những ai có tín tâm, chẳng chú trọng màu mè, hoa dạng, xin mở Phật thất th́ liền chấp nhận. Nếu chèo kéo thân hữu rộng răi và dẫn nữ quyến trẻ tuổi đến trước hôm mở thất và xong thất mới đi th́ cũng không chấp nhận.

Năm Dân Quốc 17 (1928), Trương Minh Kỳ (là đệ tử quy y) mở Phật thất bốn mươi chín ngày, không một ai bỏ đi. Năm Dân Quốc 18 (1929) cũng mở Phật thất hai mươi mốt lần, cũng không một ai bỏ đi. Năm Dân Quốc 19 (1930), có hai mươi mấy lần mở Phật thất cũng không quá năm sáu gia đ́nh đến dự, nhưng cũng chỉ ở một hai ngày hoặc đôi ba ngày mà thôi. Năm Dân Quốc 20 (1931) do người đông pḥng hẹp, liền cho xây cất lớn, Phật thất càng đông hơn. Nay gởi cho ông một tờ sao bài bi kư, ông đọc sẽ biết.

Nếu ông muốn tạo lợi ích giúp cho Thánh Định, do bà ta lúc sống thường ăn chay, khi làm ma chay chắc ông cũng chẳng đến nỗi dùng rượu thịt. Trong khi tang ma và cúng giỗ sau này, xin ông hăy bảo lệnh lang đừng bắt chước thói tục. Trong khóa tụng sáng tối, lúc hồi hướng Quang sẽ đọc pháp danh của bà ta để hồi hướng trong hai mươi mốt ngày cho trọn hết t́nh thầy tṛ.

 

46. Thư trả lời cư sĩ Lư Cận Đan (Thư thứ sáu)

Ông nói trong khi làm việc cũng không quên niệm Phật, ấy là tướng cái tâm niệm Phật thuần thục, sao lại bảo là hôn trầm, thuộc về vô kư (không thiện, không ác)? Nhưng cũng chưa phải là “vô niệm mà niệm”, mới chỉ có hơi hướng của “vô niệm mà niệm” đó thôi! Nếu tưởng đấy chính là “vô niệm mà niệm” th́ sẽ giống như dùi gỗ thấy khói bốc lên liền bảo là đă được lửa, thôi không dùi nữa, sẽ không có cách nào được lửa cả!

Ông công phu khá tốt, đạt đến cảnh giới ấy cũng chẳng phải là dễ dàng, nhưng cần phải chuyên tinh dụng công, đừng học theo thói ham cao chuộng xa, thấy lạ nghĩ khác của con người hiện thời th́ tương lai sẽ đạt được lợi ích, sẽ tự có những điều chẳng thể nghĩ bàn. Nhưng đấy là chuyện thuộc về Hạnh môn, chứ trong Tín Nguyện môn càng phải nên dốc sức ngơ hầu quyết định đạt được lợi ích sâu xa do niệm Phật. Nếu bắt chước các tông khác, chuyên chú trọng vào công phu, bỏ mặc tín nguyện chẳng nhắc tới th́ sẽ trở thành pháp môn cậy vào tự lực, mất mát lớn lắm!

“Tam luân thể không” chính là chẳng cậy công, chẳng nghĩ đó là đức. Nếu như lời ông nói th́ sẽ thành hỗn độn, vô tri. Thế nào gọi là “Thể không”? Nói “Thể không” nghĩa là rành rẽ phân minh, phân biệt rơ [đối tượng nhận lănh] đáng nên bố thí hay không nên bố thí, nhưng chẳng thấy ḿnh có công đức đối với người ta, cũng chẳng thấy người ta nhận lănh ân đức của ḿnh. Kinh Kim Cang dạy: “Chẳng chấp vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp để bố thí” chính là nhằm diễn tả ư này vậy! Nếu chẳng phân biệt kẻ tốt lẫn người xấu, cứ tận lực thí cho người xấu th́ sẽ khiến cho kẻ ấy tạo nghiệp, sẽ trở thành tội lỗi, chẳng gọi là công đức được!

 

47. Thư trả lời cư sĩ Lư Cận Đan (Thư thứ bảy)

Phật pháp rộng lớn vô lượng vô biên. Chúng ta mang tư cách kẻ phàm phu sát đất, muốn ngay trong đời này giải quyết xong xuôi chuyện khó thể giải quyết trong trăm ngàn vạn ức kiếp th́ phải trù tính sức lực của chính ḿnh nhỏ hay lớn để tu tập, đừng lầm lạc ngỡ ḿnh là thông gia! Đối với pháp này c̣n chưa thật sự hiểu chắc mà lại đi nghiên cứu dùi mài trong những tông khác đến nỗi ngược ngạo coi chuyện dễ được lợi ích nhất này như chuyện thừa thăi, vặt vănh th́ trong trăm ngàn vạn kiếp vẫn y như cũ, chẳng thể liễu thoát được!

Phật pháp giống như hư không, trọn không có Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới! Nói Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới là ước theo địa vị chính ḿnh đang đứng để nói. Chính ḿnh đă chẳng thể khế hợp với thái hư th́ ắt phải luận theo địa vị nơi ḿnh đang đứng; chẳng ngại ǵ ở trong nơi không có Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới mà ước theo Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, trên, dưới do chính ḿnh đă định. Thiền Tông, Tướng Tông, Mật Tông không một tông nào chẳng hay, nhưng là người niên kỷ đă ngoài năm mươi, có được pháp cậy vào Phật lực để phàm phu dầy dẫy triền phược có thể liễu sanh tử mà lại dốc sức nơi pháp môn cậy vào tự lực th́ tuy có thể giúp cho sự thấy hiểu Tịnh nghiệp một cách viên thông, nhưng tôi thật sợ ông tâm lực chẳng đủ, sẽ lấy pháp đó làm chánh, coi pháp này là lệ thuộc không quan trọng, chắc sẽ khó đắc lực!

Chẳng phải là Quang cự tuyệt không cho người ta nghiên cứu những tông khác; chỉ v́ có những kẻ chẳng thông cảm nên mới giáng cho Quang những lời chê bai ngặt nghèo, bảo Quang cấm ngặt người khác không được nghiên cứu những tông khác! [Bị gieo tiếng ác như vậy] th́ Quang sẽ ngấm ngầm được phước, c̣n đại chúng cho Quang là kẻ oan gia nơi cửa Phật. Xin ông hăy tự cân nhắc để quyết định!

Thêm nữa, sau khi viện Mồ Côi ở Nam Kinh được thành lập, ông bỏ ra ba trăm đồng, nhưng trong năm ấy viện vẫn chưa hoạt động, đến năm sau mới hoạt động, cho nên vẫn chưa nhận tiền thêm. Nghe nói năm trước ông vẫn bỏ ra ba trăm đồng, năm ngoái lại gởi thư nói sẽ quyên tặng riêng, cho nên năm nay cũng chẳng dám gởi thư tới nữa. Trước kia, ông Dư Trĩ Liên có cho biết tính xin ông quyên tặng suốt năm, hoặc mấy chục đồng, hoặc một trăm đồng, tùy ư. Từ năm ngoái tới nay, học sinh chùa Pháp Vân ngày càng chăm chỉ tiến bộ. Có Vương Kiến B́nh là một thương nhân tài sản chưa hơn ba vạn mấy đồng, nhưng nghe nói tới viện Mồ Côi chùa Pháp Vân liền tới thăm, hết sức vui thích, bèn may quần áo, mền đắp cho các học sinh. Tất cả những em học sinh nào đủ tŕnh độ có thể ra đời mưu sinh được, ông ta liền đỡ đầu giới thiệu tới làm việc trong các tiệm buôn [bởi lẽ] những môn sinh của ông ra mở tiệm có đến hai ba chục người cũng như ông ta có các bạn bè khác [trong nghề kinh doanh]. V́ thế, ông ta nhận lănh trách nhiệm nặng nề ấy. Từ năm ngoái cho đến mùa Hạ năm nay đă giới thiệu bốn mươi tám em. Thế mà vẫn có người cần [xin thêm], do có những em tŕnh độ quá yếu, ông ta không bằng ḷng cho đi. V́ thế, số học sinh tăng lên đến một trăm sáu mươi em.

Tất cả những pḥng ốc cũ chẳng đủ dùng, lại phải cất thêm mười mấy gian nữa để làm xưởng thợ. Vương Kiến B́nh c̣n bảo thợ làm khuy trong tiệm ông ta đến viện Mồ Côi dạy nghề, không lấy tiền học. Học sinh học được nghề sẽ liền dựa theo số lượng hàng làm ra để trả tiền công. Đường lối này chẳng cần tiền vốn, khá hữu ích. Hơn nữa, những món đồ do Pháp Vân Tự làm ra ai nấy đều tranh nhau mua, bởi chúng chắc chắn, sử dụng được. Tuy vậy, trong mấy năm gần đây, dẫu có thêm những người đảm nhận quyên tặng, nhưng do những người đă quyên tặng trước kia hoặc chuyển đi phương xa, hoặc có người đă qua đời, kinh phí trong viện tốn kém hơn trước, cảm thấy khá tốn sức.

 

48. Thư trả lời cư sĩ Lư Cận Đan (Thư thứ tám)

Pháp môn vào buổi cuối Thu, sai ngoa quá nhiều, nhưng chỉ nên sanh ḷng chánh tín, tŕ các tịnh giới th́ là đă đạt được căn bản, c̣n những thứ cành nhánh khác hăy để thong thả. Nếu một mực noi theo lối cổ th́ người đời nay đă không thông hiểu sâu xa những cấm chế của đức Phật, mà mỗi một việc làm trong hiện thời đều chẳng thể theo đúng như lời Phật dạy, sẽ trở thành ngôn luận cự tuyệt người khác bước vào Phật pháp. Nếu mỗi một việc đều phải theo đúng như cấm chế của đức Phật th́ tăng nhân hiện thời đều là kẻ bạch y học đạo, chưa chắc mỗi một điều đều có thể hợp pháp, hợp luật, huống là hai chúng tại gia ư?

Hơn nữa, cấm chế nhà Phật cũng có lệ tùy theo nơi chốn, tùy theo thế tục để lập. Ngay như tăng y ngày nay cũng đâu phải là tăng y đă được chế định tại nước Phật; nhưng do được lưu hành đă lâu bèn coi là đúng pháp. Vả nữa, Phật quy định Tăng luôn để đầu trần, chân đất. Để đầu trần th́ mùa Hạ tuân theo được, chứ mùa Đông mà tuân theo sẽ chẳng được mấy ai! Đi chân đất càng khó thấy mấy ai tuân theo! Do vậy, chớ nên cố chấp những điều cành nhánh để luận, hăy nên nương theo cội nguồn để tu th́ sẽ có ích. Nếu mỗi một điều đều chuẩn theo nguyên tắc như trong thời Phật thuở trước th́ những kinh hiện thời đều chẳng nên thọ tŕ, mà phải thọ tŕ những kinh văn tiếng Phạn được viết trên lá bối th́ mới là chẳng trái nghịch Phật pháp vậy!

 

49. Thư trả lời cư sĩ Lư Cận Đan (Thư thứ chín)

Đại Tạng Kinh bản đời Tống ở Linh Nham là do Quang thỉnh. C̣n Đại Tạng Kinh ở chùa Phật Nhật là do một đệ tử ở Thiên Tân thỉnh cho Linh Nham, nhưng v́ Linh Nham đă có, nên giao về chùa Phật Nhật. Một đệ tử ở Phước Kiến cậy Quang thỉnh cho ngôi chùa trong làng ông ta một bộ Đại Tạng Kinh. Tới khi thỉnh xong, đă giao tiền (đă ước định sẵn phải thanh toán trọn vẹn trước) ông ta hỏi một người bạn th́ biết [chùa ấy] đă thỉnh rồi nên bộ Đại Tạng Kinh do Quang thỉnh giùm cho ông ta được giao về chùa Long Cư. (Trước khi thỉnh kinh cho chùa Phật Nhật), Quang đă tự bỏ tiền thỉnh hai bộ, bộ ở Pháp Vân Tự do ông Lư Kỳ Khanh thỉnh, c̣n [bộ để] ở Phật Quang Xă thuộc Giang Loan, tỉnh An Huy cũng có người thỉnh rồi. Nếu ông bằng ḷng gởi bộ Đại Tạng Kinh của ông đi nơi xa th́ xin đợi hơn một tháng nữa để Quang hỏi thăm một hai chỗ. Nếu họ đă có th́ chẳng gởi sang. Nếu không, sẽ gởi đi.

Hôm trước thầy Đương Gia chùa Linh Nham nói chùa hiện có hơn năm mươi vị đang trụ, người đến niệm Phật có bốn mươi vị, những người khác đều có công việc. Phật Thất chỉ thỉnh bốn mươi người hoặc ba mươi bốn người đều được cả. Thêm nữa, thầy Minh Đạo lại tiếp nhận chùa Hiển Ninh, phong cảnh rất đẹp (cách chùa Phật Nhật bảy tám dặm), ḥa thượng Chân Đạt tính dưỡng lăo tại đó, chắc sẽ gởi kinh sang nơi ấy sẽ đỡ tốn công. Nếu gởi sang nơi đó th́ xin đợi tới khi thầy Minh Đạo trở về; sẽ bảo thầy ấy thỉnh bộ kinh đă được gởi tới đây đưa sang chùa Thái B́nh. Sau này, nếu tái bản sẽ bảo Ấn Kinh Hội đem bản kinh của ông cúng dường tặng cho chùa Thái B́nh.

Kinh ở hai chỗ Phật Nhật và Long Cư đều đưa sang chùa Thái B́nh. Long Cư là đạo tràng cổ, Tăng chúng sống ở đó không kham được bèn đem bán cho trường học. Hai ba vị tín sĩ ở địa phương chẳng nỡ, ép một vị Tăng ở Giang Tây tiếp nhận. Vị này đối với Phật pháp chưa hiểu rơ ràng, do vậy, thỉnh vị Tăng từng sống tại chùa Báo Quốc trước đây là Liễu Nhiên về cùng ở đó. V́ vậy, Quang đem bộ kinh do vị sư ở đất Mân đă thỉnh đưa sang đó. Trước kia, thầy Liễu Nhiên chú trọng tu Thiền, mười năm gần đây lại chuyên đề xướng Tịnh Độ.

 

50. Thư trả lời cư sĩ Lư Tông Bổn

Ông học Phật pháp sao lại học thói khoa trương rỗng tuếch, hời hợt của bọn thương nhân trong thế gian? Ông nói gởi một hộp bánh là được rồi, há nên nói thật bùi tai như thế? Quư trọng như vậy mà lại bảo Quang nếu cần nữa hăy viết thư xin gởi thêm, đúng là ông coi Quang như đứa trẻ nít. Ông chẳng hiểu việc đời quá mức!

Từ nay phải ngăn dè thói xấu hèn khoa trương rỗng tuếch hời hợt kiểu đó th́ niệm Phật sẽ được lợi ích thật sự. Nếu không, dẫu có tu tŕ cũng đều bị thói khoa trương rỗng tuếch hời hợt chôn vùi hết sạch. Rốt cuộc chẳng giúp được ǵ mà vẫn chẳng biết là tự chuốc lấy họa, ngược ngạo đổ thừa Phật chẳng từ bi, Phật pháp không linh! Chẳng biết là do chính ḿnh khoe khoang mà cảm thành, buồn thay!

Quang già rồi, mục lực chẳng đủ nên cự tuyệt hết thảy thư từ. Nay xem thư ông, khôn ngăn đau ḷng. Ông đọc thư tôi, nếu sửa được lỗi trước th́ mai sau nhất định được văng sanh. Nếu không, cứ theo thói hư giả th́ làm sao đạt được lợi ích thật sự? Nghe theo hay không tùy ông, tôi chỉ trọn hết tấm ḷng tôi mà thôi!

Ông nói đến chứng Miêu Ôn, không biết là bệnh ǵ, cũng chẳng biết thuốc nào trị được! Hăy nên bảo gia đ́nh người ấy chí thành niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, kiêng giết, ăn chay th́ sẽ có hiệu quả. Từ nay về sau chớ nên gởi thư đến nữa, cũng đừng giới thiệu người khác quy y. Nếu gởi thư đến quyết định chẳng trả lời, do mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ. Những điều đă nói trong Một Lá Thư Trả Lời Khắp bất luận hạng người nào cũng đều có thể nương theo đó để hành và truyền cho con cháu. Nếu có thể hành theo đó th́ gia đạo sẽ được hưng thịnh, con cháu sẽ hiền thiện. Nếu coi đó là những lời bàn hủ bại viễn vông của một ông Tăng già nua mà muốn chấn chỉnh thanh danh gia đ́nh sẽ như phá băng để t́m lửa, quyết chẳng có hy vọng ǵ cả!

51. Thư gởi ḥa thượng Diệu Chân

Trưa hôm qua, Vương Ấu Nông tới nói: Hôm trước ông ta qua nhà ông Lư Bách Nông bảo: “Linh Nham muốn dựng Niệm Phật Đường”. Bách Nông nói: “Đang gặp Tuế Sát chớ nên kiến tạo!” Nhân thời cuộc, Quang nói: “May mà chưa khởi công xây dựng đại điện chùa Pháp Vân, hăy đợi đến khi thời cuộc b́nh yên”. Ấu Nông nói: “Linh Nham chớ nên xây cất. Dẫu có nên xây đi nữa th́ trong thời cuộc thế này cũng nên để thong thả!”

Nay gỗ dùng để xây dựng đă đưa đến, hăy nên chất quanh nền nhà phía sau Niệm Phật Đường. Cần phải dùng đá xếp cao hai thước [để làm bệ lót] ngơ hầu gỗ chẳng bị ẩm thấp mục nát. Hai mặt gỗ đều phải để cho nắng dọi vào, trên mặt mỗi phiến gỗ đừng phủ cỏ, phủ cỏ sẽ vĩnh viễn ngăn che ánh mặt trời. Hăy mua mấy tấm liếp tranh lớn che phía trên. Lời của Bách Nông và Địch Dân nói tuy đều có lư, nhưng do ảnh hưởng bởi thời cuộc, cố nhiên nên nghe theo lời Ấu Nông. Đợi tới mùa Thu năm sau mới khởi công so ra sẽ ổn thỏa, tốt lành hơn. Xin hăy sáng suốt suy xét th́ may lắm thay!

 

52. Thư trả lời cư sĩ Thôi Ích Vinh (Thư thứ nhất)

Nhận được thư, biết tâm ông mộ đạo khá chân thật, thiết tha, ư muốn quy y, nhưng Quang là một ông Tăng tầm thường chỉ biết cơm cháo, quả thật chẳng đáng làm thầy một ai! Nhưng nếu có thể chuyên chí tu tŕ, y theo những lời Quang đă nói để hành th́ cố nhiên chẳng có chuyện ǵ ông không được măn nguyện. Ví như kẻ không chân ngồi ở ngă ba đường, có người hỏi nẻo về nhà liền chỉ thẳng nên đi theo đường nào. Quyết đừng v́ kẻ ấy không thể đi được mà chẳng chịu nghe lời để rồi tự ḿnh lạc mất lối về! Nay đặt pháp danh cho ông là Tông Tịnh. Tông là chủ, Tịnh là hiện thời tu tập pháp môn Tịnh Độ, trong tương lai sẽ văng sanh Cực Lạc Tịnh Độ.

Pháp môn Tịnh Độ là pháp rộng lớn hết sức giản tiện, hết sức sâu xa trong Phật pháp. Nếu nương theo các pháp khác để tu tŕ th́ ai có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh ngay trong đời này? Nếu y theo pháp môn Tịnh Độ, chỉ cần có đủ ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, không một ai chẳng được văng sanh. Đấy chính là nghĩa lư lớn lao phải nên chuyên chú nơi pháp môn Tịnh Độ vậy!

Hơn nữa, phàm muốn học Phật th́ tâm địa phải thanh tịnh. Phàm hết thảy những tâm bất thiện đều là cấu nhiễm, ắt phải dọn trừ sạch sành sanh. Phàm hết thảy thiện tâm ắt phải mở rộng ra, tức là: Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, ăn chay, niệm Phật, tự hành như thế mà dạy người khác cũng như thế. Đối với người trong cơi đời c̣n nên khuyên bảo rộng khắp, huống là cha mẹ, vợ con v.v… há chẳng làm cho họ được thấm gội Phật ân, vẫn luân hồi y như cũ, lỗi đạo làm con, làm cha, làm chồng lắm thay!

Thế đạo hiện thời đă loạn đến cùng cực, nguồn cội đều do con cái từ thuở bé chẳng được cha mẹ khéo dạy dỗ về nhân quả báo ứng, cũng như “lợi người chính là lợi ḿnh, hại người chính là hại ḿnh”. Hăy nên nói tường tận lợi - hại với vợ để cô ta sẽ tận tụy giáo huấn con cái, đừng mặc cho chúng quen thói khiến tật xấu trở thành tánh đến nỗi gây hại cho gia đ́nh, cho đất nước, cho thiên hạ vậy!

 

53. Thư trả lời cư sĩ Thôi Ích Vinh (Thư thứ hai)

Trước kia đă nhận được thư ông hỏi về chuyện quyên mộ đúc chuông, do bận bịu nên không thể trả lời ngay được. Tôi chuyển thư ông cho Mai Tôn, ông ta cực lực tán thành. Lại gởi thư bàn định về kích thước của cái chuông đồng tính đúc.

 

Do thầy Diệu Liên sang Xích Sơn nên phải chậm mất hai mươi mấy ngày. Mai Tôn gởi thư cho tôi biết: “Thoạt đầu do thầy Diệu Liên đi vắng, nay phải bàn bạc cho thỏa đáng sử dụng loại đồng nào và kích thước của chuông th́ mới có thể gởi thư xin thầy soạn sớ”. Hôm qua nhận được thư ông, biết ông c̣n chưa biết rơ chuyện này, ắt là phải nói rơ chuông nặng bao nhiêu cân và dùng loại đồng nào. Loại đồng ấy mỗi cân phải tốn bao nhiêu tiền th́ mới làm cho người khác tin tưởng được.

Phàm đúc chuông, nên dùng loại hưởng đồng th́ âm thanh mới hay. Hưởng đồng rất đắt, nếu chẳng thể sử dụng hoàn toàn th́ cũng nên dùng một nửa. Uớc chừng tính gộp chung tiền công và vật liệu th́ mỗi cân phải tốn một đồng trở lên. Nếu ông thấy khó khăn quá th́ hăy băi bỏ ư định này. Nếu như dù tốn đến hai ba ngàn đồng cũng vẫn phải đúc th́ đợi khi Nam Kinh gởi thư đến sẽ viết sớ gởi cho ông.

Cháu ông chẳng biết nỗ lực làm người, ấy là do chẳng đư̖