ẤN QUANG PHÁP SƯ VĂN SAO TAM BIÊN

QUYỂN 3

PHẬT LỊCH 2561 - 2018

 

 

Chuyển ngữ: Bửu Quang tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Minh Tiến & Huệ Trang

(Theo bản in của Cổ Tấn Báo Ân Niệm Phật Đường, năm 2002)

 

NHỮNG LỜI TÂM HUYẾT

 

Theo như sử liệu mười ba vị Tổ Sư Liên Tông Tịnh Độ, Tổ Sư Ấn Quang là Tổ Sư Tịnh Độ thứ mười ba. Tổ Sư Ấn Quang, một đời tu pháp môn Tịnh Độ và hoằng dương pháp môn Tịnh Độ. Pháp môn Tịnh Độ dành cho ba căn: thượng căn, trung căn và hạ căn.

Tổ Sư Ấn Quang dạy rằng: “Pháp môn quảng đại, phổ bị tam căn, nhân tu cửu giới đồng quy, thập phương cộng tán. Phật nguyện hồng thâm, bất di nhất vật, cố đắc thiên kinh tịnh xiển, vạn luận quân tuyên”.

Nghĩa là: “Pháp môn rộng lớn, độ khắp ba căn, do vậy chín giới cùng hướng về, mười phương cùng khen ngợi. Phật nguyện rộng sâu, chẳng sót một ai, nên được ngàn kinh đều xiển dương, muôn luận cùng tuyên nói”. Do vậy, chúng sanh trong chín giới hễ ĺa pháp môn này th́ trên chẳng thể viên thành Phật đạo, mười phương chư Phật bỏ pháp môn này th́ dưới chẳng thể phổ độ quần sanh.

Hơn nữa, Tổ Sư Ấn Quang một đời tận lực đề sướng cội gốc để lập thân và giáo dục trong gia đ́nh là “dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa, đôn đốc luân thường, tin sâu nhân quả, luân hồi, báo ứng, dè dặt kiêng sợ nghiệp báo. Kiêng giết, ăn chay, phóng sanh, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc”. “Hễ nói được phải làm được, hễ làm không được bèn chẳng chịu nói. Dùng lời nói để dạy sẽ bị tranh căi, dùng thân để dạy, người ta sẽ thuận theo. Như vậy trong hiện đời sẽ dự vào bậc Hiền Thánh, lúc lâm chung quyết định văng sanh cơi Cực Lạc. Như thế th́ sẽ có thể gọi là bậc đại trượng phu, đệ tử thật sự của Đức Phật”.

Theo như Hoà Thượng Tịnh Không kể lại, khi Ḥa Thượng đến Đài Trung học pháp với Lăo Cư Sĩ Lư Bỉnh Nam. Ngài Lư Bỉnh Nam nói, khi tôi dạy ông học 5 năm xong, tôi sẽ giới thiệu cho ông một vị Thầy khác. Năm năm sau, Ngài Lư Bỉnh Nam đưa cho Hoà Thượng Tịnh Không bộ sách Ấn Quang Văn Sao Tam Biên. Ngài Lư Bỉnh Nam nói, Ấn Tổ là Thầy Tôi đă văng sanh Tây Phương Cực Lạc, nhưng những lời dạy trong Văn Sao nếu ai có ḷng tin chân thành và thực hành theo th́ hữu ích thọ dụng không cùng tận.

Chúng tôi xin trân trọng cung kính giới thiệu đến quư vị pháp lữ gần xa bộ sách. ẤN QUANG PHÁP SƯ VĂN SAO TAM BIÊN (gồm hai cuốn 4 quyển). Đây là bộ sách, nội dung có 714 lá thư của Tổ Ấn Quang trả lời cho những người gởi thư đến. Trong 714 lá thư, lời lẽ chân thật, rơ ràng, thâm sâu, rất dễ áp dụng và rất có hữu ích cho các vị đồng tu Tịnh Độ. Hơn nữa, trong bộ sách này, Ngài viết lời tựa cho những kinh luận và trả lời những câu hỏi cho các vị xuất gia, tại gia. Và viết những bài kư về sự sanh Tây Phương của các vị Cư Sĩ rất thâm sâu. Bộ Ấn Quang Văn Sao Tam Biên đúng là của báu truyền đời của mọi người, văn tự tuy vụng về chất phác, nhưng chẳng có một chữ nào vô dụng.

Theo chúng tôi thiết nghĩ. Nếu hành giả tu pháp môn Tịnh Độ, cũng như những gia đ́nh Phật tử muốn hiện đời này làm đệ tử chân thật của Phật, Bồ Tát và Thánh Hiền, sau khi bỏ báo thân này văng sanh Tây Phương Cực Lạc, dự vào Liên Tŕ Hải Hội. Nên lấy bộ sách Văn Sao này làm tư lương hành trang, để tấn tu đạo nghiệp th́ không uổng phí đời người. Quư vị đọc qua bộ sách này với tâm hời hợt giống như đọc tiểu thuyết, th́ không có hữu ích cho lắm. Bằng đọc với tâm chân thành, cung kính, xem đây là pháp bảo vô giá, đọc đi đọc lại nhiều lần và đọc sách này giống như người con hiếu thảo đọc “Di Chúc” trước linh cửu của Cha Mẹ ḿnh mới mất, th́ lợi ích vô cùng. Nếu không đọc qua bộ sách Ấn Quang Văn Sao này, th́ thiệt là thiếu sót và hành giả tu pháp môn Tịnh Độ dễ bị lầm lạc.

Chúng tôi bằng tất cả tấm ḷng cung kính, dâng lên cúng dường bộ sách Văn Sao Pháp Bảo quư giá, một đời không thể thiếu đến với các vị Liên Hữu gần xa. Kính mong các vị dành chút thời gian quư báu đọc và suy gẫm áp dụng lời của Tổ Sư Ấn Quang, chắc chắn cuộc đời của quư vị sẽ có sự ngầm ngầm thay đổi, một đời thọ dụng không hết. V́ trong bộ sách Ấn Quang Văn Sao này, là Tổ Sư Ấn Quang lấy những lời của Phật, Bồ Tát và các vị Tổ Sư đi trước, áp dụng trong đời sống tu hành của ḿnh, tự thân đă có sở chứng. Cho nên những người được Ấn Tổ trả lời thư và những người về sau đọc qua thư và áp dụng những lời của Tổ Sư Ấn Quang dạy, ai ai cũng có lợi ích nơi bản thân và gia đ́nh vô biên cùng tận.

Tổ Sư Ấn Quang dạy rằng: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật, tâm này làm chúng sanh, tâm này là chúng sanh và tâm này tạo được nghiệp th́ tâm này chuyển được nghiệp, tâm chẳng thể chuyển được nghiệp, th́ nghiệp sẽ trói buộc tâm. Đọc kĩ bộ sách Văn Sao th́ tất cả những khúc mắc đều được tháo gỡ. Chỉ cần tu theo đúng những ǵ trong Văn Sao đă nói th́ cũng là người trong Liên Tŕ Hải Hội”.

Quư vị nên khuyên người nhà đọc và nếu cha, mẹ, ông, bà không đọc được, quư vị nên đọc cho họ nghe. Nếu không có thời gian đọc th́ thỉnh máy MP3 để họ nghe. Chúng tôi có cho đọc sách này ra MP3. C̣n ai đọc được th́ nên đọc. Khi quư vị đọc, nếu thấy đoạn nào thích thú tâm đắc nên chép ra cuốn tập, đọc đi đọc lại th́ sẽ khởi được tác dụng trong tâm lớn lao vô cùng. Mỗi ngày chúng ta đọc 5 hoặc 10 hoặc 20 lá thư của Ấn Tổ. Đọc đến 500, 600 lá thư th́ chúng ta cảm thấy có tác dụng khởi lên trong tâm. Đây là bộ sánh gia bảo gối đầu giường, mỗi đêm trước khi đi ngủ chúng ta đọc. Đọc một thời gian th́ tư tưởng của ḿnh có sự chuyển biến thây đổi.

Cuối cùng chúng tôi có những lời tâm huyết này là để người người, nhà nhà, đều đọc được lời của Tổ Sư Ấn Quang, rồi áp dụng trong cuộc sống sẽ có lợi ích thật sự. Quư vị nên giới thiệu cho bạn bè gần xa. Đây là công đức pháp thí thật lớn lao. Cho người ta một số tiền chỉ giúp cho họ cơm no áo ấm một thời gian ngắn ngủi cũng tốt, nhưng không bằng giúp cho họ gặp được pháp bảo Văn Sao của Ấn Tổ, th́ cuộc đời của họ sẽ được an vui, hết khổ đau, biết lánh dữ làm lành, ăn chay, phát tâm niệm Phật cầu văng sanh Tây Phương Cực Lạc, không c̣n sanh tử luân hồi. Công đức này lớn lao vô cùng.

 

Trích lời của Tổ Ấn Quang Khuyên người đọc sách:

“Đọc giả cần phải chú trọng cung kính, kiền thành, khiết tịnh, lắng ḷng suy nghĩ lănh hội th́ vô biên lợi ích sẽ đích thân đạt được. Nếu như khinh nhờn, sẽ mắc tội chẳng cạn. Nếu chẳng muốn xem, xin hăy tặng cho người khác, đừng cất trên gác cao. Lại mong đọc giả xem xong, sẽ lập đủ mọi cách để xoay vần lưu truyền, ngơ hầu hết thảy đồng bào trong hiện tại lẫn vị lại đều cùng thoát khỏi đường mê, đều cùng lên bờ giác”.

Nếu quư vị muốn thỉnh thêm sách Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên, hoặc máy đọc Văn Sao MP3 để cúng dường cho quư thầy hoặc tặng cho bạn bè. Th́ phía sau sách có số điện thoại, quư vị gọi đến, chúng tôi xin cúng dường miễn phí.

(Trân Trọng Cung Kính Pháp Bảo).

 

TỔ SƯ ẤN QUANG DẠY

PHẢI CHÚ TRỌNG CHÍ THÀNH CUNG KÍNH

 

Pháp thế gian hay xuất thế gian đều lấy ḷng Thành làm gốc. Hễ có ḷng thành th́ cảm được Thánh ứng; không có ḷng Thành th́ do không cảm, Thánh sẽ không ứng. Ví như mặt trăng rạng rỡ giữa bầu trời, hiện bóng trong muôn sông. Nếu nước đục ngầu, xao động, bóng trăng khó thể hiển hiện được. Do nước gây nên như thế, đâu phải lỗi của trăng! V́ thế nói: “ Muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp, ắt phải cầu từ nơi cung kính. Có một phần cung kính, tiêu được một phần tội nghiệp, tăng một phần phước huệ. Có mười phần cung kính, tiêu mười phần tội nghiệp, tăng mười phần phước huệ ”. Nếu không cung kính th́ chỉ kết được cái duyên xa, khó được lợi ích thật sự. Nếu c̣n khinh nhờn sẽ mắc tội vô lượng.

 

TỔ SƯ ẤN QUANG DẠY

MƯỜI ĐIỀU CUNG KÍNH KHI ĐỌC SÁCH

 

1) Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết phải nên phát tâm cung kính như gặp được khách quư, như đối trước bậc hiền triết, ngơ hầu luôn luôn ngộ nhập được dụng ư sâu xa của tác giả.

2) Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết hăy nên phát tâm chí thành, thốt lời khẩn thiết, khen ngợi tác giả vận tâm cứu thế, vui mừng ḿnh đă hữu duyên được đọc.

3) Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết hăy nên rửa tay, súc miệng, đặt sách lên bàn sạch trong gian pḥng sạch sẽ, rồi mới mở ra xem.

4) Lúc sắp mở sách ra đọc tụng, trước hết chỉnh đốn quần áo, ngồi ngay ngắn một lát, sám hối hết thảy những ác niệm, ác ngữ, ác hạnh như: ganh ghét, khinh mạn, kiêu cuồng.v.v...

5) Lúc đọc, hễ ngộ nhập được một câu một chữ, đều nên khởi ḷng hoan hỷ lớn lao và tuỳ thời ghi chép những điều tâm đắc, đừng bỏ mặt cho quên mất!

6) Lúc đọc, hăy nên nghĩ rộng răi về ư nghĩa, thoạt đầu dùng sách để nhiếp tâm, tiếp đó dùng tâm để chuyển nghiệp, cuối cùng tiến tới tâm niệm không ngừng nghỉ thực hành, khuyên dạy rộng răi để chuyển thế giới Ngũ Trược thành thế giới Cực Lạc.

7) Lúc tâm khởi vọng niệm, hăy nên cung kính đặt sách xuống, tạm ngừng đọc.

8) Đọc xong hoan hỷ, theo đúng pháp vâng làm, hăy nên thường khởi ḷng hâm mộ tâm hoằng pháp, tận lực bắt chước làm theo.

9) Đọc hết bộ sách xong, hăy nên nghĩ kĩ rộng răi xu hướng trong xă hội hiện tại để nhiếp hoá rộng lớn, ngơ hầu điều lành được lưu truyền.

10) Đọc hết bộ sách xong, thấy được những chỗ có thể tuyên thuyết phù hợp căn cơ, liền v́ người không biết chữ mà phương tiện diễn nói rộng răi để tạo lợi ích lớn.

 

 

 

KỆ TU TR̀

 

Giữ vẹn luân thường

Trọn hết bổn phận

Ngăn dứt ḷng tà

Giữ ǵn ḷng thành.

Đừng làm các ác

Vâng làm các thiện

Kiêng giết cứu mạng

Ăn chay niệm Phật

Hồi hướng văng sanh

Thế giới Cực Lạc.

Dùng để tự hành

Lại c̣n dạy người

Ấy gọi Phật tử

Hành giả hăy nên

Làm như thế ấy

Công đức vô lượng.

 

 

“Niệm Phật mới ḥng tiêu túc nghiệp,

Kiệt thành sẽ tự chuyển phàm tâm”.

 

“Đạo nghiệp chưa thành, há dám để tâm này tán loạn,

Kỳ chết sắp đến, tận lực tạ từ mọi thù tạc”.

 

“Hăy nên phát nguyện, nguyện văng sanh

Núi khe nẽo khách, từ nay thôi quyến luyến.

Tự ḿnh chẳng về, về liền được

Gió trăng quê cũ, toàn thể hăy tự vâng”.

 

“Đóng cửa chẳng tiếp ai, xót nghĩ thân này sắp chết,

Chuyên tâm tu tịnh nghiệp, thẹn thay đạo nghiệp chưa thành”.

 

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Quyển 3

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Minh Tiến & Huệ Trang

 

1. Một lá thư gởi khắp

(Lời lẽ tuy vụng về chất phác, nhưng nghĩa vốn lấy từ kinh Phật. Nếu chịu hành theo, lợi lạc vô cùng. Năm Dân Quốc 21 – 1932).

Pháp môn Tịnh Độ, độ khắp ba căn, lợi - độn trọn thâu, chính là đại pháp để đức Như Lai phổ độ hết thảy thượng thánh hạ phàm khiến cho họ liễu sanh tử ngay trong một đời này. Đối với pháp này chẳng tin, chẳng tu, chẳng đáng buồn ư? Pháp môn này lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm tông. Tín là tin thế giới chúng ta đây là khổ, tin thế giới Cực Lạc là vui. Tin ta là nghiệp lực phàm phu, quyết định chẳng thể cậy vào Tự Lực để đoạn Hoặc chứng Chân ḥng liễu sanh thoát tử. Tin A Di Đà Phật có đại thệ nguyện; nếu có chúng sanh niệm danh hiệu Phật, cầu sanh cơi Phật, người ấy lúc mạng chung, Phật ắt rủ ḷng từ tiếp dẫn sanh về Tây Phương. Nguyện là nguyện mau thoát ĺa thế giới khổ sở này, nguyện mau văng sanh thế giới Cực Lạc kia. Hạnh là chí thành khẩn thiết, thường niệm Nam Mô (âm đọc là Nạp-mạc) A Di Đà Phật, thời thời khắc khắc chớ để tạm quên. Sáng tối đối trước Phật lễ bái, tŕ tụng, tùy theo bản thân rảnh rỗi hay bận bịu mà lập một khóa tŕnh. Ngoài ra, [trong lúc] đi - đứng - ngồi - nằm và làm những chuyện chẳng phải dùng đến tâm th́ đều khéo niệm. Lúc ngủ nên thầm niệm, chẳng nên niệm ra tiếng. Chỉ nên niệm bốn chữ A Di Đà Phật để khỏi bị nhiều chữ khó niệm. Nếu áo mũ không chỉnh tề, hoặc đang lúc rửa ráy, đại tiểu tiện, hoặc đến chỗ không sạch sẽ đều nên niệm thầm. Niệm thầm có cùng một công đức [như niệm ra tiếng], niệm ra tiếng không hợp lễ. Bất luận niệm lớn tiếng hay niệm nhỏ tiếng, niệm Kim Cang (niệm có tiếng nhưng người bên cạnh không nghe được), niệm thầm trong tâm, đều phải niệm cho rơ ràng rành rẽ trong tâm, miệng niệm cho rơ ràng rành rẽ, tai nghe cho rơ ràng rành rẽ. Như thế th́ tâm chẳng rong ruổi theo bên ngoài, vọng tưởng dần dần dứt, Phật niệm dần dần thuần, công đức rất lớn!

Người niệm Phật phải hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng (tức thầy dạy ta và những vị có đạo đức), từ tâm không giết (nên ăn chay trường, hoặc ăn chay kỳ. Nếu chưa dứt được ăn mặn th́ đừng đích thân giết), tu Thập Thiện nghiệp (tức là thân chẳng làm chuyện sát sanh, trộm cắp, tà dâm; miệng chẳng nói dối, thêu dệt, nói đôi chiều, nói lời ác; tâm chẳng khởi niệm tham dục, nóng giận, ngu si). Lại c̣n phải cha nhân từ, con hiếu thuận, anh nhường, em kính, chồng ḥa, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành, nghiêm túc tận hết bổn phận của chính ḿnh. Chẳng cần biết người khác có trọn hết bổn phận đối với ta hay không, ta phải luôn trọn hết phận ta. Nếu có thể đối với gia đ́nh và xă hội trọn hết t́nh nghĩa, tận hết bổn phận th́ gọi là “thiện nhân”. Thiện nhân niệm Phật cầu sanh Tây Phương chắc chắn khi lâm chung liền được văng sanh, bởi tâm hợp với Phật, nên cảm được Phật từ tiếp dẫn. Nếu tuy thường niệm Phật, nhưng tâm chẳng nương theo đạo, hoặc đối với cha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái, bạn bè, xóm làng chẳng thể tận hết bổn phận th́ tâm đă trái nghịch Phật, khó thể văng sanh! Do tự tâm phát sanh chướng ngại, Phật cũng không có cách nào rủ ḷng từ tiếp dẫn được!

Lại phải nên khuyên cha mẹ, anh em, chị em, thê thiếp, con cái, xóm làng, thân hữu đều cùng thường niệmNam-Mô A Di Đà Phật” và “Nam-Mô Quán Thế Âm Bồ Tát” (mỗi ngày nếu niệm một vạn câu Phật hiệu th́ niệm năm ngàn câu Quán Âm, nhiều hay ít chiếu theo đây mà gia giảm). Bởi chuyện này lợi ích rất lớn, nỡ nào để người sanh ra ta và quyến thuộc của ta cũng như thân hữu chẳng được hưởng lợi ích này hay sao? Huống chi hiện tại đang là lúc cơi đời hoạn nạn lớn lao, tai họa xảy đến không cách ǵ đối phó được. Nếu thường niệm Phật và niệm Quán Âm, chắc chắn được Phật từ che chở, gặp dữ hóa lành. Dẫu không tai nạn cũng được nghiệp tiêu, trí rạng, chướng tận, phước tăng. Huống chi, khuyên người niệm Phật cầu sanh Tây Phương chính là thành tựu cho kẻ phàm phu thành Phật, công đức rất lớn! Dùng công đức này hồi hướng văng sanh, ắt được măn nguyện.

Phàm tụng kinh, tŕ chú, lễ bái, sám hối và cứu tai nạn, giúp kẻ nghèo, mọi thứ công đức từ thiện đều phải hồi hướng văng sanh Tây Phương, chớ nên cầu phước báo nhân - thiên trong đời sau. Hễ có tâm ấy sẽ chẳng có phần văng sanh! Hễ sanh tử chưa giải quyết xong, phước càng lớn ắt nghiệp càng nặng. Hễ sanh lần nữa, khó khỏi đọa trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu muốn lại được thân người, lại được gặp pháp môn Tịnh Độ liễu thoát ngay trong một đời, khó như lên trời! Phật dạy người niệm Phật cầu sanh Tây Phương là để con người liễu thoát sanh tử ngay trong đời này. Nếu cầu phước báo nhân - thiên đời sau th́ là trái nghịch lời Phật dạy, giống như đem một viên bảo châu vô giá trong khắp cơi đời đổi lấy một thẻ đường để ăn, chẳng đáng tiếc ư? Người ngu niệm Phật chẳng cầu sanh Tây Phương, cầu phước báo nhân thiên đời sau cũng chẳng khác ǵ!

Người niệm Phật chẳng được lạm tu con đường tham cứu của nhà Thiền, bởi người tham cứu chẳng chú trọng nơi tín nguyện cầu sanh; dẫu có niệm Phật cũng chỉ chú trọng khán câu “người niệm Phật là ai?” để cầu khai ngộ mà thôi! Nếu sanh Tây Phương th́ không một ai chẳng khai ngộ! Nếu khai ngộ mà Hoặc nghiệp hết sạch th́ có thể liễu sanh tử. Nếu Hoặc nghiệp chưa hết sẽ chẳng thể cậy vào Tự Lực để liễu sanh tử. Lại do không có tín nguyện nên chẳng thể cậy vào Phật Lực để liễu sanh tử. Tự Lực lẫn Phật Lực cả hai đều không nhờ cậy được, muốn thoát luân hồi há có được chăng? Phải biết: Pháp Thân Bồ Tát lúc chưa thành Phật đều phải cậy vào oai lực của Phật, huống chi nghiệp lực phàm phu phí công bàn chuyện Tự Lực, chẳng cậy Phật Lực ư? Lời lẽ tuy cao siêu, nhưng hạnh thật hèn tệ. Phật Lực, Tự Lực lớn - nhỏ, nào phải chỉ khác biệt như trời với vực! Nguyện đồng nhân đều hiểu nghĩa này.

Người niệm Phật chớ nên bắt chước kẻ ngu, làm những “Phật sự” như hoàn thọ sanh, gởi kho v.v… bởi chuyện “hoàn thọ sanh” chẳng phát xuất từ kinh Phật, mà do người đời sau ngụy tạo. “Gởi kho” là nguyện chết đi làm quỷ, chuẩn bị sẵn tiền tiêu dùng trong quỷ đạo. Đă có tâm nguyện làm quỷ sẽ khó thể văng sanh. Nếu chưa làm, hăy chớ có làm. Nếu trót đă làm hăy bẩm rơ cùng Phật: “Đệ tử tên là… chỉ cầu văng sanh, tiền trước kia gởi kho nơi cơi âm, đều dùng chẩn tế cô hồn hết” th́ mới chẳng gây chướng ngại cho việc văng sanh. Phàm những kinh như Thọ Sanh, Huyết Bồn, Thái Dương, Thái Âm, Nhăn Quang, Táo Vương, Thai Cốt, Phân Châu, Diệu Sa v.v… đều do những kẻ lầm lạc ngụy tạo, chớ nên niệm. Kẻ ngu chẳng biết niệm kinh Đại Thừa (tức là các kinh A Di Đà Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, Tâm Kinh, Kim Cang, Dược Sư, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm v.v...) Ngả ḷng tin theo các thứ ngụy kinh ngụy tạo mù quáng ấy, ắt phải làm những chuyện hoàn thọ sanh, phá địa ngục, phá huyết hồ mới an tâm được! Có người hiểu lư nói những kinh ấy là ngụy tạo, cũng chẳng chịu tin. Phải biết: Làm Phật sự th́ chỉ có niệm Phật là công đức lớn nhất. Nên dùng tiền làm chuyện hoàn thọ sanh, phá địa ngục, phá huyết hồ để thỉnh vị Tăng có chánh niệm niệm Phật th́ lợi ích lớn lắm.

Người niệm Phật nên ăn chay trường. Nếu như chưa thể th́ nên giữ Lục Trai, hoặc Thập Trai (mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30 là Lục Trai. Thêm vào ngày mồng Một, 18, 24, 28 th́ thành Thập Trai. Gặp tháng thiếu th́ ăn lên trước đó một ngày. Lại c̣n tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín là ba tháng chay, nên ăn chay trường, làm các công đức). Từ giảm dần đến vĩnh viễn dứt ăn mặn th́ mới hợp lư. Tuy chưa dứt được ăn mặn, hăy nên mua thịt làm sẵn, đừng sát sanh trong nhà. Do trong nhà thường nguyện cát tường (tốt lành, may mắn), nếu hằng ngày sát sanh th́ nhà ấy liền trở thành nơi giết chóc. Nơi giết chóc chính là chỗ oán quỷ tụ hội, chẳng tốt lành, [điều này] quan trọng lắm! Do vậy, phải kiêng sát sanh trong nhà.

Người niệm Phật nên khuyên cha mẹ niệm Phật cầu sanh Tây Phương, nhưng muốn cho cha mẹ lúc lâm chung quyết định văng sanh Tây Phương mà không nói sẵn cho quyến thuộc biết về việc trợ niệm lâm chung, và lợi - hại của việc phô trương mù quáng và khóc lóc sẽ chẳng thể được! V́ vậy, muốn cho cha mẹ khi lâm chung được hưởng sự lợi ích do quyến thuộc trợ niệm, chẳng bị cái hại phá hoại chánh niệm, nhưng lúc thường ngày không nói cho họ biết sự lợi ích của việc niệm Phật, khiến cho ai nấy đều thường niệm, sẽ không thể được! Như thế chẳng những có ích cho cha mẹ mà thật sự c̣n có ích cho những quyến thuộc hiện đời, con cháu đời sau. Lâm chung trợ niệm bất luận già - trẻ đều nên như vậy, xem cuốn Sức Chung Tân Lương sẽ tự biết (Thượng Hải Phật Học Thư Cục, chùa Báo Quốc ở Tô Châu đều có bán cuốn ấy).

Nữ nhân khi sanh nở thường đau đớn chẳng kham nổi, [nếu] mấy ngày chưa sanh rất có thể bị mất mạng. Lại có người sanh xong bị băng huyết, đủ mọi nỗi nguy hiểm, và con cái mắc chứng kinh phong chậm hay gấp, đủ mọi nỗi nguy hiểm. Nếu nhằm lúc sắp sanh, hăy chí thành khẩn thiết niệm ra tiếng rơ ràng “Nam-Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”, chớ nên niệm thầm trong tâm, bởi niệm thầm sức nhỏ, nên cảm ứng cũng nhỏ. Lại do lúc ấy dùng sức đẩy đứa con ra, nếu thầm niệm th́ rất có thể do bế khí mà thành bệnh. Nếu chí thành khẩn thiết niệm chắc chắn chẳng bị đau đớn, khó sanh và băng huyết sau khi sanh, đứa con mắc các chứng kinh phong v.v… Dẫu cho khó sanh đến tột bậc, người đă sắp chết, hăy nên dạy sản phụ ấy và những người chăm sóc chung quanh đều cùng niệm Quán Thế Âm ra tiếng, người nhà dẫu ở pḥng khác cũng đều có thể niệm, chắc chắn công phu chưa đến một khắc liền được an nhiên sanh nở. Ngoại đạo chẳng hiểu lư, chấp chết vào một pháp cung kính, chẳng biết căn cứ vào sự để luận lư, đến nỗi những bà cụ niệm Phật coi sanh nở là chuyện đáng sợ, dẫu là con gái ruột, con dâu cũng chẳng dám nh́n đến, huống chi là dám dạy họ niệm Quán Âm ư? Phải biết Bồ Tát mang tâm cứu khổ, lúc sắp sanh tuy lơa lồ, bất tịnh, nhưng là chuyện không thể nào tránh được, chứ không phải là do cố ư luông tuồng, chẳng những [niệm Quán Âm khi ấy] không có tội lỗi ǵ, mà lại c̣n gieo được đại thiện căn cho cả mẹ lẫn con. Nghĩa này đức Phật dạy trong kinh Dược Sư, chứ không phải là ư kiến ức đoán của tôi, chẳng qua tôi chỉ đề xướng mà thôi! (Kinh Dược Sư nói về thệ nguyện công đức Phật Dược Sư, cho nên dạy niệm Phật Dược Sư. Nhưng danh hiệu Quán Âm ai nấy đều biết cho nên bất tất phải niệm Phật Dược Sư, cứ niệm Quán Âm cũng được).

Nữ nhân từ mười hai, mười ba tuổi cho đến bốn mươi tám, bốn mươi chín tuổi đều có kinh nguyệt. Có kẻ nói “trong lúc có kinh không được lễ bái, tŕ tụng!” Lời ấy chẳng thông t́nh lư. Người có kinh ngắn ngày th́ hai ba ngày là hết, có người kéo dài đến sáu bảy ngày mới hết. Người tu tŕ ắt phải niệm niệm không gián đoạn, lẽ đâu v́ một tật nhỏ trời sanh ấy để rồi bỏ bê việc tu tŕ ư? Nay tôi nói: Trong lúc có kinh, chỉ nên lễ bái ít hơn (nên ít lễ bái, chứ không phải là tuyệt đối chẳng được làm lễ), niệm Phật, tụng kinh đều theo như lệ thường. Nên thường thay vải dơ (băng vệ sinh). Nếu tay sờ vào vải dơ, hăy nên rửa sạch, chớ dùng tay đă chạm đồ dơ để lật kinh và thắp hương. Phật pháp th́ pháp nào cũng viên thông, ngoại đạo chỉ chấp vào lư ngoài ŕa. Người đời đa phần chỉ tin lời ngoại đạo, chẳng biết đến chánh lư trong Phật pháp. V́ thế, khiến cho hết thảy đồng nhân chẳng thể được nhuần thấm lợi ích nơi pháp.

Quán Thế Âm Bồ Tát thệ nguyện rộng sâu, theo tiếng cứu khổ. Nếu gặp phải những hoạn nạn như đao binh, nước, lửa, đói kém, sâu rầy, châu chấu, ôn dịch, hạn hán, lụt lội, giặc cướp, oan gia, ác thú, rắn độc, ác quỷ, yêu mị, bệnh tật do oán nghiệp, tiểu nhân hăm hại…. mà có thể phát tâm sửa lỗi hướng thiện, tự lợi lợi người, chí thành khẩn thiết niệm Quán Thế Âm, niệm niệm không gián đoạn, chắc chắn sẽ được Ngài từ bi che chở, chẳng bị nguy hiểm ǵ. Nếu vẫn giữ tấm ḷng chẳng lành, dẫu có xưng niệm, chẳng qua chỉ tạm gieo căn lành cho vị lai, chẳng được cảm ứng trong hiện thời. Bởi lẽ Phật, Bồ Tát đều là thành tựu thiện niệm cho người, trọn chẳng thành tựu ác niệm cho người. Nếu chẳng phát tâm sửa lỗi hướng thiện, lầm lạc muốn niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát để mong thành tựu ác sự cho ḿnh th́ quyết định không được cảm ứng, chớ có dấy lên cái tâm điên đảo ấy!

Niệm Phật khẩn yếu nhất là giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, giữ tấm ḷng tốt, nói lời tốt lành, làm chuyện tốt đẹp. Có sức làm được th́ tích cực làm, chẳng thể làm được th́ cũng phải phát thiện tâm ấy, hoặc khuyên người có sức làm, hoặc thấy người khác làm bèn phát tâm hoan hỷ, thốt lời khen ngợi th́ cũng là thuộc về công đức nơi tâm và miệng. Nếu chẳng thể tự làm được, thấy người khác làm bèn sanh ganh ghét, liền thành ra tâm hạnh tiểu nhân gian ác, chắc chắn bị tổn phước, giảm thọ, chẳng được kết quả tốt lành, hăy nên thống thiết răn dè. Chẳng được làm chuyện giả dối để được tiếng, buôn danh chuốc dự, tâm hạnh ấy quả thật bị thiên địa quỷ thần đều cùng ghét. Nếu có th́ phải sửa đổi, nếu không th́ càng thêm cố gắng.

Trong đời có kẻ nữ chẳng hiểu chí lư (lư tột cùng), hoặc chẳng hiếu đối với cha mẹ chồng, lừa dối, khinh miệt chồng, nuông chiều con cái mù quáng, ngược đăi tôi tớ, hoặc là mẹ kế ngược đăi con cái đời vợ trước, chẳng biết hiếu dưỡng cha mẹ chồng, kính trọng chồng, dạy con cái, rộng răi với tôi tớ, nuôi dạy, chăm sóc con cái vợ trước, [chẳng biết những điều ấy] quả thật là đạo thánh hiền trong thế gian, mà cũng là pháp vun bồi cái gốc trong nhà Phật. Đầy đủ công đức này, do tu tập Tịnh nghiệp chắc chắn danh dự ngày càng cao, phước tăng, tuổi thọ lâu dài, lâm chung được Phật tiếp dẫn lên thẳng chín phẩm sen. Phải biết: Có nhân chắc chắn có quả. Nếu ḿnh đă gieo cái nhân hiếu kính từ ái, sẽ tự hưởng cái quả hiếu kính từ ái. V́ người chính là v́ ḿnh, hại người c̣n tệ hơn tự hại ḿnh. V́ thế, phải tận hết chức phận của chính ḿnh để mong Phật - trời cùng soi xét.

Trẻ nhỏ từ lúc có sự hiểu biết, liền dạy cho chúng đạo hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, và những sự nhân quả ba đời, luân hồi lục đạo khiến cho chúng biết tâm của chính chúng nó trong từng hơi thở đều thông với tâm của trời, đất, quỷ thần, Phật, Bồ Tát. Khởi lên một niệm bất chánh, làm một chuyện bất chánh đă sớm bị trời, đất, quỷ thần, Phật, Bồ Tát thấy biết tường tận, như đối trước gương sáng đều hiện ra h́nh bóng xấu không thể trốn tránh được, ngơ hầu chúng nó biết kiêng sợ, gắng làm người lương thiện. Bất luận là ai, dẫu là tôi tớ, trẻ nhỏ, cũng chẳng được phép đánh chửi. Dạy chúng tôn kính bậc tôn trưởng, giữ phận người dưới. Phải chú trọng dạy chúng nó kính tiếc giấy có viết chữ, yêu tiếc ngũ cốc, y phục, đồ đạc, thương tiếc che chở trùng kiến, cấm ngặt ăn vặt để khỏi bị bệnh. Dạy được như thế th́ phần đông chắc chắn trở thành người hiền thiện. Nếu lúc nhỏ để mặc theo thói quen, điều ǵ cũng chẳng giáo huấn, lớn lên không thành hạng tầm thường cũng thành phường trộm cướp. Lúc ấy có hối cũng chẳng có ích ǵ! Cổ nhân nói: “Giáo phụ sơ lai, giáo nhi anh hài” (Dạy con từ thuở c̣n thơ, dạy vợ từ thuở ban sơ mới về), bởi lẽ do huân tập sẽ trở thành bản tánh nên phải cẩn thận ngay từ đầu. Thiên hạ yên hay loạn đều bắt nguồn từ đây; chớ nghĩ lăo tăng nói chuyện viễn vông, không quan hệ, khẩn yếu chi!

Quang đă già rồi, tinh thần ngày càng suy yếu, không có sức trả lời thư gởi đến. Chỉ v́ đường bưu điện thuận tiện khiến cho xa - gần nghe lầm hư danh, thường gởi thư đến hỏi măi. Nếu nhất loạt chẳng phúc đáp, cũng cảm thấy phụ ḷng người hỏi đến. Nếu phúc đáp từng thư một, thật chẳng có đủ tinh thần [làm như vậy]. V́ thế, cho in bức thư dài này, phàm những ǵ liên quan đến chuyện tu tŕ và đạo lập thân, xử thế, thờ cha mẹ, dạy con, đều nói đại lược. Sau này có ai gởi thư đến, dùng thư này gởi lại. Nếu có một hai chuyện chi đặc biệt liền phê vào thư gởi đến mấy chữ để đôi bên thấu hiểu t́nh nhau, chẳng đến nỗi nhọc nhằn quá đáng. Nếu muốn thông hiểu sâu xa kinh giáo, xin hăy thỉnh giáo nơi những bậc pháp sư thông hiểu sâu xa dựng cao tràng pháp. Nên biết rằng: Người thông hiểu sâu xa kinh giáo chưa chắc đă liễu sanh tử ngay trong đời này. Nếu muốn liễu sanh tử ngay trong đời này, hăy nên chú trọng nơi tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương.

 

Trích Dẫn Pháp Ngữ Của Ấn Quang Đại Sư

Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt trong giáo pháp của cả một đời đức Như Lai, thích hợp khắp ba căn, thâu nhiếp trọn vẹn lợi căn lẫn độn căn. Bậc Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể vượt ra ngoài; tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cũng có thể dự vào trong số ấy. Chẳng đoạn Hoặc nghiệp mà được thoát khỏi luân hồi; ngay trong một đời này chắc chắn lên cơi Phật. Chúng sanh đời Mạt căn cơ kém hèn, bỏ pháp môn này làm sao yên được?

Phàm là người tu Tịnh nghiệp

Điều thứ nhất là phải nghiêm tŕ tịnh giới.

Điều thứ hai là phải phát Bồ Đề tâm.

Điều thứ ba là phải có tín nguyện chân thật.

Giới là cơ sở của các pháp, Bồ Đề tâm là chủ soái của tu đạo, Tín - Nguyện dẫn đường cho sự văng sanh. Pháp môn Tịnh Độ lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm tông: Không có Tín làm sao phát ra Nguyện được? Không có Nguyện làm sao khởi Hạnh? Không có Diệu Hạnh Tŕ Danh làm sao chứng được Tín, măn được Nguyện? Được văng sanh hay không, hoàn toàn do có Tín - Nguyện hay không! Phẩm vị cao hay thấp hoàn toàn do tŕ danh sâu hay cạn.

Tín - Nguyện - Hạnh như ba chân của cái đỉnh, thiếu một sẽ đổ. Nếu chẳng chú trọng Tín - Nguyện, chỉ mong tŕ danh đến mức nhất tâm; dẫu cho đạt được nhất tâm sâu xa, cũng khó thể liễu sanh thoát tử. V́ sao vậy? Do Phiền Hoặc chưa hết, chẳng thể cậy vào tự lực để liễu sanh tử; Tín - Nguyện đă không có, sẽ chẳng thể nương theo Phật lực để liễu sanh tử. Trong đời có những kẻ ham cao chuộng xa, thường bàn lan man về tự lực, miệt thị Phật lực, chẳng biết: Từ sống đến chết, không một chuyện nào chẳng phải nhờ vào sức người khác, nhưng chẳng lấy đó làm thẹn; sao lại riêng với một ḿnh chuyện lớn liễu sanh tử, ngay cả Phật lực cũng chẳng muốn nhận? Mất trí điên cuồng đến mức như thế đấy! Hành giả Tịnh Tông hăy nên răn dè!

Đối với pháp tắc tu tŕ th́ thường nên như con nhớ mẹ; đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, im lặng, qua lại, một câu Phật hiệu miên miên mật mật, bất cứ sự duyên nào cũng chẳng để gián đoạn, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối. Người làm được như thế chắc chắn sẽ văng sanh. Tâm lại phải thường nghĩ tới nhân từ, khoan dung, tánh t́nh hồn hậu, ḥa thuận, nhẫn được điều người khác chẳng thể nhẫn, làm được chuyện người khác chẳng thể làm, chịu nhọc nhằn thay cho người khác, thành tựu sự tốt đẹp cho người ta, thường nghĩ tới lỗi ḿnh, đừng bàn tới sự sai trái của kẻ khác!

 

475. Thư trả lời cư sĩ Dương Bội Văn

Xá-lợi chưa tới chỗ cũ, càng đúng là thần biến khôn ngằn. Ấy chính là Phật, Bồ Tát muốn làm cho ông và hết thảy những ai thấy nghe đều gieo thiện căn sâu xa, nên đặc biệt thị hiện [như vậy]. Tiếng Phạn xá-lợi (Śarīra), cũng có khi phiên là Thiết-lợi-la (danh từ này hiện thời tuyệt chẳng dùng đến), ở đây (Trung Hoa) dịch là Thân Cốt (xương nơi thân), cũng có khi dịch là Linh Cốt. Đây chính là ước theo sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, thiêu thân hóa hiện tám hộc bốn đấu xá-lợi mà nói. Đấy chính là ước theo đa số để nói.

Cũng có loại xá-lợi không phải từ xương trên thân [đức Phật mà có], như người đời Tống khắc ván in cuốn Long Thư Tịnh Độ Văn t́m được ba hạt xá-lợi trong tấm ván, ba hạt xá-lợi t́m được ở ba chỗ. Lại nữa, thiện nữ nhân thêu kinh, đâm kim xuống bị vướng, nh́n vào t́m được xá-lợi. Lại có người niệm Phật, từ trong miệng có được xá-lợi. Có vị cao tăng tắm gội, bảo học tṛ kỳ lưng, nghe có vật lanh canh rơi xuống, nh́n xem th́ thấy được xá-lợi. Tuyết Nham Khâm thiền sư cạo đầu, tóc [rớt xuống] biến thành một chuỗi xá-lợi. Trường Khánh Nhàn thiền sư đời Tống viên tịch, ngày hỏa thiêu Ngài, trời nổi cơn gió lốc lớn, khói bay xa ngoài bốn mươi dặm. Khói lan đến đâu, trên nóc nhà, ngọn cây, ngọn cỏ, đều có xá-lợi, nhặt được hơn bốn thạch.

Ngoại đạo chẳng biết xá-lợi chính là do sức của Giới - Định - Huệ tạo thành, bèn bảo [xá-lợi] là do Tinh - Khí - Thần luyện thành. Đây là ăn trộm danh từ của Phật giáo, chứ tuyệt chẳng biết nghĩa lư trong Phật giáo, liền đơm đặt bịa chuyện. [Xá-lợi] phần nhiều do dời chuyển mà có được, như khắc ván, thêu kinh và do miệng niệm Phật mà có, cũng như [xá-lợi] của ông do từ hoa đèn mà được đều là v́ ḷng Thành chuyên ṛng đến cùng cực nên đức Phật rủ ḷng Từ gia bị, thị hiện. Hơn nữa, xá-lợi của Phật càng thần biến khôn ngằn. Như khi Tùy Văn Đế (Dương Kiên) chưa làm hoàng đế, một vị Phạn tăng (tăng nhân Ấn Độ) tặng cho mấy viên xá-lợi, đến khi lên ngôi xem lại th́ thấy có rất nhiều viên (mấy trăm viên). Do vậy bèn dựng hơn năm mươi ṭa bảo tháp. Tháp đựng xá-lợi ở chùa A Dục Vương có thể nâng lên xem, mỗi người thấy một khác, hoặc cùng một người nhưng trong mỗi lúc thấy [xá-lợi] chuyển biến lớn, nhỏ, cao, thấp và màu sắc thay đổi, hoặc chẳng thay đổi khác nhau. Như vậy là chẳng thể dùng phàm t́nh để suy lường được. Người đời dùng phàm t́nh để suy lường Phật pháp nên chỉ bị tổn hại, chẳng được lợi ích.

Ông muốn quy y, nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Tiềm, nghĩa là: Tâm ngầm khế hợp với trí huệ của Phật. Đấy chính là như cổ nhân đă bảo: “Ngu phu, ngu phụ cắm đầu hùng hục niệm Phật, liền có thể ngầm thông Phật trí, thầm hợp diệu đạo” vậy! Hiện thời sắp xảy ra cơn đại kiếp, bất luận là người trong nhà hay người ngoài, đều nên khuyên họ chí thành niệm Phật và niệm Quán Âm để làm kế dự pḥng. Nếu không, họa hoạn xảy tới, trọn chẳng nương tựa vào đâu được! Đừng nói niệm Phật ắt chẳng bị táng thân tổn mạng; dẫu táng thân tổn mạng nhưng linh hồn đi về đâu mỗi người mỗi khác. V́ thế, chớ nên v́ niệm Phật không thể cứu văn được kiếp nạn mà bảo: “Niệm cũng vô ích!” Nay gởi cho ông một gói sách, lại có một tờ Một Lá Thư Gởi Khắp. Dù phiền toái hay đơn giản đều có thể nương theo đó để hành được. Chớ nên gởi thư tới nữa khiến tự phiền, rộn người vậy!

 

476. Thư trả lời anh em Khai Sanh, Ninh Sanh (Thư thứ nhất)

Hôm qua nhận được thư các ông, biết cha các ông bệnh hết sức trầm trọng. Chớ nên làm theo cách si tâm vọng tưởng của thế gian, mà hăy nương theo Phật pháp dùng câu Nam-Mô A Di Đà Phật để trợ niệm và cầu cho cha: “Nếu tuổi thọ đă tận sẽ mau được đức Phật từ bi tiếp dẫn văng sanh Tây Phương. Nếu tuổi thọ chưa hết, sẽ mau được lành bệnh”. Cha các ông tuổi đă ngoài bảy mươi, đang trong thời thế nguy hiểm này, cả nhà hăy nên nhất tâm niệm Phật, cầu Phật tiếp dẫn cụ văng sanh Tây Phương. Nếu cụ tuổi thọ chưa hết, cũng sẽ do công đức trợ niệm mà chóng được lành bệnh. Nhưng chớ nên chỉ cầu lành bệnh, chẳng cầu văng sanh Tây Phương. Nếu tuổi thọ của cụ đă hết, [cầu như thế] sẽ làm hỏng đại sự. Hăy v́ cha các ông mà nhất tâm trợ niệm. Nếu cụ niệm được th́ niệm theo. Chẳng thể niệm, hăy nhất tâm nghe các ông niệm.

Phàm những chuyện khẩn yếu th́ phải hỏi han trước; chuyện chẳng khẩn yếu đều nhất loạt chớ nên nhắc tới. Nếu có những cư sĩ chí thành khẩn thiết, hăy nên thỉnh mấy vị cùng với các ông chia phiên trợ niệm liên tục chẳng ngớt. Niệm măi cho đến khi cụ tắt hơi vẫn cứ niệm giống như thế. Niệm tiếp tục như vậy cho đến ba tiếng đồng hồ sau mới ngừng niệm. Hơn nữa, trước khi cụ chưa chết và lúc vừa mới tắt thở, đừng nên lau rửa thân thể, thay áo, khóc lóc. Những hành vi ấy đều là lôi cụ xuống biển! Người thế gian tưởng đấy là hiếu, nhưng [thật ra] đă phá hoại chánh niệm khiến cho [người đă mất] chẳng thể văng sanh mà đâm ra bị đọa lạc. Tội giống như giết cha mẹ, khẩn yếu đến cùng cực!

Bữa nay ở Linh Nham liền thỉnh mười vị Tăng mở một Phật thất. Phật thất tốn một trăm đồng; lại lập cho cụ một bài vị bằng gỗ để thờ vĩnh viễn trong Niệm Phật Đường. Niệm Phật quanh năm, lợi ích rất lớn, phải tốn năm mươi đồng. Một trăm năm mươi đồng ấy nên gởi qua bưu điện, chuyển thẳng cho đại sư Diệu Chân thuộc Linh Nham Sơn Tự ở trấn Mộc Độc. Phật thất cũng là để cầu Phật tiếp dẫn. Nếu tuổi thọ chưa hết, cũng sẽ mau được lành. Các ông muốn giảm tuổi thọ của chính ḿnh để [cầu] tăng tuổi thọ cho cha, Quang chẳng nghĩ như thế là đúng. V́ sao vậy? Đang trong lúc cụ tuổi đă cao này, lại nhằm đời loạn lạc, chuyện mai sau chẳng biết như thế nào! Cố nhiên, hăy nên cầu cho cha mẹ mau được sanh về Tây Phương, để khỏi gặp cảnh mai sau chẳng bằng hiện thời, sẽ càng khó thể trợ niệm!

Nay gởi kèm cho ông một ít tro hương Đại Bi. Hăy đem tro ḥa vào nước, gạn lấy phần nước lắng trong để uống. Dẫu cụ đă đến lúc chết, uống vào th́ thần thức cũng sáng suốt, chánh niệm văng sanh. Nếu chưa đến lúc chết, sẽ mau được lành bệnh. Đối với chuyện sau khi cụ đă mất, đừng bày vẽ mù quáng, làm lễ phúng điếu, nhóm họp thân hữu. Dẫu cho bạn bè thân thiết t́m đến cũng nên đăi cỗ chay, vĩnh viễn chấm dứt rượu thịt. Ma chay, kính thần, đăi khách đều dùng món chay. Vàn muôn phần, chớ nên dùng rượu thịt! Trong đám tang chẳng dùng rượu thịt, cổ lễ Nho gia đă là như vậy đó, chứ không riêng ǵ Phật giáo mới vậy. Nếu Hoàng Thái Tử đang cư tang mà lén lút uống rượu th́ sử quan ắt phải ghi chép chuyện ấy để truyền cho hậu thế!

Hiện thời lễ giáo bỏ phế, đang cư tang vẫn tấu nhạc, sát sanh để giữ thể diện. Các ông đừng học theo thói cực ác ấy! Lại có kẻ c̣n đem hành trạng của người đă khuất in ra, thỉnh danh nhân đề lời tán tụng, tặng cho khắp mọi thân hữu. Chuyện ấy cũng hết sức vô lễ! Đem h́nh ảnh của cha mẹ in trên đấy, người ta nhận được xem qua một lần rồi quăng vô đống giấy lộn, chẳng biết đă khinh nhờn đến đâu! Các ông muốn làm cho cha mẹ được nở mày nở mặt, hăy nên trong mỗi niệm luôn tự phản tỉnh, khởi tâm động niệm, xử sự, chẳng dám có một niệm không xứng đáng với Phật, Bồ Tát, thiên địa, quỷ thần. Nếu có thể giữ được như thế suốt đời th́ mới là đại hiếu, tôn kính cha mẹ. Nếu không, do hành vi bất thiện, ắt người ta sẽ nói cha các ông tổn đức nên mới có đứa con không ra ǵ như vậy! Do đó, con người chẳng thể không tự trọng!

 

477. Thư trả lời anh em Khai Sanh, Ninh Sanh (Thư thứ hai)

Thư nhận được đầy đủ. Kẻ làm con cái trong thế gian khi cha mẹ lâm chung phần nhiều là “đă rớt xuống giếng c̣n quăng đá!” Anh em ông chịu nghe theo lời tôi, cho nên cha các ông văng sanh Tây Phương. Đấy là chân hiếu! Ông nên biết rằng: Bất luận già - trẻ - trai - gái lâm chung đều nên trợ niệm như thế. Đều phải là sau khi đă tắt hơi rồi, tối thiểu là trong ṿng ba tiếng đồng hồ chẳng được đụng vào thân thể người ấy, chẳng ngớt tiếng niệm Phật, chẳng được khóc lóc, để càng lâu càng hay (Do [nếu khuyên] để lâu th́ sợ kẻ chẳng hiểu việc sẽ khó thể nghe theo được, nên chỉ nói là “ba tiếng đồng hồ”). [Cha các ông] thần thức không sáng suốt, sau khi uống nước Đại Bi, thần thức liền sáng suốt; đủ biết Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, pháp lực chẳng thể nghĩ bàn, chúng sanh tâm lực cũng chẳng thể nghĩ bàn (tức là ḷng Thành của các ông).

Mẹ ông Ngô Trạch Nam lâm chung, lưỡi cứng không động đậy được. Trạch Nam đem nước Đại Bi chấm vào lưỡi, trong khoảnh khắc lưỡi [của bà cụ] liền mềm mại có thể niệm Phật được. B́nh thường cụ luôn niệm Phật cực nhỏ, lúc ấy lớn giọng niệm liên tiếp ba câu rồi qua đời. Cảnh tượng lúc cha ông lâm chung nếu chẳng phải là thêu dệt th́ chắc chắn cụ được văng sanh. Người b́nh thường chết rồi chẳng có tí hơi nóng nào, thân thể cứng đờ. Người niệm Phật mấy ngày xác chẳng cứng, đấy là chuyện thường. Chuyện “hồi sát” là kiến thức phàm tục của người đời. Phàm ai chết trong chùa miếu đều không có chuyện “hồi sát”. Quê tôi gọi là “xuất ương” (thoát tai nạn).

Người niệm Phật văng sanh Tây Phương chẳng thể làm theo cách lo toan mù quáng của tục nhân. Nay tôi lập cho các ông một biện pháp thích hợp với cả đạo Nho lẫn đạo Thích. Nhằm hôm “hồi sát”, cả nhà hăy chí thành niệm Phật, hoặc một tiếng đồng hồ, hoặc hai ba tiếng đồng hồ là được; chớ nên làm theo cách thức “hồi sát” của người đời th́ người chết lẫn kẻ sống đều được lợi ích lớn lao. Đối với chuyện thiết lễ phúng điếu, đăi tiệc khách [đến phúng điếu], quả thật đă thất lễ đến cùng cực. Hăy nên dùng khoản tiền ấy để làm chi phí cứu trợ tai nạn, đem công đức ấy hồi hướng Tây Phương th́ là tốt lành nhất! Nếu chẳng thể không có một người khách nào đến viếng, quyết chớ nên dùng rượu thịt; ngay như cúng thần cũng dùng cỗ chay. Khi các ông gởi tới lá thư lần trước, trong khóa tụng sớm tối, Quang đă hồi hướng văng sanh cho cha ông. Nay sẽ hồi hướng thêm ba thất nữa để trọn hết t́nh thầy tṛ. C̣n chuyện thỉnh danh nhân đề lời tán tụng, viết điếu văn đều là bày vẽ rỗng tuếch bề ngoài, trọn chẳng ích ǵ cho người đă khuất cả!

Đang trong lúc nước nhà tan hoang, dân chúng khốn đốn này, đừng nên làm những chuyện ḷe loẹt rỗng tuếch ấy th́ mới là đúng. Các ông nên biết: Làm phận con chẳng gây nhục cho cha mẹ chính là ḷng hiếu thảo suốt đời. Nếu thực hành chuyện “giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành” th́ người ta do thấy những hành vi của các ông luôn tốt đẹp, dẫu miệng họ chẳng ca ngợi đức hạnh của cha mẹ các ông, nhưng trong ḷng họ đă ngưỡng mộ, khâm phục đức hạnh của cha mẹ các ông. Đấy là chuyện làm rạng danh cha mẹ lớn lao. Chứ nếu ăn uống, nhậu nhẹt, chơi bời, cờ bạc, không ǵ chẳng làm, dẫu có đem đức hạnh của cha mẹ ra khoe cho nhiều, trong ḷng người ta ắt nghĩ: “Cha mẹ ngươi ắt làm chuyện tổn đức. Nếu không, sao lại sanh thứ con chẳng xứng đáng như ngươi cơ chứ?” Khiến cho cha mẹ nhục nhă quá sức! V́ cha các ông mà Quang nói với các ông như thế; các ông có chịu nghe theo hay không, tôi chẳng thể ép buộc được! Các ông hăy thử suy nghĩ chín chắn, suy xét cặn kẽ xem lời này có đáng nghe theo hay chăng?

 

478. Thư trả lời cư sĩ Ngô Kính Nhân

Thư nhận được đầy đủ, muốn cho quốc dân giàu mạnh, phải bắt đầu từ đề xướng nhân quả báo ứng. Nếu con người đều biết đến nhân quả, sẽ tự chẳng làm chuyện vượt lư, phạm phận, cũng chẳng chịu chuyên trọng cầu hoa mỹ, hao phí tiền bạc hữu dụng, vung văi [tiền bạc] trong sự sưu tập những món vật ưa thích, chôn vùi ư chí. Mấy chục năm qua, đem mỡ màng của nhân dân để mua khí giới tự sát, mỗi năm chẳng biết đă chở ra ngoại quốc mấy ngàn vạn vạn [đồng]. Đấy chính là cái gốc khiến cho nước ta tự tàn hại, cướp bóc lẫn nhau. Quyền ấy tuy chẳng nằm trong tay người không có địa vị, nhưng nào ngại nói với hết thảy mọi người để họ đừng ngả theo thói ấy.

 

Ông đă cầu quy y, nay đặt pháp danh cho ông là Đôn Bổn. Kính là gốc của đức; hễ kính th́ sẽ ḱm nén được giận dữ, ngăn chặn ḷng dục, chẳng làm các điều ác. Nhân là gốc của đạo; hễ nhân th́ sẽ có thể nhân từ với dân, yêu thương loài vật, vâng làm các điều lành. Lại c̣n sanh ḷng tin, phát nguyện, niệm Phật cầu sanh Tây Phương, khuyên hết thảy mọi người đừng tạo cái nhân giết chóc để khỏi phải chịu sát báo. Hễ văng sanh Tây Phương th́ sẽ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. [Phong thái ấy] sẽ từ nhà lan đến làng, đến ấp, chẳng tiếc tâm lực để kính khuyên; ấy chính là “làm nghề mà cũng tăng tấn đạo” vậy!

Đối với chỗ trọng yếu nơi tu tŕ th́ Văn Sao đă có nói đủ, xin hăy đọc kĩ sẽ tự biết rơ. Chỗ cốt yếu nằm nơi thực hành và chí thành. Nếu không, sẽ chẳng phải là Đôn Bổn (đôn đốc, vun quén cái gốc), mà là Hại Bổn. Nay gởi cho ông Một Lá Thư Trả Lời Khắp và toa thuốc để mong lợi khắp các đồng nhân.

 

479. Thư trả lời cư sĩ Chấn Hạc (Thư thứ nhất)

Ông đă phát tâm quy y, nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Mại, nghĩa là nương theo pháp môn Tịnh Độ được nói từ trí huệ của Phật để tu, sẽ liền có thể vượt ra ngoài tam giới sanh tử; v́ thế gọi là Huệ Mại. Ông đă có các sách như Văn Sao v.v… chỉ nên y theo [những sách] đó để tu tŕ sẽ liền được lợi ích chân thật. Quang mục lực chẳng đủ, không thể viết tường tận được. Đă quy y Tam Bảo, ắt phải kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, ăn thuần đồ chay. Nếu trong nhất thời chẳng thể ăn thuần đồ chay được, cũng nên tŕ Thập Trai hoặc Lục Trai, nhất là phải biết sâu xa những lỗi lầm do ăn thịt. Dẫu chẳng phải là ngày ăn chay, cũng nên cực lực giảm thiểu ăn thịt, càng phải nên nhất tâm niệm Phật. Nếu có tượng Phật th́ sớm chiều đối trước [tượng] Phật thắp hương, lễ niệm. Trừ những lúc ấy ra, đi - đứng - nằm - ngồi đều niệm. Dẫu nhằm ngày ăn mặn cũng vẫn phải niệm, phải ngày ngày, giờ giờ thường niệm. Lại phải dạy hết thảy mọi người trong nhà và hết thảy những người ngoài đều niệm. Lại c̣n phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành th́ mới là đệ tử thật sự của đức Phật, mới có tư cách văng sanh Tây Phương. Những điều khác đă nói tường tận trong Văn Sao và Một Lá Thư Trả Lời Khắp.

 

480. Thư trả lời cư sĩ Chấn Hạc (Thư thứ hai)

Thư tháng Chạp năm ngoái tôi chưa nhận được. Nay viết pháp danh cho vợ ông, lại gởi hai gói sách. Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ, từ nay về sau vĩnh viễn đừng gởi thư đến nữa, cũng đừng giới thiệu ai quy y, bởi không có mục lực lẫn sức lực để thù tiếp. Dẫu thỉnh sách từ Hoằng Hóa Xă cũng đừng gởi kèm thư cho Quang qua thư ấy. Hễ gởi kèm cũng nhất quyết không trả lời. Hai gói sách này tôi tặng cho ông, cũng đừng gởi tiền đến để đôi bên khỏi phải mệt trí. Nữ nhân lấy “giúp chồng dạy con” làm thiên chức, trong Văn Sao, Gia Ngôn Lục đă nói nhiều lần. Trong Một Lá Thư Trả Lời Khắp cũng nói đại lược. Chịu hành theo đó th́ thọ dụng cả đời cũng chẳng hết!

 

481. Thư trả lời các cư sĩ thuộc Niệm Phật Hội

Bạch Huệ Tu đến đây cầm theo thư, cậy tôi ước định chương tŕnh của Trợ Niệm Đoàn. Đối với điều này th́ trong Sức Chung Tân Lương đă có định chương tŕnh rồi, có thể châm chước [theo đó] để áp dụng. Quang già rồi, tinh thần lẫn mục lực đều chẳng đủ, trong mùa Đông năm ngoái đă cực lực cự tuyệt hết thảy thư từ, viết lách. Phàm thư gởi đến đều dặn: “Từ nay về sau đừng gởi thư tới nữa! Gởi đến quyết không trả lời, cũng chẳng chấp nhận giới thiệu người khác quy y” để khỏi bị mệt nhọc quá đến nỗi mù mắt lẫn tổn mạng! Tất cả mười một pháp danh đều viết ra cả rồi. Sáu đồng hương kính và hai đồng của Bạch Huệ Tu, Bạch Phước Kính cộng lại thành tám đồng, đều dùng để gởi cho quư hội những sách dành cho người sơ cơ và Tịnh Nghiệp Nhật Khóa. Từ nay về sau nếu vẫn gởi thư đến nữa, chắc chắn không trả lời. Xin ai nấy hăy giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương để chẳng thẹn là đệ tử Phật. Trong đời này bèn có thể siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Xin hăy nói với các vị ấy th́ may mắn lắm. Một Lá Thư Trả Lời Khắp quan hệ thật lớn. Hết thảy mọi người đều y theo đó mà hành th́ lợi ích lớn lao lắm!

 

482. Thư trả lời cư sĩ Kiều Tuân

Mùa Đông năm ngoái nhận được thư, biết ông ở chùa Thái B́nh viết sách thay cho cụ Chân (ḥa thượng Chân Đạt) đă có thành tích, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Phàm mọi chuyện bất luận lớn - nhỏ hễ thuộc về bổn phận của ta đều nên tận tâm tận lực mà làm. Ấy gọi là “sư tử bắt thỏ cũng dùng toàn lực”. Con người sống trong thế gian, chớp mắt liền qua. Hễ may mắn c̣n sống trong thế gian đều phải sốt sắng mà làm. Nếu không, thời thế, tuổi tác đă qua, muốn làm nhưng chẳng thể làm được. Quang đă tám mươi tuổi, chẳng thành được chuyện nào, chỉ biết mặc áo, ăn cơm. Đấy gọi là “thiếu tráng bất nỗ lực, lăo đại đồ thương bi” (trẻ khỏe chẳng gắng sức, già lụn luống buồn đau). Ông tuổi trẻ, chí nguyện, sức lực mạnh mẽ, hăy nên gắng sức theo đuổi để khỏi phải uổng công tiếc nuối bi thương!

 

483. Thư trả lời cư sĩ Bạch Tĩnh Tu

Thư nhận được đầy đủ. Trời nóng, công việc bận bịu, chẳng rảnh rỗi để viết nhiều. Nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Tu, nghĩa là nương theo trí huệ của Phật để tu Tịnh Độ, tự lợi, lợi tha. Những điều khác hăy chiếu theo những ǵ đă nói trong Một Lá Thư Trả Lời Khắp để làm th́ pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian đôi đằng đều được đầy đủ, không thiếu sót. Sợ ông thấy nghe chưa rộng nên nay gởi cho ông một bộ Tịnh Độ Thập Yếu. Chúng sanh đời Mạt chẳng y theo pháp này để tu th́ tuy tu hành vẫn đáng thương lắm thay! Do chẳng biết cậy vào Phật lực, cứ lệch lạc muốn cậy vào tự lực, sợ rằng bao kiếp cũng không có ngày thoát khỏi sanh tử. Một bộ Phật Học Cứu Kiếp Biên, một bộ An Sĩ Toàn Thư, một cuốn Sức Chung Tân Lương, có những sách này để làm người hướng dẫn cho tương lai, sẽ tự chẳng đến nỗi bị lầm lạc v́ những kẻ tự phụ thông minh vậy.

 

484. Thư trả lời cư sĩ Tiết Huệ Trúc

Kẻ ngu trong thế gian thích tự lập môn đ́nh, ăn trộm những lời lẽ trong Tam Giáo, lập ra đạo bí mật “chẳng được nói với người khác!” Do bí mật nên những kẻ không biết nội dung đều như nhặng bu theo mùi thối. V́ trước khi được truyền đạo đă phát lời thề độc địa nên kẻ ngu đến chết cũng chẳng dám trái nghịch. Hết thảy ngoại đạo trong thế gian đều cậy vào hai biện pháp này để truyền khắp thiên hạ, không thể nào diệt được! Nếu bọn chúng không có hai biện pháp này th́ không một loại ngoại đạo nào có thể tồn tại, đứng vững trong thế gian! Các ông may đă thoát khỏi đường tà, trở về chánh đạo, hăy nên giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, nghiêm túc tuân phụng Phật pháp. Pháp danh của hai ông Vũ và Tả được viết trong một tờ giấy khác. Gởi cho hai người ấy mỗi người bốn gói sách để làm khai thị. Xin hăy nói với bọn họ. Trong năm nay sẽ có hai lần gởi đến chừng đó cuốn sách (Ngày Mười Ba tháng Tám)

 

485. Thư trả lời cư sĩ Lạc Quư Ḥa (thư thứ nhất)

Nhận được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Quang thuở bé thiếu học vấn, tuổi già chẳng biết ǵ; ai nấy đều đem sai ngoa lan truyền sai ngoa, lầm bảo Quang là tri thức. Lọt vào thế bất đắc dĩ, chỉ đành góp nhặt lời quê mùa cho xong trách nhiệm. Nào ngờ các hạ cũng v́ thấy muôn người đồn đăi như thật mà tưởng là thật, chẳng suy xét [Quang được tiếng thiện tri thức như vậy] thật ra là do một người lan truyền hư giả. [Quang viết] lời tựa cho Tâm Kinh ông chẳng bắt tội th́ là đă rộng dung rồi, huống chi lại c̣n khen ngợi quá đỗi! Xấu hổ há thể nào cùng cực! Tờ báo của quư vị đổi thành nguyệt san, rất hữu ích. C̣n những bài viết hủ bại của Quang đâu đáng để chiếm chỗ tốt đẹp ấy! Huống chi tôi bận việc đa đoan, không có ai chịu nhọc nhằn giùm tôi, dẫu có một hai bài hơi đáng để mắt đến th́ cũng đâu rảnh rang để sao ra gởi tới!

C̣n như các hạ nói “xuất gia để chuyên tu”, Quang trọn chẳng nghĩ như thế là đúng; bởi các hạ tài trí đủ để hoằng pháp, suất lănh người nhà cùng tu Tịnh nghiệp th́ đôi bên đều được lợi ích. Nếu xuất gia th́ người nhà khốn khổ, ắt sẽ dấy ḷng báng pháp. Như vậy là chưa thể tự lợi mà đă hại người nhà trước, nỡ ḷng làm chăng? Phật pháp không một ai chẳng kham tu, mà cũng không một ai chẳng thể tu được. Chỉ nên trong niệm niệm biết “chẳng tu tịnh nghiệp sanh về Tây Phương th́ sẽ luân hồi cả kiếp dài lâu, chẳng thể thoát được!” Do vậy, xót ḿnh, xót người, thương ta, thương người, lớn tiếng hô hào để gần là người nhà, xa là người đời đều cùng tu đạo này! So với việc chỉ cầu tự giải thoát cho chính ḿnh, lợi ích há nào phải khác biệt vời vợi như trời với đất? Đang trong thời buổi hoại loạn đến tột cùng này, muốn văn hồi thế đạo nhân tâm th́ càng phải coi sự lư nhân quả báo ứng là chuyện quan tâm bậc nhất. Biết nhân quả báo ứng, sẽ tự gắng sức làm người lương thiện. Nếu chỉ bàn nói điều huyền lẽ diệu, chẳng chú trọng nhân quả, chắc sẽ trở thành phường “miệng miệng nói không, bước bước làm có!” Lợi ích [sẽ đạt được] cũng chẳng qua là gieo hạt giống trong tương lai mà thôi! Nếu chú trọng nhân quả sẽ giữ được tấm ḷng “sửa lỗi, hướng lành”. Đấy chính là điều phải gấp rút bàn đến khi hoằng pháp trong thuở hiện tại này.

 

486. Thư trả lời cư sĩ Lạc Quư Ḥa (Thư thứ hai)

Nhận được thư hôm Hai Mươi Bốn, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Văn của Quang hệt như gom lá mà các hạ và Lư Khế Nguyên lại phỏng theo lầm lạc, cho là “có thể làm cho người khác sanh ḷng tin tưởng!” Quang cũng chỉ đành đem lầm đáp lạc. Hiềm rằng mấy hôm gần đây công chuyện quá nhiều, thật chẳng có buổi rảnh rỗi, v́ thế lần khân đến nay, chịu lỗi khôn cùng! Tôi vốn muốn đọc cuốn Phật Pháp Yếu Luận hai lượt nhưng không có thời gian, sức lực, chỉ đọc đuợc một lần. Do trong bản giảo chánh gốc, những chữ được viết theo lối Phá Thể đều được liệt kê, nên tôi cũng bắt chước theo, trong [sách] ấy có mấy chữ đáng nên thương lượng, châm chước th́ tôi cũng nêu ra. Xin hăy cân nhắc!

Soạn được lời tựa gồm sáu trăm mấy chục chữ, chi ly, dông dài, thật chẳng đáng xem; chẳng qua cậy vào đó cho xong trách nhiệm. Nếu ghép [bài tựa ấy] vào đầu cuốn sách th́ cũng chỉ là thêm thắt râu ria, chứ trọn chẳng có chỗ nào nêu bật được những ư nghĩa trọng yếu của cuốn sách. Hôm Hai Mươi Sáu, do Phương Viễn Phàm thấy các hạ từ đầu đến cuối sẵn ḷng muốn sao chép lại, liền gởi tới hai bản, cậy Quang giảo chánh một lượt. Do vậy liền đọc hai lần, ngày hôm sau liền gởi đi. Do lúc sắp xếp, giảo chánh c̣n có chỗ sai sót, sợ rằng ông ta sẽ phải in bản đính chánh, nên chẳng dám để lâu. Ngày Hai Mươi Tám, cư sĩ Liên Hàng cũng gởi đến một bản, chắc các hạ đă xem qua rồi. Những chữ bị sai chắc các hạ cũng đă biết hết rồi, nên không gởi đi. Chỉ có ḍng mười bảy trong trang mười chín và ḍng thứ hai trong trang hai mươi tựa hồ bị sót câu văn, xin hăy xem kĩ. Nếu thật sự bị sai sót, xin hăy gởi sang cho cư sĩ Phương Viễn Phàm ở số Bảy Mươi Bốn, ngơ Hằng Dũ, đường Thanh Vân, thuộc Áp Bắc, Thượng Hải. Ông ta ở nhà người em rể. Thư của Lư Khế Nguyên gởi trả lại theo thư này.

 

487. Thư trả lời cư sĩ Lạc Quư Ḥa (Thư thứ ba)

Nhận được thư và bài văn đă sửa đổi rất hay. Cuốn sách ấy (tức Phật Pháp Yếu Luận) văn lẫn nghĩa đều hay, chỉ có ḿnh chỗ ấy dường như bị khiếm khuyết. V́ thế, Quang xin các hạ thêm vào [nguyên bản] để lúc tái bản sẽ in thêm vào. Ngoài ra đều không có ǵ khiếm khuyết cả. Tất cả hai mươi mấy chữ sai đều do kẻ sao chép vô ư gây ra. Quang đang tính cách tái bản, nên với những chữ sai, chữ viết theo lối Tục Thể và đa số là những chỗ thiếu dấu chấm câu, mỗi mỗi đều ghi ra, gởi cho ông Phương Viễn Phàm. Nay tôi đem bản liệt kê [những chỗ sai] ấy gởi cho ông, xin hăy xem qua. Đây là chuyện giảo chánh, đối chiếu nhỏ nhặt, nào dám gọi là “giám đính?” Sách đă có lời tựa của ngài Đế Nhàn th́ đă đủ để phát khởi ḷng kính ngưỡng cho người ta rồi, đâu cần lời tựa của Quang!

Huống chi Quang lắm việc bận bịu, không lâu sau phải sang Thượng Hải để lo liệu chuyện [ấn tống] Quán Âm Bổn Tích Tụng. Lại c̣n phải sắp đặt một bản Văn Sao khác, tính sắp xếp sao cho mỗi trang tăng thêm hai hàng, mỗi hàng thêm hai ba chữ, [thành ra] thêm ba vạn chữ vào lời văn. Nếu chẳng thể mở rộng diện tích in chữ trong một trang th́ cũng là một cách để giảm bớt chi phí.

Thêm nữa, do thanh niên không biết tiết dục cũng như [chẳng biết] những chuyện [cần phải] kiêng kỵ trong ăn nằm; do vậy mất mạng không biết là bao nhiêu, hoặc trở thành tàn tật cũng không đếm xuể. Bởi vậy, tôi phát tâm in cuốn Bất Khả Lục, tăng thêm một vạn chữ, đổi tên thành Thọ Khang Bảo Giám. Một vị cư sĩ bỏ ra một ngàn sáu trăm đồng để ấn tống, có thể in gần tới ba vạn bản. Lần này sang Thượng Hải để lo liệu sắp chữ. Cuối Thu, Văn Sao lẫn Thọ Khang đều có thể in ra sách; do vậy, bận túi bụi. Ước chừng giữa tháng Năm chắc sẽ quay về núi. Tâm Kinh Thiển Thuyết chưa thấy gởi đến, không cần phải lo chuyện này. Dẫu có một hai chữ bị sai cũng không ảnh hưởng lớn lao, người thông hiểu văn nghĩa sẽ đều nhận biết.

 

488. Thư trả lời cư sĩ Lạc Quư Ḥa (Thư thứ tư)

Thư hôm Mười Một chắc ông đă nhận được rồi. Hôm qua nhận được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Đôi bên tâm giao, há cần phải khiêm hư quá mức như vậy? Tâm Kinh Thiển Giải không bị sai ngoa nhiều lắm, do thấy có lúc các hạ dùng chữ theo kiểu Phá Thể nên Quang bèn căn cứ theo đó để nêu ra cặn kẽ; nếu có một hai chỗ thay đổi, xin hăy xem xét kĩ để chẳng đến nỗi “khoét thịt thành vết thương”. Do năm ngoái có chiến tranh nên chẳng dám phát hành bản đính chính cho cuốn Đại Sĩ Tụng (có hơn hai ngàn cuốn ở Trung Hoa [Thư Cục]). Sau đấy do nước cạn, chẳng thể ra khỏi núi được. Nay bản chánh vẫn chưa gởi đến; do vậy, tạm thời dùng giấy Mao Thái in một vạn tờ cho mọi người xem. Nội trong tháng này sẽ phát ra.

Các hạ dùng chữ “có thể rộng ḷng ban cho mấy bộ được chăng?” sao mà xem Quang hẹp lượng đến thế? Quang tính quyên góp in mấy chục vạn cuốn để lưu truyền khắp trong ngoài nước. Tuy chưa thể như nguyện, nhưng đă được sáu vạn bộ rồi. Tuy hoàn toàn giao cho người bỏ tiền ra in tự biếu tặng, nhưng cũng có hơn một vạn bộ cậy Quang biếu tặng. Các hạ đă hỏi xuất bản [hay chưa] th́ được, chứ nói “có thể rộng ḷng ban cho hay chăng?” th́ quá khiêm hư, đâm ra coi nhẹ Ấn Quang! Quang bận bịu quá nhiều chuyện, không rảnh rang để soạn văn. Vào ngày Hai Mươi Mốt, Hai Mươi Hai sẽ sang Thượng Hải để lo liệu chuyện [ấn tống] Quán Âm Tụng và nhờ Trung Hoa [Thư Cục] sắp chữ để in một bản Văn Sao khác.

Lại c̣n cho sắp chữ bản tăng đính cuốn Bất Khả Lục, ước chừng trong năm nay đều có thể in ra sách. Bất Khả Lục là do một cư sĩ được Tam Bảo gia bị, chẳng dùng thuốc mà căn bệnh ngặt nghèo suốt mấy tháng được lành (do vợ ông ta cầu nguyện suốt đời ăn chay nên ngay hôm ấy liền có chuyển biến, chẳng thuốc men mà được lành); do bệnh đă lâu chưa được b́nh phục hoàn toàn mà đă phạm “pḥng sự” (ăn nằm) liền đến nỗi mất mạng. Quang nghĩ: Người đời chẳng biết kiêng kỵ đến nỗi người tử vong chẳng biết là bao nhiêu, liền phát tâm in sách này nhằm cứu giúp bọn thanh niên một cách vô h́nh, đạt đến b́nh trị khi chưa loạn, giữ yên đất nước khi c̣n chưa nguy. Nếu vị cư sĩ ấy biết được chuyện này sẽ trọn chẳng đến nỗi gặp phải kết quả ấy. Người ấy c̣n là người thành thật ưa thích điều nghĩa, chứ không phải là kẻ đớn hèn; tiếc là do chẳng biết kiêng kỵ đến nỗi mất mạng! Do vậy, người vợ hiền chí thành cầu đảo cho chồng được lành bệnh rốt cuộc trở thành ác phụ giết chồng, đều là do lúc thường ngày chẳng hiểu biết về đạo ăn nằm giữa vợ chồng nên mới đến nỗi như thế. Các hạ hành nghề Y, càng phải nên răn nhắc [bệnh nhân] về chuyện kỵ húy này để hết thảy mọi người chẳng đến nỗi lầm lạc mất mạng. Công đức ấy so với công dùng thuốc trị bệnh sẽ càng rộng lớn hơn nhiều.

Từ nay về sau, nếu không có chuyện ǵ khẩn yếu đừng gởi thư đến; bởi tôi ra khỏi cửa bận bịu lắm việc, không rảnh rỗi để phúc đáp được đâu! Ước chừng giữa tháng Năm tôi sẽ trở về núi, v́ trong tháng Ba năm ngoái, vị Trụ Tŕ đă thoái ẩn của ngôi chùa tôi ở đă giao cho tôi giám đính Phổ Đà Sơn Chí (do một Nho sĩ tu chỉnh), đă cả năm rồi nhưng vẫn chưa rảnh rỗi để xem đến. Khi về núi, phải lo chuyện này trước để sách được lưu thông (Ngày Mười Bốn tháng Ba)

 

489. Thư trả lời cư sĩ Bàng Khế Thành

Toa thuốc cai á phiện gởi kèm theo thư cực hay. Trong hai bản khắc gỗ và đúc kẽm bộ An Sĩ Toàn Thư và Văn Sao, Quang đều có đính kèm [toa thuốc này]. Lại c̣n gởi khắp cho những bạn bè quen biết các nơi, mong [toa thuốc ấy] được lưu truyền. Y theo toa thuốc ấy để cai nghiện, trong mười người có đến tám chín người khỏi nghiện. Những kẻ không cai nghiện được quá nửa là do thân thể người ấy trước đó đă sẵn bệnh, hễ cai hút liền đổ ra bệnh khác. Đây chẳng phải là thuốc không linh nghiệm mà là do [cơ thể] người ấy thiếu căn bản (tức không đủ mạnh để có sức chịu đựng những vật vă khi cai nghiện – chú thích của người dịch). Ấy là tánh chất đặc biệt, chứ không phải là điều phổ cập tổng quát. Sợ có một hai kẻ thấy toa thuốc không linh nghiệm bèn nói toa thuốc ấy chẳng hay, nên tôi giăi bày nguyên do. Ôi! Người nước ta mê muội đến thế, coi chất Trầm độc là bổ dưỡng, nào biết nó đă khiến cho nhà tan, nước nghèo, nhân dân suy đồi, tàn phế! Chao ôi, buồn thay!

 

490. Thư trả lời cư sĩ Bách Linh

Học đường hiện thời đúng là hầm bẫy người. Chẳng hăm trong tà thuyết th́ cũng hăm trong tự do luyến ái, mặc t́nh ăn chơi bừa băi. Phải biết rằng con người chỉ là một động vật cao bốn năm thước mà cùng với trời đất xưng thành Tam Tài th́ cái danh xưng Con Người tôn quư không chi bằng! Danh đă tôn quư, ắt phải có thực chất tôn quư th́ mới đáng gọi là Người. Nếu không, sẽ thành “cầm thú đội mũ, mặc áo”, do không có hơi hướng của con người! “Tài” () là khả năng. Trời có khả năng sanh ra vật, đất có khả năng chở vật, con người có khả năng kế thừa bậc thánh đời trước, mở mang lối học cho người đời sau, giúp đỡ những chỗ trời đất chẳng thể sanh thành, trưởng dưỡng! V́ thế, mới cùng với trời đất xưng là Tam Tài. Nếu chỉ biết ăn uống, trai gái, chẳng biết “hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ” th́ so ra c̣n xấu hèn hơn cầm thú. Người như thế chỉ mang xuông cái thân người suốt cả một đời, trọn chẳng có một điểm nào mang hơi hướng con người! Khi một hơi thở ra không hít vào được nữa, sẽ đọa địa ngục trải trăm ngàn kiếp trọn chẳng có thuở thoát ra. Muốn làm cầm thú c̣n chưa thể được; huống là lại được làm thân người ư?

Thuở ban đầu ông không biết nghĩa này, nghe bạn xấu xúi giục bèn ăn chơi bừa băi, đến khi bị mắc bệnh phong t́nh đau đớn không thể chịu đựng nổi. Lành bệnh rồi lại ăn chơi, lại đổ bệnh, lại phạm, cũng là kẻ chẳng biết tốt - xấu quá mức, quá thiếu chí hướng, khí tiết! Cần biết rằng đàn ông ăn chơi bừa băi và nữ giới lén lút tằng tịu với người khác trọn chẳng hơn kém nhau! Người đời thường coi chuyện nữ giới lén lút tằng tịu với người khác là hèn hạ, chẳng chê trách nam giới ăn chơi bừa băi. Đấy đều là chẳng biết đến ư nghĩa tên gọi Con Người, cho nên mới có tri kiến kém hèn như thế. May là ông đă nhiều lần chịu khổ, mới biết quay đầu, cũng là do thiện căn trong đời trước xui khiến. Nhưng Quang vẫn phải nói rơ nguyên do, v́ sợ ông chưa chết hẳn cái tâm ấy, chắc sau này sẽ lại giẫm theo vết xe đổ ấy!

V́ thế, muốn làm cho ông biết danh hiệu Con Người tôn quư, chẳng đến nỗi tự ruồng rẫy, tự vứt bỏ! Và c̣n dùng những điều này để khuyên nhủ hết thảy thanh niên nam nữ cùng vâng giữ danh xưng Con Người tôn quư, thực hành điều lành thế gian là “giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành”. Lại c̣n phát Bồ Đề tâm, làm lợi khắp ta lẫn người, đều cùng sanh ḷng tin, phát nguyện, niệm thánh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương để tu điều lành xuất thế. Như vậy sẽ đáng gọi là Con Người, tuy chưa thể kế thừa bậc thánh đời trước, mở mang lối học cho người đời sau, giúp đỡ quyền sanh thành trưởng dưỡng của trời đất giống như bậc thánh hiền thời cổ, nhưng đă có chút phần công đức “kế thừa, mở mang, giúp đỡ” th́ cái danh xưng Con Người mới có thực tế, chẳng thành nói xuông!

Nay đặt cho ông pháp danh là Tông Thành. Tông là chủ, là gốc. Nghĩa là dùng ḷng chí thành chân thật để tự hành, dạy người, chẳng để một mảy may ư niệm hư giả và xấu hèn [nảy sanh] đến nỗi cô phụ một chữ Người vậy! Hăy nên tự tŕ Ngũ Giới trước. Đă có thể tŕ thật sự lâu ngày rồi mới thọ, sẽ chẳng khó khăn ǵ! Nếu tâm vẫn c̣n do dự sẽ gọi là “tṛ đùa trẻ nít!” Chẳng những ông tự mắc tội lỗi mà Quang cũng cùng phạm tội lỗi (Ngày mồng Tám tháng Sáu)

 

491. Thư trả lời cư sĩ Huệ Tài

Nhiều lần mơ thấy giấc mộng tốt đẹp, ấy chính là do nhân trong đời trước lẫn ḷng khẩn thiết trong đời này cảm vời. Đại tự viện [trong giấc mộng] chính là pháp hội Hoa Nghiêm, nhưng do ông chưa phá Phiền Hoặc, chỉ thấy được tướng tầm thường, chẳng thấy được tướng thù thắng, nhưng thấy được cảnh giới ấy cũng đă chẳng dễ dàng ǵ! Đối với chuyện [ông nằm mộng thấy] vị trưởng giả đưa nước cho uống, ấy chính là Văn Thù Bồ Tát đem cam lộ ban cho ông. Hăy nên thường gắng sức để khỏi phụ một phen ân đức gia bị.

Ấy là v́ phàm phu sát đất phần nhiều bị cảnh chuyển. V́ thế nên Tăng Tử khi sắp mất, mới nói: “Kinh Thi có câu: ‘Dè dặt kinh sợ như vào vực sâu, đi trên băng mỏng’, từ nay trở đi, ta biết thoát khỏi”. Chưa đến lúc lâm chung, vẫn sợ có khi bị vây hăm, ch́m đắm, chẳng dám nói lời lớn lối ấy. Những kẻ thích ăn nói lớn lối hiện thời đều là những gă cuồng trọn chẳng dụng công nơi những điều họ có thể thực hiện được! Lệnh hữu thiệt căn (lưỡi) không nhanh nhạy chính là v́ túc nghiệp. Niệm kinh Pháp Hoa cố nhiên là tốt, nhưng niệm Phật, niệm Quán Âm cũng có thể tiêu nghiệp, tăng huệ; chớ nên cố chấp, cho là “chỉ có niệm kinh Pháp Hoa mới được như thế”. Nếu thật sự chí thành niệm Phật c̣n có thể siêu phàm nhập thánh, nào phải chỉ khiến cho thiệt căn được lanh lợi mà thôi ư? (Ngày Hai Mươi Lăm tháng Giêng năm Đinh Sửu - 1937)

 

492. Thư trả lời cư sĩ Huệ Hoa

Mấy hôm trước nhận được thư ông, khôn ngăn khiến người khác đau ḷng! Thiên tai, nhân họa liên tục giáng xuống các tỉnh nước ta, dân không lẽ sống, thật đáng đau đớn thở than. Truy t́m nguyên nhân th́ cái nhân xa là do Tŕnh - Châu đả phá nhân quả luân hồi, cái nhân gần là do nhà cầm quyền đương thời vứt bỏ pháp tắc của bậc thánh nhân thời cổ, noi theo đường lối của người Tây Phương, đến nỗi cả nước như cuồng, ḷng người ngày càng bại hoại, thiên tai thường giáng xuống. Nhà ông ở gần bờ sông, chẳng những nhà cửa đă không c̣n, chỉ sợ ruộng nương cũng tan nát. Suy tính đến kế sách cho tương lai, hăy nên đưa mẹ già và gia quyến dọn đến sống nơi tỉnh thành, có tiền lương của ông th́ cũng c̣n có thể duy tŕ được! Nếu ḷng mơ tưởng xa xỉ quá mức, muốn khôi phục lại nhà cửa, ruộng đất như xưa, sợ không có sức làm như vậy được đâu!

Nếu cứ cưỡng làm, chắc sẽ không thể nào chẳng noi theo hành vi của con người hiện thời, tức là vẫn hiềm tai ương c̣n bé nhỏ, càng tạo cái nhân cho tai họa lớn lao hơn, đấy chính là cách suy nghĩ tính toán của kẻ si vậy! Nếu có thể toàn thân buông xuống, chỉ quan tâm đến t́nh trạng hiện thời, quyết chẳng dám lại tạo cái nhân gây ra tai họa nữa th́ mai sau sẽ hưởng t́nh cảnh tốt đẹp không ngờ! Quân tử hành xử theo đúng địa vị (chính là lúc hiện tại vậy). Đấy chính là cách tốt lành “gặp cảnh hoạn nạn bèn hành xử theo cảnh hoạn nạn”. C̣n chuyện lập cách để cứu giúp th́ Quang đâu có sức lực lớn lao ấy. Năm nay, tôi đă tiêu lặt vặt vào chuyện cứu tế tai nạn và công ích hơn một ngàn đồng. Với những khoản tiền do người khác quyên tặng để in sách, tôi đă bảo họ đem cứu tế tai nạn tại Thiểm Tây tới hơn hai ngàn đồng. Huống chi Quang một mực chẳng chịu hướng về người khác quyên mộ, chẳng qua họ đă phát tâm, liền bảo họ chuyển [khoản tiền ấy] sang [làm chuyện khác] mà thôi!

Điều đáng nên dốc sức là phải cực lực đề xướng nề nếp đạo đức cũ, nhân quả, báo ứng. Trước mắt, [tôi cho] ấn hành cuốn Bát Đức Tu Tri, đợi khi sách được in ra sẽ gởi cho ông mấy gói để làm căn cứ đề xướng. Hiện thời, Quang bận bịu cùng cực, hết thảy chuyện thù tiếp đều tạ tuyệt. Do kể từ mùa Xuân năm ngoái phải tu chỉnh ba bộ Sơn Chí Thanh Lương, Nga Mi, Cửu Hoa, thỉnh ông Hứa Chỉ Tịnh soạn những ư chánh, c̣n chuyện sửa chữa, sắp đặt đều giao về cho Quang. Gần hết một năm rồi mà chưa xong được bộ nào cả! Nay Thanh Lương Chí đă cho sắp chữ, nếu không cự tuyệt hết thảy th́ thật khó thể nào như pháp được. Ước chừng năm sau vào thời điểm này chắc sẽ đều xong xuôi hết. Nếu có bộ nào được in ra, cũng sẽ gởi cho ông. Xin đừng gởi thư tới, dẫu nhận được sách cũng chỉ ghi giản lược là “đă nhận được” mà thôi!

 

493. Thư trả lời cư sĩ Trần Bá Đạt (Thư thứ nhất)

Nhận được thư, biết lệnh nghiêm gặp rất nhiều chuyện linh cảm, khôn ngăn khâm phục, an ủi. Nếu ước theo lúc nhận lănh pháp th́ Đại Sĩ và thiên long bát bộ đều hiện, nhưng chắc là do có giới cấm của Mật Tông không cho phép tuyên truyền cảnh giới nhiệm mầu [cho nên cụ không nói ra]. Đấy có phải là v́ Bồ Tát thuận ḷng người chuyên phụng thờ Cơ Đốc (Christ) mà thị hiện đó chăng? Nếu ước theo nghĩa này để phán định th́ cụ nhất định có sở chứng. Nếu cụ không có sở chứng, chắc chắn bậc thánh chẳng khinh suất ứng hiện xuông được! Nếu nói để khơi gợi ḷng tin mà thấy Ứng Thân th́ đấy chính là tướng trạng khi người niệm Phật lâm chung, do chưa phá vô minh nên thân [của Phật, Bồ Tát, thánh chúng] được thấy đều là Ứng Thân; bởi lẽ, do thiện căn của người ấy chưa thể thấy được Pháp Thân và Báo Thân. Đối với cảnh tượng được thấy nơi động Phạm Âm ở Phổ Đà, ấy chính là Bồ Tát thuận theo ḷng chúng sanh để tăng trưởng tín tâm cho họ. Ai nấy đều được thấy, nên chẳng thể lấy đó để làm lệ được! Nếu lấy đó làm lệ, sẽ khiến cho hết thảy mọi người đều dựa vào đấy để bịa đặt rêu rao.

Người thời cổ thấy được đức Văn Thù ở Ngũ Đài khá nhiều, nhưng [mỗi vị ấy] đều có đại nhân duyên hoặc có công phu sâu xa. Ai thấy được Ngài bèn ngộ giải, chứng nhập. Năm Quang Tự mười hai (1886), Quang triều bái Ngũ Đà. Trước [khi lên núi] đă t́m nát cả con đường Lưu Ly Xưởng ở Bắc Kinh nhưng chỉ kiếm được một bộ Thanh Lương Sơn Chí, hằng ngày thường đọc. Do trời lạnh nên đến đầu tháng Ba mới tới được núi, ở lại núi hơn bốn mươi ngày, thấy người đến núi triều bái phần nhiều bảo đă thấy được Văn Thù Bồ Tát, nhưng rất ít người chân thật hành tŕ, nên biết rằng những kẻ đến núi bảo “thấy được Bồ Tát” đều là nói hùa theo sự tích của cổ nhân để khoe khoang. Nếu thật sự thấy th́ người ấy ắt phải vàng - thau khác hẳn với những kẻ thuận gịng vỗ sóng. Nếu không, đức Văn Thù chẳng tự trọng, khinh thị hiện thân để làm ǵ cơ chứ? [Từ ngữ] “Lư Tức Phật” để chỉ hết thảy chúng sanh, chứ không phải chỉ nói về kẻ trái trần hiệp giác. Nếu trái trần hiệp giác th́ đă thuộc về Danh Tự [Tức Phật].

Ông X… lúc nhập định giống như đức Tỳ Lô Giá Na, xuất định vẫn là phàm phu mà c̣n chẳng biết hổ thẹn, ăn nói lớn lối gạt người! Nếu thật sự giống như đức Tỳ Lô Giá Na, chắc chắn chẳng đến nỗi vẫn là phàm phu! Ông ta vốn muốn dùng Mật Tông để ép người, chẳng biết Quang tuy chẳng biết Mật Tông, há chẳng biết đúng - sai [đến nỗi] ông ta liền có thể lung lạc Quang hay sao?

Cha ông cả đời gặp chuyện linh cảm quá nhiều, dẫu người ở ngoài ngàn dặm hay trăm dặm nghe thấy cũng sẽ phát sanh ḷng tin. Huống chi lúc mẹ ông mất, hiện tướng lành đài vàng, lại c̣n trở lại báo tin cho anh em ông và các nàng dâu biết ư? Nếu chẳng sanh ḷng tin, [các ông] cũng đáng gọi là “hạng cứng cổ đến cùng cực!” Cha mẹ ông lúc c̣n sống hay sau khi đă mất đều có dấu tích siêu phàm nhập thánh, nhưng ông chẳng sanh ḷng cảm kích nơi lợi ích lớn lao ấy mà vẫn cứ lo so đo gia đạo giàu - nghèo, bảo là “thờ Chúa th́ giàu, thờ Phật th́ nghèo!” Do vậy chẳng sanh khởi tín tâm. Chuyện này trọn chẳng khác ǵ kẻ trông thấy bảo châu Ma Ni có thể thuận theo ḷng người mà tuôn ra các món báu, nhưng vẫn khinh rẻ bảo châu, quư trọng mắt cá, coi như của báu tột cùng! Mất trí điên cuồng cùng cực đến mức ấy, đến nỗi mẹ ông lại phải nhọc công hiện thân mới hơi ngớt lời gièm báng! Thật đúng là “phụ hữu trường thiệt, duy lệ chi giai” (tạm dịch: Mụ vợ lưỡi dài, cội nguồn mối họa), cô phụ ân Phật, cô phụ ân mẹ!

Nghịch cảnh, t́nh huống khổ sở tuy xấu xa, nhưng muốn thành tựu đạo nghiệp th́ vẫn phải nhờ vào đấy để nhắc nhở. Nếu không, hằng ngày sẽ rong ruổi trong chốn thanh, sắc, vật chất, lợi lộc, rảnh đâu để đoái hoài “chính ta sẵn có Phật tánh” để ḥng miệt mài muốn được đích thân chứng nhập ngơ hầu được thọ dụng. Chúng sanh sống chết không ngơi đều v́ có Ngă. Nếu vô ngă th́ tham - sân - si, giết - trộm - dâm sẽ do đâu sanh khởi? Do lầm nhận cái Ngă do Tứ Đại giả hợp này nên Chân Ngă trọn đủ bốn tịnh đức “Thường - Lạc - Ngă - Tịnh” hoàn toàn bị mai một! Do vậy, thế đạo, nhân tâm ngày một đi xuống, giết người đầy đồng ngập thành chẳng sanh xót thương, đều là v́ Ngă gây ra. Quang vốn là kẻ ḷng dạ thẳng băng, chẳng thể không nói thật t́nh với ông (Ngày Hai Mươi Sáu tháng Mười năm Ất Sửu - 1925)

 

494. Thư trả lời cư sĩ Trần Bá Đạt (Thư thứ hai)

Ông nói: “Để tự lợi th́ phải xuất gia, c̣n làm lợi người khác th́ đừng xuất gia!” Chẳng biết: Tu Giới - Định - Huệ chỉ có xuất gia là dễ dàng; chứ nếu tu pháp môn Tịnh Độ th́ tại gia càng dễ đắc lực hơn. Nếu cho rằng “tại gia quyết khó thể tu hành”, th́ xuất gia cũng chẳng thể tu hành được! V́ sao vậy? Do khi c̣n tại gia chẳng dốc sức th́ khi xuất gia làm sao sốt sắng cho được? Đây là t́nh thế “quyết chẳng thể thực hiện” có thể dự đoán được! Nhà ông có vợ con, [nếu ông xuất gia] họ sẽ không nơi nương tựa, há nên khởi ra vọng tưởng ấy? Đấy chính là t́nh kiến chần chừ, so đo vậy! Nếu ông thật sự xuất gia th́ vẫn là kẻ lười trễ, biếng nhác, chẳng có thành tựu ǵ! Quang đă thấy nhiều lắm rồi!

Đối với chuyện thọ giới, “không làm các điều ác, vâng làm các điều thiện” chính là Giới tổng quát của ba đời chư Phật, ai chẳng chấp nhận cho ông tự phát tâm thọ? Ngay cả Ngũ Giới, ai không cho phép ông đối trước đức Phật tự thệ thọ giới? Cần ǵ phải đến Phổ Đà mới thọ được ư? Ngàn vạn phần đừng tới Phổ Đà. Do tới đây phải tốn chừng đó tiền tàu xe, mất chừng đó ngày, chẳng qua [vị thầy truyền giới] chỉ truyền danh tướng của Ngũ Giới mà thôi! Nếu cứ muốn phải thọ từ thầy th́ ở Thường Thục cũng có Tăng nhân thanh tu, há [vị ấy] chẳng thể truyền giới mà cứ muốn phải thọ từ Quang mới được ư?

Người học Phật trước hết phải biết thực hiện cẩn thận, dè dặt nơi nhân quả. Đă có thể thận trọng, dè dặt th́ tà niệm tự trong lặng, đâu đến nỗi có những chuyện chẳng đúng pháp! Nếu có, hăy nên dốc sức đoạn diệt th́ mới là chân thật tu hành. Nếu không, học một đằng, hành một nẻo, tri kiến càng cao, hành vi càng tệ. Đấy chính là vết thương thấu xương của những kẻ học Phật tự xưng là thông gia hiện thời! Nếu chẳng vướng vào hai khuyết điểm ấy th́ học một phần sẽ được một phần lợi ích thật sự.

Cơi đời hiện thời chính là đời hoạn nạn. Trước kia, Quang thỉnh ông Hứa Chỉ Tịnh soạn cuốn Quán Âm Bổn Tích Cảm Ứng Tụng đă cho sắp chữ. Nay gởi cho ông một trang thuyết minh [cách đứng ra chịu trách nhiệm in]. Có ai muốn lợi người th́ chẳng ngại ǵ bảo họ đứng ra chịu trách nhiệm ấn hành để lưu truyền. Hiện thời đă có người chịu trách nhiệm đến năm sáu vạn bộ. Quang tính in mấy chục vạn cuốn để lưu truyền khắp trong ngoài nước. Sợ chẳng dễ ǵ đạt đến như vậy. Trên mười vạn bộ chắc sẽ làm được! (Mồng Bảy tháng Mười Một năm Ất Sửu - 1925)

495. Thư trả lời cư sĩ Châu Văn San (Thư thứ nhất)

Chúng sanh đời Mạt muốn liễu sanh thoát tử ngay trong đời này mà nếu chẳng niệm Phật cầu sanh Tây Phương, chắc chắn sẽ chẳng thể đạt được! V́ sao vậy? Do không có sức để đoạn Hoặc. Do niệm Phật cầu sanh Tây Phương là cậy vào Phật từ lực nên kẻ chưa đoạn Hoặc cũng có thể văng sanh. Đă văng sanh rồi th́ ba thứ Hoặc - Nghiệp - Khổ đều cùng tiêu diệt. Ví như mảnh tuyết rớt vào ḷ luyện lớn, chưa đến nơi đă tan mất. Do Tây Phương là cảnh giới của Phật, Bồ Tát, nên phàm phu hễ [sanh] đến đó, phàm những ǵ chẳng mong đoạn đều tự đoạn.

Nếu ông muốn liễu sanh tử hăy nên thỉnh Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao (có bán ở Phật Học Thư Cục tại Thượng Hải) đọc kĩ sẽ tự nhiên hiểu rơ ràng. Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ, từ nay đừng gởi thư đến nữa, gởi đến cũng không trả lời. Do Văn Sao là một bộ sách khai thị, cần ǵ phải có một lá thư [để khai thị] nữa? Hơn nữa, Quang sẽ chết trong sáng tối, chẳng thể thù tiếp được ư? (Ngày Mười Hai tháng Tám)

 

496. Thư trả lời cư sĩ Châu Văn San (Thư thứ hai)

Thư gởi hôm Mười Bốn đă nhận được, do bận việc chẳng thể trả lời ngay. Năm đồng sẽ dùng làm tiền in Văn Sao Tục Biên. Quang vốn chẳng muốn in nữa, cho nên từ năm Dân Quốc 15 (1926), [sau khi] Trung Hoa Thư Cục ấn hành bản Tăng Quảng Văn Sao hoàn chỉnh, tất cả văn tự thù tiếp đều nhất loạt chẳng giữ lại bản thảo, nhưng Đương Gia chùa Báo Quốc là thầy Minh Đạo sai người lén sao chép. Năm Dân Quốc 24 (1935), thầy ấy mất, những bản thảo sao chép được giao cho Đương Gia chùa Linh Nham [là thầy Diệu Chân]. Thầy ấy lại sưu tập những lá thư từ các tờ bán nguyệt san v.v…, Quang chỉ đành thuận theo ư thầy ấy; hiện thời đă cử người sao lại theo lối Chân Thư để khỏi bị sai ngoa khi sắp chữ.

Ông quyết định muốn cầu sanh Tây Phương, hăy nên thỉnh Ấn Quang Pháp Sư Tăng Quảng Văn Sao và Gia Ngôn Lục từ Phật Học Thư Cục tại ngay nơi ḿnh ở. Nếu có lúc rảnh rỗi th́ thỉnh Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục (hai loại sách này đều do Quang đứng ra ấn hành), Tịnh Độ Ngũ Kinh (thuộc loại kinh sách để đọc tụng, cũng do Quang ấn hành) để xem th́ những điểm chánh yếu của pháp môn Tịnh Độ sẽ đều biết rơ. Đă muốn sanh về Tây Phương, ắt phải ba nghiệp thanh tịnh, hăy nên kiêng giết, ăn chay, cũng khuyên cha mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ con đều cùng ăn chay niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Sanh về Tây Phương sẽ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, sao nỡ để bậc sanh ra ta và những người “đồng khí liên chi” với ta chẳng được hưởng lợi ích thù thắng này? Đối với người chung quanh, người trong cơi đời c̣n phải nên khuyên họ tu tŕ, huống là cha mẹ quyến thuộc của chính ḿnh ư?

Cần biết rằng: Niệm Phật cầu sanh Tây Phương chính là pháp môn đặc biệt trong nhà Phật. Đa số kẻ tham Thiền giảng kinh chẳng đề xướng pháp này, hăy nên lập chí quyết định, bất luận họ nói như thế nào, ông trọn chẳng nghe theo lời họ rồi tu pháp khác! V́ sao vậy? Do Niệm Phật là cậy vào Phật lực để liễu sanh tử. Có ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, chí thành khẩn thiết niệm th́ ai nấy đều giải quyết xong xuôi [sanh tử]. Những pháp môn khác đều phải đoạn sạch phiền năo (tức Kiến Hoặc và Tư Hoặc trong tam giới) rồi mới có thể liễu được! Sự khó - dễ [giữa pháp môn này và các pháp môn khác] giống như sự cách biệt giữa trời và vực vậy (Ngày Mười Bảy tháng Tám).

 

497. Thư trả lời cư sĩ Mă Tông Đạo (Thư thứ nhất)

Nhận được thư, biết niệm mỗi ngày một thuần, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Năm nay loạn lạc quả là từ ngàn xưa chưa hề nghe nói tới! Đấy đều là v́ ác nghiệp của chúng ta từ trong những kiếp xa xưa cảm vời, nên tuy chưa thật sự chịu khổ mà sự kinh hoảng, thê thảm đă chẳng thể nào diễn tả được! Các hạ đă biết nóng giận có hại, sao trong lúc nổi nóng chẳng nghĩ ḿnh đă chết? Chết rồi th́ mặc cho ai làm ǵ th́ làm, trọn chẳng tranh chấp với họ! Nếu luôn nghĩ sẽ chết th́ đạo niệm sẽ tự thiết tha, t́nh niệm sẽ tự dứt.

Người đời nay thích lập ra chương tŕnh mới, những kẻ phế bỏ luân thường, vứt bỏ ḷng thẹn v.v… c̣n công khai đề xướng, muốn thúc đẩy tiến hành trên khắp toàn quốc. Chúng ta tuân theo giáo giới của đức Phật, kiêng giết, ăn chay, há c̣n sợ những người cùng một tôn giáo dị nghị? “Gặp chuyện nhân chẳng nhường, thấy chuyện nghĩa liền dũng mănh làm”, vẫn mong lấy thân làm gương để dẫn dắt những kẻ câu nệ nơi giáo vào được pháp môn Đại Thừa ngơ hầu chẳng phụ ân Phật, chẳng phụ tánh linh của chính ḿnh th́ mới là đạo cứu thế.

Người cao tuổi cố nhiên nên nhất tâm niệm Phật; đọc kinh luận Đại Thừa chẳng qua là để hiểu rơ Lư Tánh, gieo thiện căn mà thôi! Nếu đă muốn liễu thoát ngay trong đời này, xin hăy như đă đến lúc lâm chung, như đọa trong nước lửa lớn mong được cứu vớt mà niệm Phật, ắt sẽ có thể cậy vào Phật từ lực đới nghiệp văng sanh. Nếu không, sẽ khó giữ vững được! Xin hăy đọc kĩ Văn Sao sẽ tự biết.

Người đời thường câu nệ vào giới hạn giữa các giáo đến nỗi suốt đời chẳng nghe đại pháp, mà vẫn tự cho là có công tuân thủ bổn giáo (giáo pháp của chính ḿnh [đang tu học]). Nếu [vị nào] thật sự là thánh hiền của bổn giáo mà chỉ cho phép người khác nương theo [những lư lẽ trong] bổn giáo để luận giáo, c̣n những lư thuộc các giáo khác dẫu có hay hơn bổn giáo cũng chẳng chấp nhận đưa vào; nếu có đưa vào đi nữa th́ cũng không tán thành. Nếu vậy th́ thật sự chẳng khác ǵ tri kiến của lũ trẻ nhỏ ở ngoài chợ búa, há c̣n đáng gọi là thánh hiền nữa ư? Do vậy, biết rằng: Tự ràng buộc ḿnh bởi giáo điều đều là trái nghịch tâm của các vị thánh hiền trong bổn giáo.

Ông vốn là Hồi giáo, tín phụng Phật pháp, quy y Tam Bảo, đáng gọi là “bậc hào kiệt”. Nhưng phải gắng sức giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính ḿnh, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Dùng những điều này để tự hành, lại c̣n dùng những điều ấy để dạy người, chắc chắn sẽ tự có thể thoát khỏi đời ác Ngũ Trược này, sanh sang cơi sen thanh tịnh kia, chẳng đến nỗi trên phụ ân Phật, dưới phụ tánh linh của chính ḿnh.

Nay đặt pháp danh cho ông là Tông Đạo, vợ ông là Tông Đức, Văn Khánh có pháp danh là Huệ Sướng, Văn Dũ có pháp danh là Huệ Phong, Văn Trí có pháp danh là Huệ Thuần, Văn Hinh pháp danh là Huệ Phức để bọn họ đều cùng ăn chay niệm Phật. Nếu chẳng thể ăn chay thuần th́ đừng mặc sức ăn [mặn]. Một là ǵn giữ tâm Từ, hai là bảo vệ thân thể. Tôn giáo của ông ăn thịt trâu ḅ, hăy nên kiêng tránh, bởi trâu ḅ có công đối với con người, ăn vào sẽ càng thêm tội lỗi.

Người Hồ Nam ăn cơm [có thói quen] không ăn hết, phong tục ấy thật tệ. Đối với người dân, thức ăn trọng như trời, sao dám phung phí? Hăy nên nói với con cái và tôi tớ về nguyên do này, dẫu một hạt hay nửa hạt cũng không nên phí!

+ Nếu con người quăng vứt ngũ cốc, chắc chắn đời sau sẽ không có cơm ăn, cũng có kẻ bị quả báo chết đói ngay trong đời này!

+ Nếu con người giẫm đạp giấy viết chữ, chắc chắn đời sau sẽ không mắt, ngu si, vô tri.

Hăy nên dạy con cái v.v… cùng đọc Âm Chất Văn, Cảm Ứng Thiên, giảng nói cho bọn họ hiểu để họ biết tới đạo làm người và lư nhân quả ba đời, tương lai sẽ chẳng đến nỗi trở thành phường bạo ác. Kẻ giết cha, giết mẹ, phế luân thường, vứt bỏ ḷng thẹn đều do từ lúc ban đầu đă chẳng biết đạo làm người và nhân quả báo ứng. Vừa được nghe tà thuyết bèn cực lực nương theo để thỏa cái tâm phóng túng không kiêng dè, đáng buồn thay! Nay gởi cho ông Di Đà Kinh Bạch Thoại, Tâm Kinh Chú, Học Phật Thiển Thuyết, Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, gộp chung thành một gói để ông lấy đó làm căn cứ giáo huấn lũ con về đạo lập thân tu đức.

Ông chưa hết ḷng đọc kĩ Văn Sao. Nếu có đọc cũng chỉ hời hợt lướt mắt qua mà thôi!

1) Ông nói “thoạt đầu, từ Thập Niệm mà tiến hành”, chẳng biết pháp Thập Niệm v́ người cực bận rộn mà lập ra. Do họ suốt ngày không được rảnh rang, chỉ có thể niệm mười hơi vào buổi sáng. Nếu là người có thời gian và sức lực, há phải chỉ có mười niệm là xong ư? Nếu trước hết niệm mười niệm, rồi dựa theo thân phận của chính ḿnh mà lập ra công khóa để thực hiện th́ được. Nếu chỉ mười niệm rồi thôi, sẽ không được! Huống chi đang trong t́nh thế hoạn nạn này, nguy cơ họa hại mai phục bốn phía. Nếu chẳng chuyên dốc chí niệm Phật và niệm Quán Âm, lỡ một mai họa hoạn xảy tới, c̣n có cách nào để được yên vui nữa đây? Huống chi gia đ́nh ông c̣n mang tiếng là “có của ăn, của để”, tuy hiện thời đă kém trước kia, nhưng những kẻ si dại thường muốn đoạt lấy. Ông không biết pháp môn Tịnh Độ th́ thôi! Đă biết rồi há nên tu tŕ hờ hững? Nếu nói “duyên thế gian khó thể vô ngại” th́ chỉ nên “hễ có chuyện bèn giảm lần”. Lúc vô sự, sao không chuẩn bị sẵn cho lúc hữu sự để khỏi mắc lỗi gián đoạn chẳng tu tập vậy?

2) Xét theo lư, nên ăn chay thuần; dẫu gặp t́nh thế khó thể ăn chay ngay, cũng nên bớt ăn [mặn]. Dẫu ăn [mặn] th́ cũng nên giữ tấm ḷng thương xót, độ thoát, chứ không phải là “người ăn mặn chẳng được niệm Phật!”

3) Niệm Phật há có chương tŕnh nhất định! Chỉ nên chọn sao cho thích nghi.

+ Lúc sáng suốt, tỉnh táo th́ niệm theo lối Kim Cang tŕ hoặc niệm thầm.

+ Lúc hôn trầm th́ niệm nhỏ tiếng hoặc niệm lớn tiếng.

4) Lễ Phật một lạy diệt tội hà sa. Hăy nên lượng theo khả năng của chính ḿnh, đừng chỉ mong sao an nhàn, thảnh thơi.

5) Lễ Phật chỉ cốt sao chí thành, cung kính; cố nhiên chẳng phải chấp chặt theo h́nh thức lễ nghi thế gian hay xuất thế gian.

6) Nên lấy kinh Di Đà làm công khóa sáng tối. Nếu có thời gian rảnh rang, lúc sáng sớm rửa ráy, súc miệng xong xuôi, trước hết dùng pháp Thập Niệm. Kế đó lại lễ Phật ba lạy, niệm kinh Di Đà một biến, Văng Sanh Chú ba biến, niệm Kệ Tán Phật, niệm Phật năm trăm câu hoặc một ngàn câu rồi niệm Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng mỗi danh hiệu ba câu. Tiếp đó niệm Hồi Hướng Văn, Tam Quy Y. Hăy chiếu theo cách tu hành được nêu ra trong Văn Sao hoặc trong phần phụ lục ở cuối cuốn Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú. Những kinh khác như Kim Cang Kinh v.v… hăy nên tụng vào một thời khác tùy theo khả năng của chính ḿnh.

7) Phật hiệu lẫn kinh Di Đà đều không có chữ nào cần đọc theo âm khác. Chữ “phạn thực” (飯食) đọc thành “phản tự” (反寺) là âm đọc thế gian, Tứ Thư, Ngũ Kinh đều đọc như thế. Do người ta thường vô ư nên tưởng là cách đọc đặc biệt. Ông hăy thử tra trong tự điển; nhưng chữ Phạn Thực đọc theo âm gốc của nó cũng được. Đọc theo âm gốc th́ Phạn () chính là cơm, Thực () là ăn, đọc theo âm đặc biệt th́ Phản () chính là ăn, Tự () chính là cơm, cho nên hai nghĩa này đều thông với nhau. Chỉ có trong Phật hiệu th́ hai chữ Nam Mô (南無) phải đọc là Nạp Mạc (納莫). Cuối sách Bạch Thoại Chú đă giải thích tường tận ư nghĩa này, chớ nên đọc theo âm gốc của nó.

8) Niệm Phật hăy nên dựa theo pḥng ốc của chính ḿnh để cân nhắc khoảng không gian rộng hay hẹp. Nếu có thể đi nhiễu được (đi ṿng quanh) th́ trước hết nên đi nhiễu, hoặc đi nhiễu ngoài pḥng cũng được. Khi nhiễu cũng nên hít thở thong thả, điều ḥa (nhiễu Phật nhằm thể hiện sự tùy thuận ư Phật), chẳng phải chỉ nhằm biểu thị đi theo chiều thuận mà thôi. Hăy nên giữ sao cho sự tu tŕ của chính ḿnh được thành kính, c̣n quỳ, đứng, ngồi, đi nhiễu [để niệm Phật đều được] miễn sao thuận tiện.

Nếu muốn như pháp th́ khi tụng kinh Di Đà nên quỳ, đứng tụng cũng được. Đến khi niệm Phật th́ trước hết đi nhiễu, nhiễu niệm được một nửa số [câu hạn định] bèn ngồi niệm. Lúc ngồi niệm sắp xong, bèn quỳ niệm [Phật] mười tiếng, lại niệm Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng mỗi danh hiệu mười tiếng, hoặc mỗi danh hiệu ba tiếng, cốt sao thân tâm thư thái, chẳng quá sức buông lung, hơi thở thông suốt, thân thể thoải mái, sẽ có ích không bị tổn hại!

Ông cho biết hăy c̣n mẹ, cố nhiên hăy nên đem lư này kính khuyên mẹ khiến cụ sanh ḷng tin niệm Phật để mong cụ thoát khỏi biển sanh tử; há nên nói là “[làm như vậy] quá xấc xược?” Ḷng cha mẹ yêu con không đâu chẳng thấu tới. Nếu cụ biết là hữu ích, há lẽ nào chẳng chịu tán thành, chấp nhận ư? Nếu cụ chẳng biết đến ích lợi này th́ càng phải dùng nhiều cách khơi gợi, hướng dẫn để đấng sanh ra ta được hưởng lợi ích thật sự nơi Phật pháp. Đấy gọi là Hiếu. Nếu bà cụ cố chấp ư kiến của chính ḿnh, chẳng chịu sanh ḷng tin, hăy nên sám hối tội nghiệp thay cho cụ. “Ḷng Thành đến tột bậc, vàng đá cũng phải nứt”; huống chi mẹ con vốn sẵn mối liên quan thiên tánh. Nếu ông thật sự chân thành sám hối thay cho mẹ th́ mẹ sẽ được Tam Bảo gia bị, sẽ có ngày chuyển ḷng sanh tin tưởng. Lại nên khuyên Tông Đức, Huệ Sướng v.v… đều hành như thế th́ t́nh thân cốt nhục một nhà đều cùng thành thượng thiện nhân trong cơi sen, may mắn nào bằng!

Thế sự ngày càng nhiễu nhương! Hăy nên siêng niệm Phật và niệm Quán Âm. Thầy Chân Đạt đi triều bái núi Cửu Hoa. Ngày Hai Mươi Lăm tháng Bảy, Quang đến chùa Thái B́nh để lo chuyện in sách, sợ phải trong khoảng tháng Mười mới trở về núi được. Sách Nho Thích Nhất Quán của Dương Lệ Đường vẫn chưa in ra được. Sách ấy in ra chậm trễ th́ sự chọn lựa ắt sẽ kĩ càng, nhưng nhiệm vụ quan trọng trong hiện thời chỉ là sốt sắng niệm Phật mà thôi!

Phàm mọi chuyện cần phải dựa theo thời tiết, nhân duyên và năng lực của chính ḿnh để luận. Ví như kẻ gặp nạn muốn trốn đi xa, tuy vàng ngọc đầy nhà đều chẳng dám cầm theo. Thứ chẳng thể không đem theo chỉ là lương thực; bởi lẽ một ngày không có cái ăn, ắt sẽ chẳng thể sống được! Nếu cầm theo vàng ngọc, chắc sẽ đến nỗi chuốc lấy cái họa mất mạng! Ông muốn được lợi ích trong thời thế này mà có các sách Tịnh Độ th́ đă có thể không băn khoăn ǵ! Nếu chẳng chuyên tâm dốc chí, nếu lại coi rộng các sách đến tột cùng, chắc sẽ đến nỗi coi rẻ Tịnh Độ.

Sáng - tối nên tụng kinh Di Đà, chớ nên chỉ Thập Niệm. Vào lúc khởi đầu nên lễ Phật Thích Ca ba lạy. [Niệm Phật xong, đọc] nguyện văn tùy ư, ắt phải nên dựa theo bài văn ấy mà phát tâm th́ mới là nguyện. Nếu xét theo những cảnh tượng của Nghê phu nhân như đă nói th́ bà ta chắc chắn được văng sanh. Trước tiên, bà ta thấy một cụ già râu bạc, chẳng thấy Phật và hoa sen; ấy là do công hạnh c̣n cạn nên thấy được [cảnh tượng] khá kém cỏi. Nói tới phẩm vị th́ sẽ là thuộc vào khoảng Trung Phẩm Trung Sanh hay Trung Phẩm Hạ Sanh. Nhưng chín phẩm [văng sanh] của Tây Phương chỉ là nói đại khái; chứ thật ra, trong mỗi phẩm đều có vô lượng trăm ngàn vạn ức phẩm. Chỉ cần được văng sanh là đă siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Tuy [văng sanh] trong Hạ Phẩm Hạ Sanh, đă cao trỗi sanh lên cơi trời trăm ngàn vạn lần!

Gần đây, tôi lại in Cảm Ứng Thiên Trực Giảng hai vạn bộ, vẫn chưa đóng b́a xong, khi hoàn tất sẽ gởi cho ông một gói. Hăy bảo con cái ông đều cùng đọc tụng, thọ tŕ th́ khi chúng lớn khôn quyết chẳng đến nỗi chạy theo trào lưu làm những chuyện phế bỏ luân thường, vứt bỏ ḷng thẹn v.v… Muốn cho con cái đều thành hiền thiện mà chẳng bắt tay thực hiện từ đây sẽ không có cách nào cả! Sách Khuê Phạm do ông Ngụy Mai Tôn đề xướng in một ngàn bộ vào năm ngoái, Quang cũng chịu tiền in năm mươi bộ. Năm nay Quang tự đề xướng in ba ngàn bộ. Sách này in theo lối thạch bản, không có bản khắc ván, không có ai bán, nay gởi tới cho ông một gói. Lại có một gói [Học Phật] Thiển Thuyết, một gói Cảm Ứng [Thiên] Trực Giảng; hăy nên bảo con cái đều đọc sách này sẽ chẳng đến nỗi bị trào lưu xấu ác xoay chuyển.

Ông hăy nên đọc kĩ lưỡng kinh điển và các trước thuật Tịnh Độ, c̣n các kinh Đại Thừa như Pháp Hoa, Lăng Nghiêm v.v… nếu cứ một mực nghiên cứu chắc sẽ ngược ngạo coi thường pháp môn Tịnh Độ, th́ pháp được nghiên cứu sẽ chẳng phải là pháp để nương cậy được, mà pháp đáng để nương cậy th́ do chẳng chuyên nghiên cứu, t́m ṭi, chắc sẽ đâm ra không thể nương cậy được! Như vậy th́ sẽ do đâu mà thoát khỏi biển khổ mịt mờ đây? Há chẳng phải là “cầu thăng hóa đọa, khéo quá thành vụng” ư?

Nếu thánh nhân giáng lâm vào Phàm Thánh Đồng Cư Độ trong thế giới Sa Bà th́ cũng vẫn thị hiện làm phàm phu, ắt họ phải tận tụy thực hành luân thường c̣n hơn người khác để người ta thấy họ đáng khâm phục, đáng bội phục. Sau đấy chắc sẽ thị hiện tướng trạng “từ mê đắc ngộ, cực lực tu tŕ”; hoặc suốt đời chẳng thị hiện tướng trạng tu tŕ Phật đạo, chết rồi mới thị hiện chuyện lạ lùng khiến cho người khác sanh ḷng tỉnh ngộ sâu đậm.

Bốn giáo Nho, Đạo, Gia Tô, Hồi đều có thánh hiền, nhưng lư tánh được họ nêu tỏ chỉ là Nhân thừa hay Thiên thừa trong Phật giáo mà thôi! Đối với bản tánh của tự tâm đều chưa thể nêu tỏ rốt ráo! Có kẻ chẳng hiểu nghĩa này, cho rằng: “Họ đều là thánh nhân nên sẽ đều là b́nh đẳng, chẳng có cao - thấp!” Hoặc cho rằng: “Do họ chưa nói đến tột cùng nguồn đạo, nên họ chẳng phải là thánh nhân!” Đối với tôn giáo của họ, họ đáng là bậc thánh nhân, nhưng đều chưa luận nói [tâm tánh, quả vị giải thoát] triệt để. Người giảng đạo luận đức trong cơi đời phần nhiều là như vậy.

T́m lấy [một giáo pháp] chỉ bày trọn hết, trọn chẳng thừa sót ǵ “cội nguồn của chân - vọng, nguyên do sanh tử, chỗ cùng cực nơi tâm tánh, chúng sanh và Phật giống nhau, khác nhau như thế nào” mà loại Phật giáo ra th́ sẽ không c̣n tôn giáo nào khác nữa! Bồ Tát thệ nguyện độ thoát chúng sanh vô cùng vô tận, tùy loại hiện h́nh, đủ mọi phương tiện để cảm hóa. Ấy gọi là “nên dùng thân nào để độ được bèn hiện thân ấy để thuyết pháp”. Nói tới “thuyết pháp”, cũng không phải chỉ riêng cho sự thuyết pháp bằng miệng, mà c̣n là dùng thân để nói; hoặc sau khi mất đi liền thị hiện những chuyện lạ lùng để thuyết pháp. Con dâu ông Mă Ngọc Cao và người đàn bà ăn mày xưa kia suốt đời tận tụy thực hiện [giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành luân thường, tuân giữ đạo đức], đáng gọi là bậc “giữ vững đức hạnh nữ giới, nêu gương mẫu cho giới khuê các”. Ở đây tôi nêu lên những dấu tích con người có thể thấy nghe, c̣n sau khi chết đi, hiện ra các tướng th́ trong kinh của Nho, Đạo, Gia Tô, Hồi chẳng thể có được! Ấy chính là tướng chứng quả ngay trong hiện đời của Phật giáo.

 

Tiếc là trong cơi đời kẻ biết đạo ít ỏi, không thể nêu rơ chuyện này, [nên sự thị hiện các tướng nhằm biểu thị người vừa mất ấy đă chứng quả ngay trong đời này] chỉ trở thành một thứ sự tích lạ lùng được lưu truyền.

 

Bồ Tát muốn hóa độ ngoại đạo khiến cho họ theo Phật đạo mà nếu chẳng thị hiện h́nh tích của ngoại đạo th́ kẻ ngoại đạo ấy không cách chi sanh ḷng tin tưởng, ngưỡng mộ để bắt đầu tu tŕ được! Những h́nh tích được thị hiện cũng là những phương tiện chẳng thể nói trọn hết! Những ǵ được nói trong phẩm Phổ Môn bất quá là thuật bày đại khái mà thôi! Hiện nay, thế đạo bại hoại đến cùng cực, kẻ tín phụng Phật giáo niệm Phật, niệm Quán Âm được linh cảm rất nhiều. Quang do bận bịu, tinh thần chẳng đủ, cho nên không ghi chép. Nếu ghi chép sẽ thành một quyển sách lớn!

Ông tương đối có của ăn của để, gặp nhằm thời thế này hăy nên cạn ḷng thành, tận ḷng kính cùng với Tông Đức, Huệ Sướng v.v… niệm Phật và niệm thánh hiệu Quán Âm để được nương cậy. Đối với việc nghiên cứu giáo nghĩa và các nghĩa lư trong Mật Tông, cũng chẳng qua nhằm để mở mang, phát khởi trí thức mà thôi. Nếu muốn nhờ vào đấy để liễu sanh tử, sẽ trọn chẳng thể được đâu! V́ sao vậy? Do trong các tông khác đều phải cậy vào tự lực để tu đến mức “nghiệp tận, t́nh không” th́ mới có phần liễu sanh tử. Nếu không, dẫu cho ngộ xứ sâu xa, công phu cao cả, công đức lớn lao, vẫn đều chẳng thể liễu được! Chỉ có một pháp Tịnh Độ là chẳng đoạn Hoặc nghiệp mà có thể cậy vào Phật từ lực để đới nghiệp văng sanh. Hết thảy các pháp môn khác chẳng thể sánh với pháp này! Nếu không có thiện căn thật sự, chắc chắn khó thể tin tưởng triệt để.

Nói tới “Quán Kinh” th́ đấy chính là Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh; trong Văn Sao đă dẫn hoặc trích lục hai ba câu, những câu tiếp đó là phần giảng rơ ư nghĩa. Ông đă không chỉ rơ trang số mấy nên cũng chẳng tiện để tra duyệt. “Phật cáo A Nan và Vi Đề Hy” chính là phần kinh văn của Quán Kinh. Hai chữ “Quán Kinh” chính là tựa đề của kinh nhưng viết giản lược.

Cũng chớ nên hiểu lầm câu nói “các giáo chẳng chia môn đ́nh”. Nếu để lẫn lộn không phân biệt th́ đại, tiểu, tà, chánh, làm sao phán đoán được! Nếu xét tới cái gốc rốt ráo để [các giáo] quy nạp về th́ chẳng quy vào Phật giáo sẽ quy về đâu? Ví như sông to, rạch lớn đă tự rộng lớn, sâu thẳm, nhưng nếu chẳng quy về biển cả th́ sẽ từ đâu mà có? Biển đă tồn tại kể từ lúc có trời đất, ngày ngày vẫn như thế, thâu nhận [các ḍng nước đổ vào] vẫn chẳng thấy tăng thêm; c̣n sông to th́ khi mưa Thu trút xuống sẽ mênh mông, tràn ngập. Ông nói “khi chết sẽ theo cùng một đường” cũng không thích đáng lắm! Chỉ có Chết là giống nhau, nhưng sanh trong lục đạo và chứng Tứ Thánh, khổ - vui khác biệt một trời một vực! Sao lại nói là “cùng một đường” cho được?

[Ông nói]: “Các giáo tùy theo sự tu tập mà mắc tội, được phước. Thiên Đường, địa ngục cố nhiên không hai. Nhưng coi là một th́ lẽ ra các giáo đều chẳng có chân nghĩa”. Nói như vậy, ông vẫn chưa biết lẽ chân thật trong các giáo, mà cũng chưa thể mỗi mỗi đều b́nh đẳng. Những ǵ được coi là lẽ chân thật trong các giáo ấy đều là chút phần của sự thật trong Phật giáo, chứ chưa thể hoàn toàn chân thật, trọn chẳng có sai khác! Nếu đă hoàn toàn đều là thật th́ cần ǵ phải “nên dùng thân nào để độ được, bèn hiện thân ấy để thuyết pháp”? Trương Thuần Nhất chính là đầu lănh Gia Tô giáo, do ông ta học vấn uyên bác nên sau đấy mới biết đến Phật; năm sáu năm trước đây đă cùng vợ quy y với Quang. Ông ta có pháp danh là Chứng Lư, bà vợ pháp danh là Chứng Từ. Dương Lệ Đường gởi cho Thuần Nhất một cuốn sách là v́ Thuần Nhất trước đó tin tưởng đạo Cơ Đốc, sau theo Phật giáo.

Ông lẫn lộn, tưởng “hiện thân” là thật nghĩa, chẳng hiểu “hiện thân là rủ ḷng tiếp dẫn [khiến cho người được hóa độ] cùng lên nẻo giác”. Đủ thấy, đối với đạo lư, ông c̣n chưa hiểu rơ nên mới ăn nói lẫn lộn, không chọn lựa, phân biệt. Nếu chấp đó là đúng sẽ tự lầm, lầm người chẳng cạn đấy! Xin hăy sốt sắng sửa lỗi hướng lành, niệm danh hiệu Phật, lâu ngày sẽ tự bật cười.

Cổ nhân giải thích câu: “Như Lai chẳng bỏ [kẻ chỉ có] phước [nhỏ nhoi] vừa lọt đầu mũi kim” như sau: “Như ông lăo tám mươi múa may để dạy con cháu”; hiện thân thuyết pháp cũng giống như thế đấy! Nếu ông tưởng hiện những thân ấy là đắc đạo rốt ráo th́ sẽ hoàn toàn trái nghịch với ư nghĩa hiện thân của Bồ Tát. Nếu như ông nói th́ các giáo đều có người đắc đạo, cần ǵ Bồ Tát phải rủ ḷng hiện thân trong giáo của họ để hoằng dương giáo ấy nữa? Ông chẳng biết Bồ Tát biến hiện chính là phương tiện quyền xảo, thị hiện đồng sự để dẫn bọn họ vào trong Phật thừa. Đối với văn mà ông c̣n chưa hiểu rơ rệt, huống là hiểu ư nghĩa ư? Nhưng ông tự cho là đă biết, đă hiểu rơ, nên mới có thứ ngôn luận ấy. Nếu Quang chẳng chỉ ra, đả phá, sợ ông gặp phải một vị tri thức vướng mắc nơi phương diện t́nh kiến cứ hàm hồ phân tích, giải thích th́ sự bưng bít [nơi kiến giải của ông] sẽ khó thể đục phá được!

Quang già rồi, không làm được ǵ! Hơn mười năm qua, thù tiếp hết sức bận rộn; nay th́ thù tiếp ngày càng nhiều, tinh thần ngày một giảm! Cứ kéo dài như thế này ắt sẽ mệt nhọc chết mất! Đă vô ích cho người, mà chính ḿnh c̣n bị tổn hại! V́ thế, dự định xuống núi vào cuối tháng Hai, qua chùa Thái B́nh ở bến Trần Gia, Thượng Hải, lo liệu chuyện in sách; đến tháng Sáu vẫn trở về núi v́ ở Thượng Hải quá nóng. Tháng Bảy xuống núi không trở về nữa. Đến tháng Tám, tháng Chín chuyện in sách [kết thúc], lưu Chỉ Bản ở chỗ cất giữ [thuộc thư cục] để tùy ư ai muốn ấn loát th́ giao thiệp với Thư Cục. Sắp xếp thoả đáng mọi chuyện xong sẽ ẩn náu, diệt tung tích lâu dài. Từ đấy vĩnh viễn chẳng qua lại, giao thiệp với hết thảy mọi người nữa!

Ông chỉ nên y theo Văn Sao, Gia Ngôn Lục mà tu, quyết chẳng đến nỗi không được liễu thoát. Nếu lầm lạc muốn làm đại thông gia, coi pháp môn Tịnh Độ là thừa thăi, theo thiện tri thức các tông học các pháp môn Tông, Giáo, Mật v.v… th́ làm đại thông gia chắc đạt được một hai phần, nhưng muốn nhờ vào sự hiểu biết nửa vời ấy để mong liễu sanh tử th́ có mộng cũng chẳng mơ thấy đâu! Đấy là lời cuối cùng Quang dành cho ông, chẳng biết ông có nghĩ như vậy là đúng hay chăng?

Dùng niệm Phật [để cầu nguyện chánh đáng] th́ mọi sở cầu đều được thỏa. Cầu phước thọ cho cha mẹ hiện tại, cầu cho tổ tông quá khứ được siêu thăng đều được cả; nhưng cần phải chí thành đến cùng cực th́ mới có cảm ứng. Nếu hời hợt, hờ hững th́ cũng sẽ được lợi ích hời hợt, hờ hững. Đối với bài văn hồi hướng th́ hăy nên ngay sau phần chánh hồi hướng, tùy theo ư mong cầu của ḿnh mà đọc mấy câu, chỉ nhằm biểu lộ tấm ḷng, chẳng cần phải phô phang. Ông đă biết pháp môn Tịnh Độ th́ càng phải nên nói với hết thảy mọi người về lợi ích ấy khiến cho họ tu tŕ, huống là cha mẹ sanh ra ta ư? Hồi hướng cho cha mẹ cố nhiên là chuyện hợp lẽ đến tột cùng; nhưng chẳng khuyên lơn cha mẹ, chỉ tự ḿnh tu tŕ là đă đánh mất ư nghĩa hiếu thảo chân thật với cha mẹ vậy!

Nếu tánh t́nh cha mẹ trái nghịch với Phật, hăy nên chí thành tŕ niệm hồi hướng thay cho cha mẹ để họ được tiêu trừ túc nghiệp. Lâu ngày chầy tháng, [cha mẹ] sẽ tự sanh ḷng tin tưởng, tu tŕ. “Ḷng Thành đến tột cùng, đá vàng cũng nứt”. Huống chi cha con sẵn mối liên quan tự nhiên, lẽ nào chẳng thể chuyển dời được ư? Hăy nên nghiêm túc dạy dỗ con cái bằng lư nhân quả báo ứng và đạo làm người, như cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính v.v… ai nấy tự trọn hết bổn phận của chính ḿnh. Nếu ông có thể nghe theo lời tôi th́ sống sẽ dự vào bậc thánh hiền, mất về cơi Cực Lạc, ấy chính là chuyện quyết định không c̣n nghi ngờ vậy!

Cơi đời hiện thời nguy hiểm vạn phần; hăy nên suất lănh người nhà niệm Phật và niệm thánh hiệu Quán Âm lâu dài, ắt sẽ có cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Chuyện ăn chay thật ra cực dễ dàng, chỉ v́ chưa thấu hiểu suy xét sâu xa nên mới cảm thấy rất khó khăn! Chúng ta đă sợ tai nạn đao binh, hăy nghĩ hết thảy sanh vật có tự chịu mổ, chặt, nấu, thui để thỏa sự ham muốn phát xuất từ miệng bụng của chúng ta hay chăng? Há chúng nó có muốn chết, vui vẻ chịu làm thức ăn cho con người hay chăng? Thánh nhân dạytrung hậu, khoan thứ là cách đạo chẳng xa; điều ǵ ta chẳng muốn người khác làm cho ta th́ cũng đừng làm điều ấy cho người khác nhằm giảng rơ ư nghĩa này. Thử nghĩ ta và chúng cùng được phú bẩm cái tâm này, cùng biết “tham sống, sợ chết”, cùng biết “hướng lành, tránh dữ”, cùng biết “cảm ơn, ôm hận”; há nên hằng ngày vẫn ăn thịt bọn chúng ư? Đă nhẫn tâm ăn thịt bọn chúng, tức là cùng một tâm hạnh với lũ thổ phỉ, giặc cướp! Đă chẳng muốn bị bọn thổ phỉ cướp đoạt, sát thương; sao lại yên tâm khoái ư giết chóc, nấu nướng, ăn nuốt hết thảy sanh mạng trên đất, dưới nước? Nguyên do đều là v́ chẳng chịu phản tỉnh nên đến nỗi cách xa đạo vời vợi!

Chỉ sợ không tin pháp môn Tịnh Độ tới nơi tới chốn; chứ nếu tin đến nơi đến chốn th́ hết thảy mọi người đều được văng sanh. Đă có sức đại từ bi của Phật, cần ǵ đến Quang? Con người gần đây phần đông thấy lạ, nghĩ khác, kẻ có tín tâm thường chẳng biết cội nguồn của pháp môn Tịnh Độ, hoặc học những pháp Thiền, Giáo, Mật v.v… Nếu muốn làm vị thiện tri thức đại thông gia th́ được, chứ nếu muốn cậy vào Phật từ lực để văng sanh Tây Phương ngay trong đời này th́ do sở học quá nhiều, chắc sẽ coi thường Tịnh Độ! Do đă chẳng thể đoạn Hoặc chứng Chân để tự lực liễu thoát, lại không có tín nguyện niệm Phật để cậy vào Phật lực ḥng liễu thoát th́ nỗi khổ nơi tam đồ lục đạo trong tương lai so với nỗi khổ hiện thời sẽ c̣n gấp trăm ngàn vạn lần!

Nhân dân hiện thời không ai chẳng trong cảnh nước sâu lửa bỏng, nhưng những kẻ có thế lực ai nấy đều muốn cho con cháu ḿnh được phú quư tôn vinh vĩnh cửu, chẳng đoái hoài nhân dân nghèo nàn, khốn khổ, tử vong. Cái gốc họa ấy đều là do Tŕnh - Châu và bọn Lư Học đả phá bài xích nhân quả báo ứng và sanh tử luân hồi ươm thành. Nếu bọn họ đề xướng nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi, th́ những nhà Nho đời sau đều chẳng dám bảo [nhân quả báo ứng, luân hồi] đều là không có. Dẫu bọn họ muốn làm chuyện tổn người, lợi ḿnh, thương thiên, hại lư đi nữa, nhưng do thấy có ác báo, sợ mai sau chịu khổ khó kham, do đấy sẽ chẳng dám! V́ Tŕnh - Châu cho là không có những chuyện ấy, nên những kẻ xấu hèn, tàn nhẫn dám làm ác không kiêng dè ǵ! Lại thêm gió Âu vừa thổi tới th́ chuyện phế kinh điển, phế luân thường, giết cha, gian mẹ đều cùng được cực lực đề xướng nhằm mong được thực hiện. Nguồn gốc của mối họa này bắt nguồn từ Lư Học, chẳng đáng buồn sao? Do vậy, hăy nên sốt sắng sanh ḷng tin phát nguyện để cầu sanh Tây Phương.

Chữ “phạn thực” (飯食) trong kinh Kim Cang được đọc thành “phản tự” cũng chẳng phải là nghĩa trong nhà Phật, mà là theo nghĩa của sách Nho, nhưng con người chẳng tự suy xét! [Trong các bản kinh Kim Cang được lưu hành], câu chữ [có một đôi chỗ] khác nhau, như “tức” () và “tắc” () các bản thường dùng thay thế cho nhau. Điều này không khẩn yếu lắm! Nếu kinh ghi là Tức th́ đọc là Tức, ghi là Tắc th́ đọc là Tắc, bởi Tắc có nghĩa là Tức, không sai biệt cho lắm. Có kẻ bịa chuyện quốc vương Cao Ly húy là Tắc (: tên một loại lúa) nên đổi chữ Tức thành Tắc. Đây là lời bàn luận mù quáng của kẻ chẳng biết sự việc.

Thêm nữa, đoạn “Nhẫn Nhục Ba La Mật…” có bản chép thành hai câu, có bản chép thành ba câu. Nên biết rằng: Ghi thành hai câu th́ ư nghĩa cũng hoàn toàn là ba câu, chứ không phải là “hai câu hoàn toàn chẳng có nghĩa của ba câu”, nhưng dựa theo bản kinh mà niệm hai câu hay ba câu đều không trở ngại ǵ. Bản kinh chép là ba câu liền niệm ba câu, chép là hai câu liền niệm hai câu.

Trong các câu “nguyện nhạo dục văn” (nguyện ưa thích muốn nghe), “thị nhạo A Lan Na hạnh giả” (là kẻ ưa thích hạnh Tịch Tĩnh), chữ Nhạo () đọc giọng Khứ Thanh, giống như chữ Yếu (). Trong kinh, hễ chữ Hành () được dùng để chỉ cho hành động của người làm th́ nhà Nho đọc là Hưng (), Khứ thanh, đều đọc như âm Hạn (), tức là biến âm của chữ “thực hành”. Những bản in các bài chú như Đại Bi v.v… hơi khác nhau, cứ chiếu theo bản in để đọc sẽ chẳng trở ngại ǵ, bởi lẽ chú là tiếng Phạn, con người không thể biết được [nghĩa], chỉ chí tâm niệm ắt có lợi ích lớn lao, chẳng cần phải suy luận theo mặt chữ. Bản [chú Đại Bi] được lưu thông ở Hồ Nam tôi cũng chưa được thấy, chẳng thể nói là đúng hay sai. Chỉ cần chí thành tŕ tụng th́ sẽ tự được công đức chẳng thể nghĩ bàn, muôn phần chớ nên hoài nghi bản kinh có sai ngoa th́ sẽ đạt được lợi ích. Theo lư, phải nên niệm tựa đề kinh.

Ước theo mặt Sự, quả thật Tịnh Độ có cảnh tượng trang nghiêm đến cùng cực. Ước về mặt Lư th́ duy tâm sở hiện, do tâm thanh tịnh nên các cảnh giới ấy đều thanh tịnh. Cố nhiên, Lư và Sự chẳng thể tách rời, chẳng qua nhấn mạnh nơi nghĩa nào mà chia ra thành Sự hay thành Lư. Ông chỉ nên đọc kĩ bài Tông Giáo Bất Nghi Hỗn Lạm Luận [trong bộ Văn Sao Chánh Biên], sẽ tự biết rơ văn và lư của Chân Đế và Tục Đế, cũng như nghĩa lư ước theo cảnh để thí dụ vậy. Kiến địa của ông đă như thế th́ chỉ nên học theo kẻ thật thà chất phác, nhất tâm niệm Phật. Nếu do ḷng ham cao chuộng xa rồi lầm lạc sanh cái tâm ức kiến (đoán ṃ, tự dựa theo những ư kiến phỏng đoán của chính ḿnh) th́ chỉ sợ chưa được lợi ích mà đă bị tổn hại trước!

Đang trong lúc thiên tai nhân họa ngập tràn này, cố nhiên hăy nên suất lănh người nhà sốt sắng niệm Phật và niệm thánh hiệu Quán Âm, c̣n hết thảy những nghĩa khác dẫu chưa hiểu rơ ràng đều chẳng bận tâm, đợi khi nào nghiệp tiêu, trí rạng sẽ tự có thểvừa đọc liền hiểu rơ ngay”. Nếu không, dẫu có hiểu rơ rệt văn lẫn lư, cũng chỉ là ăn nói lưu loát, chứ khi tai nạn giáng xuống, sanh tử xảy đến, nhất định chẳng dùng được ǵ! Hai pháp Sự và Lư chẳng tách rời nhau, bởi có tịnh tâm th́ mới có tịnh cảnh. Nếu không có tịnh cảnh, làm sao hiển được tịnh tâm? Tâm tịnh th́ cơi Phật tịnh, đấy gọi là “tâm có đủ”. Nếu tâm không có đủ th́ nhân chẳng cảm được quả!

Ông nghĩ Sự chỉ là sự tướng trang nghiêm, Lư chỉ là tâm tánh lư thể; [nếu] Lư ở ngoài Sự, Sự ở ngoài Lư th́ làm sao gọi là Lư - Sự cho được? Ví như dựng nhà, kèo, xà, rường, cột, tường, vách là Sự, khoảng không trong nhà chính là Lư. Chỉ v́ có kèo, xà, rường, cột nên mới có được khoảng không trong nhà; do có khoảng không ấy nên có thể xếp đặt kèo, xà, rường, cột! Lư - Sự dùng lẫn cho nhau, cũng như Không và Hữu dùng lẫn cho nhau; há nên chấp chết cứng vào thiên kiến, cho là Hữu th́ chẳng có Không, đă Không th́ chẳng có Hữu? Nếu chẳng hiểu rơ ràng thứ nghĩa lư này, hăy nên siêng năng tŕ tụng, đừng suy lường xằng bậy! Lâu ngày chầy tháng, nghiệp tiêu trí rạng, sẽ tự có thể [thấy những suy đoán xằng bậy ấy] ví như một tṛ cười! Lúc ban đầu, cổ nhân luôn sốt sắng dụng công dốc sức, chứ chẳng bận tâm suy lường. Bởi vậy, cổ nhân nhất cử nhất động không ǵ đều chẳng phải nhằm làm cho mọi người đều thực hiện được!

 

498. Thư trả lời cư sĩ Mă Tông Đạo (Thư thứ hai)

Đă nhận được thư trước, do không có chuyện ǵ quan trọng, khẩn yếu nên không trả lời.

Ông hỏi ông X… là người như thế nào? Ông ta vốn sẵn có nhân duyên từ đời trước, nhưng [tánh cách] do dự, chẳng sốt sắng. Ông ta là đệ tử của Phùng Mộng Hoa ở Kim Đàn (tỉnh Giang Tô), là đồng môn với ông Ngụy Mai Tôn. Mấy năm trước đă từng gặp Quang. Năm ngoái do có chuyện nọ nên rất cảm kích Quang, bèn nói với ông Mai Tôn muốn quy y, từng nhờ ông Mai Tôn cầu xin với Quang; đă v́ kinh ở tháp Lôi Phong mà đề mấy câu làm kỷ niệm, nhưng do chần chừ, nên chưa hành ngay. C̣n như nói: “Thân tộc kinh hăi” ấy là mượn cớ đó để lấp liếm dấu vết biếng nhác, lười trễ, chẳng chịu tu tŕ. Ông cũng mượn cớ đó để nghi ngờ, bàn định!

Phàm người học Phật pháp há nên vứt bỏ bổn tông (tông ḿnh đang theo). Chỉ ngoài bổn tông, lấy thêm lời Phật dạy để tu tŕ! Người đời làm đủ mọi chuyện ác, chẳng sợ thân tộc kinh hăi. Nay học đại pháp của Như Lai lại ngược ngạo sợ thân tộc kinh hăi, đấy có c̣n gọi là “chân tâm học đạo” ư? Cả cơi đời đều đục, riêng ta trong, mọi người đều say, riêng ta tỉnh. Ta làm theo chí ta, ai khống chế được ta? [Nại cớ như vậy th́ c̣n] chưa phải là học tṛ của thánh hiền, huống là học đại đạo xuất thế ư? Quang diệt tung tích, trọn chẳng gây trở ngại cho người khác, bởi tuổi tác lẫn cơ hội đều đă qua, tinh thần ngày một suy, chuyện thù tiếp ngày càng nhiều, sức chẳng thể chống chọi được! Nếu hiểu [Quang ẩn dật] là v́ lư do khác, tức là đă hiểu lầm rồi!

Chuyện niệm Phật cố nhiên quư ở chỗ thuần nhất không gián đoạn. Do vậy trong hết thảy thời, hết thảy chỗ đều phải nên niệm. Tụng kinh chẳng thể thường xuyên không gián đoạn như niệm Phật được! Hơn nữa, cớ ǵ phải tụng kinh nơi chỗ ô uế? Nếu tŕ danh đến mức cùng cực th́ chẳng quán tưởng mà tịnh cảnh đều hiện cả. Nếu kẻ nào công phu không thuần, cứ lầm lạc muốn thấy thánh cảnh, chắc sẽ phải lo bị ma dựa. Do vậy, cổ đức phần nhiều chú trọng Tŕ Danh bởi pháp này thực hiện dễ mà thành công cao.

Nếu thật sự đă tin tưởng pháp môn Tịnh Độ tới nơi tới chốn, giữ được [tín nguyện] vững vàng rồi th́ đối với các kinh luận Đại Thừa sẽ đều có thể tùy theo sự ưa thích của chính ḿnh mà đọc tụng. Nhưng nếu chưa hiểu rốt ráo đạo này, cứ một mực đọc rộng, sợ rằng sẽ bỏ pháp này lấy pháp kia th́ muốn liễu sanh tử sẽ trở thành chuyện khó nhất trong các chuyện khó. Có kẻ nói Quang cấm người khác đọc kinh Đại Thừa, [nói như vậy là đă hiểu lầm ư Quang, v́] lời nói ấy vốn dành cho kẻ chẳng biết lợi - hại, cứ lầm lạc muốn làm bậc thông gia! Có kẻ nói: “Y theo pháp của họ, tu một trăm ngày hoặc bốn mươi tám ngày sẽ có thể thành Phật!” Ông hăy nhường cho người khác thành! Nếu ông cũng muốn cùng được “thành” như họ th́ thành Phật hay thành ma, Quang chẳng thể nào biết được!

Lâm chung là chuyện khẩn yếu nhất. Dẫu ông chẳng thể giáo hóa được người khác, vẫn nên thường nói cặn kẽ nguyên do với vợ con, ngơ hầu họ đều tin đến nơi đến chốn và giữ cho chắc. Như lúc mẹ ông lâm chung, khai thị Niệm Phật cho cụ và trợ niệm, ắt có lợi ích lớn lao! Pháp này bất luận già - trẻ - trai - gái đều nên trợ niệm. Dẫu là kẻ lúc thường ngày chẳng niệm Phật, [được trợ niệm] cũng có lợi ích lớn lao! Hăy nên chiếu theo tiểu đoạn “lâm chung thiết yếu” thuộc phần “sanh tử chuyện lớn” trong Gia Ngôn Lục để hành th́ tuy chẳng sanh Tây Phương vẫn gieo được thiện căn lớn lao. Đây là nghĩa tối thiết yếu.

Nếu bảo tôn giáo ấy trói buộc th́ chính là ông tự trói buộc, chứ tôn giáo đâu có trói buộc được ông? Nếu nói “trong cơi đời có đạo vượt trỗi tôn giáo của ta th́ cũng chẳng chịu học”, ấy chính là tâm hạnh của kẻ nhỏ nhen trong thế gian, chứ đâu phải là tâm hạnh đáng có của một vị sáng lập một tôn giáo! Nếu có ư ấy, c̣n đáng gọi là giáo chủ ư? Đấy chính là cách “đem tớ thay cho chủ, đem lính thay cho tướng soái!” Đối với việc học Phật, ông ôm ḷng nghi ngờ, kinh sợ, tức là cái tâm học Phật chẳng cứng cỏi, mạnh mẽ, quyết liệt như cái tâm tạo nghiệp. Há có phải là người thật sự tin Phật ư?

Tông Đức đă sanh hay chưa? Nay đặt pháp danh [cho đứa bé sắp sanh] là Huệ Ư. Ư () là đức tốt đẹp. Chỉ có trí huệ th́ mọi việc làm đều tốt đẹp, dùng ngay cái tên này để đặt, không cần phải chọn tên khác. Phàm người niệm Phật, trong hết thảy thời, hết thảy chỗ đều phải nên thầm giữ một câu Phật hiệu nơi tâm. Nếu áo mũ chỉnh tề, nơi chốn sạch sẽ, niệm ra tiếng hay niệm thầm đều được. Nếu không được như thế th́ chỉ nên niệm thầm trong tâm. C̣n như phụ nữ lúc sanh con, hăy nên niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát ra tiếng, chắc chắn sẽ không có những nỗi khổ như bị tai nạn khi sanh nở v.v

Nếu nói “lúc ấy lơa lồ bất tịnh, niệm sẽ mắc tội” th́ đấy là chẳng biết đạo “giữ lẽ thường, thông đạt quyền biến”. Đấy là lúc liên quan đến tánh mạng, chẳng thể không lơa lồ, ô uế; không thể đem so với chuyện cố ư khinh nhờn. Hơn nữa, Bồ Tát sẵn tâm cứu khổ, ví như con cái té trong lửa - nước, kêu cầu cha mẹ cứu giúp, cha mẹ trọn chẳng đến nỗi v́ con cái thân thể không khiết tịnh, áo mũ không chỉnh tề mà chẳng chịu rủ ḷng cứu vớt.

Từ nay về sau, hễ có ai sanh nở đều nên bảo họ niệm sẵn. Đến khi sanh nở đúng là lúc phải nên sốt sắng niệm. Chẳng những dễ sanh mà c̣n gieo đại thiện căn. Hăy nên nói cặn kẽ điều này với Tông Đức và các con gái của ông, đấy chính là vô thượng diệu pháp để cứu sẵn tánh mạng họ khỏi bị khổ ách.

Một người bạn cậy Quang ấn hành cuốn Đạt Sanh Biên, phụ lục cách trị kinh phong mạn chứng, sẽ in tám vạn cuốn; hai vạn cuốn giao cho Quang để kết duyên hoặc cho người khác thỉnh. Đợi khi in ra sẽ gởi cho ông một gói. Trong lời tựa cũng có nói đến chuyện niệm Quán Âm.

Quang vốn tính diệt tung tích vào cuối tháng Chín, hiện thời do phải sắp chữ bộ Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ, chỉ đành chậm lại một tháng. Sách này có quan hệ lớn lao đối với thế đạo nhân tâm, do ông Hứa Chỉ Tịnh chọn lọc những sự tích cảm ứng từ hai mươi bốn bộ sử, kèm thêm lời b́nh luận; quả thật là bộ sách có sức khuyến thiện mạnh mẽ nhất, bởi lẽ những chuyện trong ấy đều được ghi trong chánh sử, kẻ tà kiến chẳng dám bảo là hư cấu! Lần này sắp chữ xong xuôi liền in hai vạn bộ. Lại in một bản khác bằng giấy báo với cỡ chữ Tứ Hiệu Tự để tiện cho con em đang độ thanh niên cũng có thể mua đọc.

Con người sống trong thế gian phải trọn hết đạo làm người. Nếu giữ được hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ th́ mới đáng gọi là người. Nếu không, tuy mang h́nh dáng con người, nhưng tâm là cầm thú! Hăy nên cực lực dạy dỗ Huệ Sướng v.v… khiến cho chúng đều biết đạo làm người và biết nhân quả báo ứng th́ gia phong của ông sẽ chẳng đến nỗi dần dần đọa lạc! Đối với chữ Phong () trong [cái tên] Huệ Phong, há nên hiểu là (phong: thịnh vượng)? [Nếu hiểu như vậy th́] chính là đọc theo âm dùng trong Lễ Kư, mà cũng là ư nghĩa được dùng trong Lễ Kư, chứ không phải là ư nghĩa Quang định chọn, hăy nên sửa cho đúng: Huệ Phong nghĩa là trí huệ dồi dào, không điều nhỏ nhặt nào chẳng chiếu tới!

 

499. Thư trả lời cư sĩ Mă Tông Đạo (Thư thứ ba)

Hai lần nhận được thư biết ông vừa sanh được đứa con tốt lành, lại trọn không bị tai hoạn ǵ. Do vậy biết đấy chính là Phật, Bồ Tát từ bi gia bị nên có những chuyện chẳng thể nghĩ bàn được. Điều đáng chú ư nhất là hăy khéo dạy dỗ, khiến cho các con đều thành người hiền, người lành th́ đối với gia đ́nh ông, đối với nước nhà, đều có lợi lớn lao không chi bằng! Quang thường nói “Dạy con là căn bản để trị quốc b́nh thiên hạ, nhưng dạy con gái càng cần thiết hơn, do con người được thành chánh khí hay chăng, quá nửa là do được mẹ un đúc, giáo hóa từ lúc mới hiểu biết cho đến lúc trưởng thành”. Đạo nghĩa, đức hạnh là căn bản của con người. Từ thuở bé đă dạy nó noi theo pháp tắc th́ khi lớn lên sẽ tự chẳng trái vượt, ngỗ nghịch, cũng như có đủ mọi hành vi xấu hèn!

Giấc mộng của Tông Đức chính là do Bồ Tát ngầm báo cho biết điềm sẽ có giặc kéo đến. Nếu không, sẽ bị mất mát lớn lắm. Bà ta mộng thấy Bồ tát đ̣i cây mơ (mai tử) của mẹ, đấy chính là có kẻ khác muốn đoạt lấy. Lời này có ư nghĩa khá sâu, thật khó suy lường được! Nay tôi chỉ suy đoán ṃ, tuy chẳng phải là bổn ư của Bồ Tát, cũng chẳng trái nghịch ư của Bồ Tát. [Theo tôi nghĩ] Bồ Tát nghĩ thương người trong tôn giáo của ông chẳng biết tới đại đạo, muốn cho ông và Tông Đức tùy theo cơ duyên mà giáo huấn, khiến cho họ đều sanh ḷng tin, gieo thiện căn nơi Phật pháp. Chữ Mai () một nửa là chữ Mộc (), nửa kia là chữ Mỗi (). Chữ Mỗi là một nửa của chữ Hối (), chữ Mộc là một nửa của chữ Căn (). Cả nhà ông đă được nhuần gội sự giáo hóa của Phật, lại c̣n được cảm ứng như thế, về mặt Lư lẫn mặt Sự đều đáng tự tin tưởng, há nên lặng thinh chẳng tuyên nói ra, chẳng làm cho người hữu duyên đều cùng được nhuần gội lợi ích lớn lao không chi bằng này? Phàm mọi chuyện vào lúc ban đầu đều do một hai người phát khởi, sau đấy mới dần dần được mở rộng. Đă có nhiều người tụ họp trong nhà ông để cầu hiện tướng, đủ biết là u - hiển cảm ứng quyết khó h́nh dung được! Nếu vợ chồng ông có thể phát Bồ Đề tâm, v́ những kẻ câu nệ hẹp ḥi kia mà chỉ bày bầu trời vô lượng vô biên, họ sẽ tự có thể thoát khỏi chỗ hẹp ḥi ấy, thấy được mặt trời và biển cả.

Ông chỉ nên nhất tâm niệm Phật, sao lại hỏi ngày giờ sanh của Quang? Biết ngày giờ sanh của Quang th́ rốt cuộc có ích ǵ đâu? Trước hết, hăy nên đem lợi ích này uyển chuyển khuyên nhủ mẹ ông, tiếp đó khuyên lơn những kẻ thân thích bằng hữu hiểu lư. Hiểu lư rồi lại biết chuyện cảm ứng th́ họ sẽ sanh ḷng tin.

Hơn nữa, ông đă có năm đứa con, Tông Đức đă mang thai tám lần, khí huyết đều hư nhược. Từ nay, hăy nên đoạn dục chuyên tu Tịnh nghiệp ngơ hầu chẳng đến nỗi gây lụy cho Tông Đức càng thêm hư nhược, hao tổn. Nam nữ lập gia đ́nh vốn là cuộc hôn nhân thơm thảo để nối tiếp ḍng dơi cho tổ tông, phụ mẫu. Đă có mấy đứa con rồi, tức là chẳng đến nỗi phải lo không có người nối dơi. Nếu vẫn không chịu đoạn dâm dục, tức là kẻ chẳng biết yêu ḿnh và nhẫn tâm chẳng biết yêu thương vợ! Huống chi, ông và Tông Đức đều muốn tu Tịnh nghiệp sanh Tây Phương. Nếu t́nh dục nam nữ chẳng thể đoạn được th́ tịnh niệm bị dục niệm xen tạp, chẳng dễ ǵ được lợi ích! Ông đừng nói Quang là Tăng nhân sao vẫn bàn chuyện ăn nằm giữa vợ chồng người khác. Hăy nên biết rằng: Những người có thành tựu trong thế gian đều phải tiết dục, huống là người học Phật ư? Huống chi Tông Đức do sanh nở đă bị tổn thương, chẳng kham sanh nở thêm nữa ư?

 

500. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ nhất)

Lúc vọng tưởng dấy lên chỉ mặc kệ nó th́ sẽ chẳng đến nỗi “trên vọng lại sanh thêm vọng”. Ví như đứa nhỏ làm ḿnh làm mẩy, nếu người lớn không ngó ngàng tới, nó chẳng cậy vào đâu [để tiếp tục giở chứng] được. Nếu dùng biện pháp cứng rắn để trấn áp, nó cũng dùng cách cứng rắn để đối phó. Nếu dùng biện pháp mềm mỏng để vỗ về nó, ắt nó sẽ tưởng người lớn sợ nó, lại càng quyết liệt hơn. Cả hai đằng đều tổn nhiều ích ít, chỉ bỏ mặc [vờ như] không thấy, không nghe. Nó đă không có đà làm tới chỉ đành tần ngần bỏ đi.

Ông vẫn chưa có thể tự lợi, sao lại trù tính chuyện làm lợi cho người khác được! Quân tử chẳng nghĩ ra ngoài địa vị. Cần biết rằng: Tâm ấy tuy tốt nhưng cũng là chướng ngại cho việc học đạo. Cổ nhân nói: “Chỉ phạ bất thành Phật; vật sầu Phật bất hội thuyết pháp” (Chỉ sợ chẳng thành Phật, chẳng lo Phật không thể thuyết pháp). Ông chỉ nên tự hành có chứng đắc th́ sẽ giống như thần long được một giọt nước bèn có thể mưa khắp toàn quốc. Nếu chẳng phải là thần long, dẫu được nước của cả con sông cũng không thể [tuôn mưa] trọn khắp được.

Làm ác có nhân duyên: Tự tâm là nhân, ngoại cảnh là duyên. Nếu tin sâu nhân quả, biết “do điều ác nhỏ, ắt chịu khổ lớn” th́ tuy gặp duyên cực lớn cũng chẳng thể làm ác. Những kẻ làm ác xưa nay đều là do cái tâm tin nhân quả nhỏ nhoi, yếu kém mà ra! Nếu không, dẫu ngoại duyên mạnh mẽ, dữ dội đến đâu cũng chẳng làm ǵ được ta. Niệm Phật biết có vọng, đấy chính là chỗ hay của niệm Phật. Nếu không niệm Phật, bằng cách nào mà ông biết được [chính ḿnh] có lắm vọng như thế?

Mật Tông quả thật là pháp môn chẳng thể nghĩ bàn, thật sự có chuyện “thành Phật trong thân hiện tại”, nhưng những người hoằng truyền Mật Tông đều chẳng phải là hạng người ấy. Có mấy ai thật sự là thượng căn? Đều toàn tự xưng là thượng căn! Giả dối mượn chuyện ấy để dụ dỗ những phường ham cao chuộng xa, ngạo nghễ, ngă mạn, tạo thành tự lầm, lầm người, gây hại há có thể nào cùng cực? Những điều khác chẳng cần phải nhắc tới!

Gă X… và gă Y… nọ quá sức to gan, tự xưng đă vượt trỗi các bậc thượng căn. Họ chửi bới Khổng - Mạnh c̣n hơn đứa trẻ đầu đường xó chợ chửi người khác; chẳng biết chửi Khổng Tử tức là chửi Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vơ, chính là diệt chánh lư luân thường của thế gian. Tôi chẳng biết họ học Mật Tông kiểu nào, muốn ứng dụng Mật Tông như thế nào: Để làm kẻ tận lực truyền bá phế kinh điển, phế luân thường, vứt bỏ ḷng hiếu, mặc kệ ḷng thẹn, giết cha, giết mẹ? Hay là vẫn làm người truyền bá: hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ vậy?

Nếu để làm kẻ truyền bá phế kinh điển, giết cha th́ thuyết của bọn chúng c̣n có thể cưỡng lập được, chứ nếu để làm người truyền bá hiếu - đễ - trung - tín th́ bọn chúng đă đả đảo phế diệt, cắt trừ đạo của nhị đế tam vương do Khổng Tử vâng giữ, kế thừa mất rồi! Nếu vẫn bảo Mật Tông của bọn chúng là dạy làm lành th́ chính bọn chúng cũng chẳng thể tự hiểu được [cách ăn nói ngược ngạo ấy]! Những kẻ giống như gă X… và gă Y… thật có thể gọi là những tên đầu sỏ bại hoại Phật pháp! Hạng người ấy có thể thành Phật nơi thân hiện tại th́ cũng chẳng ngại ǵ vào trong địa ngục A Tỳ để hưởng tự thụ dụng tam-muội của đức Tỳ Lô Giá Na nơi non đao, rừng kiếm, vạc dầu, ḷ than!

Hơn nữa, căn tánh của gă X… nếu luận theo con người hiện thời th́ cũng có thể gọi là thượng căn: Tự ḿnh phát tâm xuất gia, chưa đầy mấy năm mà yếu chỉ của Thai Giáo (giáo pháp của tông Thiên Thai) thảy đều hiểu rơ. Qua Đông Dương (Nhật Bản) học Mật Tông, người Đông Dương hết sức bội phục, tôn sùng, kính trọng; chết rồi c̣n được dựng tháp trên núi Cao Dă. Nếu bảo là ông ta đă đắc chánh truyền của Mật Tông th́ cũng chẳng thể nói là ông ta không thể thành Phật ngay trong thân hiện tại, nhưng đến lúc sắp chết, chẳng thể niệm Phật được mà cũng chẳng thể niệm chú được. So với ngu phu ngu phụ niệm Phật, ngồi ngay ngắn qua đời đă kém cỏi hơn nhiều lắm! Đấy c̣n là kết quả của bậc thượng căn đắc chánh truyền nơi Mật Tông, những kẻ khác đâu đáng để bàn tới nữa!

Cách nói “hiện thân thành Phật” [của Mật tông] và “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật” của Tông môn khá giống nhau. Vẫn phải đoạn Hoặc th́ mới chứng Chân, mới có thể liễu sanh thoát tử được. Nếu nói “ngay trong đời hiện tại, Tam Hoặc đă đoạn sạch, Nhị Tử vĩnh viễn mất, an trụ Tịch Quang, trọn không sự ǵ”, sẽ thành tà thuyết, là lời lẽ của ma! Những ai chê “Tịnh Độ dành cho bọn thiên chấp, tiểu căn, chậm lụt, độn căn”, ta hăy nhường cho bọn họ tu pháp “viên, đại, thẳng, chóng, thành Phật trong thân hiện tại”. Chúng ta chỉ y theo ngôn giáo Tịnh Độ để tu tŕ, đôi bên chẳng gây trở ngại lẫn nhau; cần ǵ phải dẫn chứng Văng Sanh Chú, A Di Đà Phật chính là Mật Tông của bọn họ!

Cần biết rằng: Phật tùy theo căn cơ của chúng sanh mà nói ra các giáo, lời lẽ tuy khác nhau, nhưng tinh thần đều là dung thông. Ví như đại địa chia ra cho hết thảy nhân dân, tuy có cương vực này, biên giới kia, nhưng đây - kia chẳng thể cắt đứt, chặt rời ra được, trọn chẳng chấp nhận ai đến trong cơi tôi! Bởi lẽ, nếu chặt rời th́ họ cũng không có sanh lộ để đi nữa! Bọn họ đă bảo Văng Sanh Chú v.v… chính là Mật, sao lại bảo niệm Phật chẳng bằng tu Mật? Nay nói đơn giản, thẳng thừng: Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ v.v… đều là bậc thượng căn, đều có thể chân thật thành Phật trong thân hiện tại. Nếu [tự xét] thấy ta chẳng bằng được các vị ấy th́ đừng có dùng [danh xưng] thượng căn để tự lầm, lầm người, noi theo tà kiến của gă X… và kết quả là bị chết hồ đồ của ông Y… khiến cho ngu phu ngu phụ chê cười!

Tôi quên mất chuyện bà nội kế của ông là Sài lăo thái phu nhân. Nếu ông thật sự phát tâm hiếu, dẫu cho Sài lăo thái phu nhân đọa trong ác đạo, do ông có thể dùng tâm chí thành niệm Phật cho cụ, cụ vẫn có thể cậy vào Phật từ lực văng sanh Tây Phương, huống hồ chưa chắc cụ đă đọa trong ác đạo ư? [Điều cốt yếu] là do ông có chí thành hay chăng! Chớ nên đem cảnh tượng lúc mất của Sài lăo thái phu nhân để phán đoán!

Đặt pháp danh cho [người đă mất] cũng là chuyện bày vẽ! Người thế tục do thuyết U Minh Giới cho người đă khuất bèn đặt pháp danh; nhưng ắt phải cạn ḷng thành, kiệt ḷng kính niệm Phật cho người ấy th́ mới là kế sách tối thượng. Đừng nên chỉ lấy chuyện bày vẽ bề ngoài của thế tục để trọn ḷng hiếu th́ ông sẽ được hưởng lợi ích lớn lao, chứ không phải do niệm Phật cho Sài lăo thái phu nhân mà ông chẳng được lợi ích. Nên biết rằng: Ông do tấm ḷng hiếu thảo báo ân, niệm Phật cho Sài lăo thái phu nhân, so với chuyên niệm cho chính ḿnh công đức càng lớn hơn! Do vậy, [nhà Phật] mong cho con người v́ khắp tứ ân, tam hữu, pháp giới chúng sanh mà hồi hướng. Huống hồ lăo thái phu nhân là người mà ta đă nhận đại ân ư? Ông cứ theo đó mà suy th́ cũng có thể tùy theo cơ duyên để hướng dẫn vậy!

 

501. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (thư thứ hai)

Nhận được thư ông đầy đủ. Ông vọng tưởng đến cùng cực, làm chuyện rất rạng rỡ, lớn lao, rộng lớn, nhưng chẳng biết đấy đều là những chuyện đi xuống, chứ không phải là hướng thượng! Đang trong thời thế này, ông có thần thông, đạo lực ǵ mà muốn làm chuyện kinh thiên động địa? Dẫu để làm việc trong chánh trường đi nữa, có ai không phải vận động bẩn thỉu để lọt vào. Đă do vận động bẩn thỉu mà đạt được địa vị ấy th́ c̣n có thể hiên ngang, thẳng thắn, chẳng phải bợ đỡ cấp trên hay chăng? Quan văn chẳng mê tiền, nếu chẳng bóc lột mỡ màng của dân chúng th́ tiền vốn vận động c̣n chưa thể có được, huống là [có tiền để] dâng cúng cấp trên ư? Dâng cúng thượng cấp vẫn chưa phải là chánh yếu; đối với những thuộc hạ của thượng cấp đều phải dựa theo thời, theo dịp để tặng quà, để mong họ nói tốt trước mặt thượng cấp, chẳng buông lời gièm xiểm. Nếu là người thật sự v́ trăm họ, chẳng những không có tiền mà sợ c̣n khó giữ được tánh mạng!

Ông mơ giấc mộng to quá, đúng là chí lớn, ăn nói lớn lối, chẳng biết tài năng của chính ḿnh ra sao cũng như đang ở trong thời nào. Hăy nên nói với họ về lợi - hại của chuyện tiết dục và buông lung ḷng dục th́ về lư lẫn về t́nh đều được ổn thỏa. Ông chỉ biết ăn nói “đao to búa lớn”, chẳng biết lời lẽ lớn lao phải phát xuất từ thật hành th́ mới có ích. Học vấn cần phải phát xuất từ thực tiễn th́ mới có thể tự lợi, lợi người. Nếu không, học vấn càng cao, càng dễ làm hỏng việc! V́ thế nói: “Hữu đức giả tất hữu ngôn; hữu ngôn giả bất tất hữu đức” (Người có đức ắt thốt lời, kẻ thốt lời chưa chắc đă có đức).

Nếu chính ḿnh chánh kiến chưa mở mang, lầm lạc học theo cái học ma quỷ của ngoại đạo, hiếm có ai chẳng bị biến đổi theo chúng. Ông c̣n chưa biết đến sự xấu xa của gă X…. Gă X… xấu xa không phải v́ thiếu học vấn mà v́ chẳng biết tự lượng, dối xưng là đại thông gia! Phận sự chánh yếu ông c̣n lo chưa rồi, há nên phát ra cái tâm ấy? Muốn vào hang hùm th́ sẽ táng thân trong bụng hùm là điều đoán chắc!

Trước kia, khi ông chưa có tiền tài, thế lực, bèn hâm mộ sự vinh hiển giàu có, của những kẻ có thế lực, toan dùng đó để khoe khoang trong làng xóm, cho là đă làm rạng mày nở mặt tổ tiên. Nếu tổ tiên có thiêng, ắt sẽ khóc cạn nước mắt! Sợ ông hễ được đắc ư sẽ hoàn toàn chôn vùi cái chí ban đầu, chắc sẽ đến nỗi càng tệ hại hơn bọn họ! V́ sao vậy? Do nhiệt thành hâm mộ sự phú quư bất nghĩa, nên hễ được phú quư sẽ bị phú quư xoay chuyển. Chẳng đáng buồn ư?

Ông hoàn toàn là một kẻ không có chánh tri kiến, đă niệm Phật lâu ngày lại ngờ niệm Phật sẽ lôi kéo quỷ tới rồi sanh ḷng sợ hăi. Có tri kiến như vậy há có thể nào chẳng ngả theo thế lực quan quyền phú quư, chẳng tạo nghiệp ác ư? Anh chàng X… và ông Y… đều là kẻ hiểu Duy Thức, nếu dùng Duy Thức để kiếm tiền, sao dám bảo “noi theo dấu ngài Huyền Trang?” (Do trước đó ông đă nói đến việc dơi theo dấu chân của Huyền Trang Tam Tạng).

Ông muốn thấy người khác liền nói nhân quả để hết thảy mọi người đều tin nhận vâng làm, mà lại c̣n kiếm tiền được, bất luận vị đại lăo quan hay gă trai khổ năo nào, trai trai, gái gái, đều cùng họ bàn luận kĩ càng, khiến họ đều sanh ḷng vui thích th́ chỉ có cách xem tướng là hữu ích nhất. Nếu nghề nghiệp thật sự tinh thông th́ bất luận kẻ ương ngạnh khó giáo hóa đến đâu, hễ được ông chỉ bày “tiền nhân hậu quả” ắt sẽ nghe theo. Đấy là chuyện dễ làm nhất trong chốn giang hồ.

Nếu lại c̣n biết xem Bát Tự th́ càng thu hút rộng răi. Trong thời Hàm Phong - Đồng Trị nhà Thanh, có một người học xem tướng nhưng học không thành, xin học thuật Đạt Ma tướng pháp cũng không hiểu được lẽ ảo diệu của nó. Sau đấy bèn dốc hết ḷng Thành lễ bái, lâu ngày liền sáng suốt, những chuyện trong nhà và đời trước của người ta đều biết rơ hết. Một buổi sáng gặp mấy tên lính, cầm lệnh phù sang kho đạn lănh thuốc súng, bèn hỏi họ sẽ lănh mấy thùng. Họ đáp sáu thùng; ông ta nói: “Sáu thùng không đủ đâu, nên lănh bảy thùng!” Bọn họ nói: “Quân lệnh nào dám trái!” Ông ta chỉ nói: “Tôi bảo các anh cứ lấy, sáng mai sẽ biết. Nếu không, tôi sẽ chịu phạt”. Họ liền lấy bảy thùng. Đêm ấy khéo sao bọn giặc tới cướp doanh trại, dùng hết sáu thùng thuốc súng, giặc vẫn không lui, bèn khui thùng thứ bảy th́ bọn giặc liền rút lui. Vị thầy xem tướng ấy do nhất tâm cầu Tam Bảo gia bị chuyển hóa mà biết được chuyện đời trước, đời sau.

Ông nên lưu tâm học xem tướng, lại c̣n chuyên chí lễ bái đức Đại Bi Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát. Tuy chưa thể cao minh như người ấy, nhưng đă có thể vượt trỗi những thầy tướng hiện thời, lại c̣n dùng sự lư nhân quả tội phước để b́nh luận th́ tiền tài, danh dự, công đức đều có thể đạt được. Đấy là chuyện ổn thỏa nhất trong hiện tại, mượn thuật ấy để hành th́ không đâu chẳng thông. Những câu giải đáp được liệt kê như sau:

1) [Vương] Dương Minh là nhà Nho. Dựa theo nghĩa lư của nhà Nho để giảng giải th́ khá gần với đạo lư Phật pháp; nhưng nếu như lời ông nói th́ có thể khiến cho nhà Nho đều hành theo hay chăng? Cổ nhân nêu tỏ đạo mầu phần nhiều mượn thí dụ “tấm ḷng của con đỏ, hồn nhiên không phân biệt”; do [tấm ḷng của con đỏ] gần giống như sự không phân biệt bởi đă hết sạch nhân dục, thiên lư lưu hành. Ông bèn chấp trước, đem so sánh “cái tâm của con đỏ” với Chân Như bổn tánh, há có đáng gọi là “kẻ khéo dạy người khác nhập đạo” ư?

[Người ta] nêu cái quạt để ví mặt trăng, mượn sự lay động của cây cối để giải thích về gió, ông liền t́m ánh sáng nơi quạt, t́m sự phất phơ nơi cây, tức là hoàn toàn chẳng biết pháp phương tiện để dạy người! Dẫu nói cho thật hữu lư th́ vẫn chẳng phải là pháp để làm lợi kẻ sơ tâm. Huống chi nhà Nho trọn chẳng biết đến Chân Như Phật tánh! Chẳng nêu bày ở chỗ ấy th́ chẳng có cách nào nhập đạo được đâu!

2) Nhà Nho ăn nói phải dựa theo những điều vốn được [Nho giáo] đề cao. Nếu nói đến Phật tâm chính là xiển dương Phật pháp. Cố nhiên những kẻ ấy do học Phật mà có sở đắc, nhưng lời lẽ vẫn y theo khuôn mẫu của Nho gia. Chẳng qua là ư nghĩa gần gũi với nhà Phật, ông có biết hay chăng?

3) Sách của Vương Dương Minh, thoạt đầu tôi chưa xem qua. Bốn năm trước, do thỉnh một bộ Dương Minh Toàn Tập, giở xem đại lược, rảnh đâu để học theo ông ta! Năm trước, do tôi muốn ẩn dật tại Hương Cảng nên bèn gởi [bộ sách ấy] về [tặng] thư viện huyện Cáp Dương.

4) Trong thời buổi này, ông luôn niệm niệm mong thành danh để lập từ đường, coi đó là chuyện để rạng mặt nở mày cha mẹ. Chí ấy ô trược, hèn tệ, đă gây nhục cho bà nội kế là Sài lăo thái quân nơi chín suối. Huống chi nếu thật sự có thể thỏa măn mục đích của Sài lăo thái phu nhân th́ sợ rằng sẽ khiến cho ông bà nội và cha mẹ ông đều cùng đọa xuống tầng chót trong địa ngục A Tỳ! Buồn thay!

5) Viên Tử Tài là gă cuồng! Thoạt đầu chẳng hề tin Phật, nếu tin Phật sao lại báng Phật? Đến tuổi già do từng trải sâu hơn, biết Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn, nên các chuyện cảm ứng đều ghi chép lại, nhưng trọn chưa từng thân cận tri thức và đọc nhiều kinh luận Đại Thừa nên những ǵ ông ta nói phần nhiều đều chẳng đúng pháp. [Chẳng hạn như ông ta biện bác] “giới luật chẳng cho tổn thương đến một cọng cỏ nên chẳng thể ăn chay, bởi lẽ ăn rau là sát sanh”. Lời lẽ ấy đều là những lời lẽ cong vạy, hư vọng, nhằm ngăn cản người khác ăn chay, khuyên người ta ăn thịt! Sao không nói: “Ta cũng có thịt, xin hăy ăn thịt ta trước”. Dẫu có giết ông ta, ông ta cũng chẳng chịu thốt lời ấy! Coi ăn rau là sát sanh cũng là tà thuyết giống như “khuyên ăn thịt” vậy, chẳng cần công kích mà tự bị phá!

Con người sống trong thế gian ai có thể chẳng hít thở? Coi hít thở gây tổn hại cho những loài trùng tí xíu là ăn thịt, sát sanh, nhưng lại khuyên người ta hằng ngày giết những con vật lớn để ăn thịt! Loại tà thuyết ấy giống như kẻ ngu thấy người khác dùng phân để bón cho đất màu mỡ th́ các loại hạt ngũ cốc mập chắc, rau cỏ tươi non, mập mạp, sởn sơ, thơm ngon, bèn bảo: “Phân là vật tốt nhất. Hăy nên chuyên ăn thứ này th́ càng được tốt đẹp chẳng khác ǵ!” Người đời phần nhiều cậy vào thứ tà thuyết chẳng dựa theo đạo lư ấy để cản người khác ăn chay, khen ngợi kẻ sát sanh. Năm xưa có người đem chuyện này hỏi, tôi liền dùng một thí dụ để đáp lời. Chúng ta sống trong ṿng trời đất, ai có thể không hít thở? Do hít thở gây tổn thương những sanh vật nhỏ bé liền nói “ăn chay không hợp lư”, ấy chính là cái tâm xấu hèn của gă tiểu nhân ngăn trở người khác làm lành vậy!

Ví như có kẻ sanh trưởng trong nhà xí, thường nghĩ thức ăn trong nhà xí quả thật là cao sang nhất, ngon lành nhất. Nhưng ở chỗ ấy có vị trưởng giả giàu có lớn; hắn ta sợ vị trưởng giả đó chưa từng được hưởng qua những vị ngon lành ấy; do vậy, đưa thư mời trưởng giả vào nhà xí dự tiệc. Vị trưởng giả kinh ngạc, mắng: “Ngươi đúng là kẻ chẳng biết hổ thẹn! Toàn thân ngươi nằm trong hầm phân, hằng ngày lấy phân làm cơm áo, sao dám mời ta đến chỗ ngươi ở?” Kẻ ở trong hầm phân nghe vậy, nổi giận đùng đùng, chửi bới: “Đồ hầm cầu nhà ngươi sao dám chửi ta hằng ngày ăn phân nhơ? Trong bụng ngươi đầy ắp phân tiểu. Kè kè cái thùng đựng phân ấy mà c̣n muốn nói thanh tịnh! Muỗi, ve, chấy, rận xả phân văi tiểu trên đầu ngươi, thân ngươi. Ngươi hoàn toàn là một cái hầm phân, sao dám chửi người khác? Hơn nữa, gạo nước ngươi ăn vào đó đều đă có trùng thải phân văi tiểu lẫn trong ấy, chẳng phải ngươi đă ăn phân, uống nước tiểu ư? Sao dám chửi ta là ăn phân, uống nước tiểu?”

Vị trưởng giả ấy tuy khiết tịnh, nhưng những lời trách mắng của kẻ trong hầm phân đều chẳng tránh khỏi, vậy th́ cứ theo đúng những ǵ ḿnh có thể làm được mà nói đến chuyện khiết tịnh, hay là sẽ vâng theo lời kẻ sống trong hầm phân đến chỗ hắn dự tiệc ư? Đă chỉ nên dựa theo những ǵ ḿnh có thể làm được để làm, sao lại đem chuyện không làm được để trách móc người khác ư? Cứ muốn buộc người khác ăn thịt, sao chẳng mời người khác ăn thịt ḿnh? Lời nói này cũng có thể làm tấm gương sáng cho những kẻ tà kiến vậy! Ông đă soạn cuốn sách Khuyến Tu Hành Giới Sát Ngật Tố Văn (văn khuyên tu hành kiêng giết ăn chay); trong tương lai khi tái bản sách ấy, hăy nên đem ư này thêm vào để chỉ bày cho kẻ thiếu tri kiến trong thiên hạ đời sau.

 

6) Ông lập ra thuyết ấy khá hữu lư, nhưng ông đả phá Dương Minh, mà ở chỗ ấy ư ông và Dương Minh đâu có khác ǵ? “Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi” (Ḷng người nguy hiểm khó lường, đạo tâm nhỏ nhiệm), nói xuông th́ dễ, thực hành khó lắm! Ông Ôn Quang Hy đừng mơ phát tài làm quan. Nếu Ôn Quang Hy phát tài làm quan, quyết chẳng thể vượt trỗi hạng tầm thường, lập công nghiệp lớn lao được! Do ông c̣n chưa được phú quư, ở đậu tạm thời trong nhà họ Kê, mà trước hết đă không giữ được nổi [cái tâm không ham muốn sự giàu sang của người ta] th́ sau này làm sao giữ được?

7) Coi lời thành thật từ kim khẩu của đức Phật là ngụ ngôn, đấy chính là tà kiến, báng Phật, báng Pháp; làm sao nói nhân quả để cảm hóa người khác cho được? Phụ nữ nhà giàu có ở Trùng Khánh muốn làm gái làng chơi, cũng là do đă coi mối quan hệ vợ chồng do thánh nhân chế định như sự đặt bày trống rỗng. Trong ư họ há cũng có lư “vợ chồng nhất định chẳng được hỗn tạp” ư?

8) Các nhà khoa học nói như thế cũng phải là không có lư do, nhưng họ chẳng biết tới nghĩa “duy tâm sở cảm, duy tâm sở hiện”. V́ thế trở thành tà thuyết dối dân, hủy báng Phật pháp, ngăn trở người khác tấn tu.

9) Ông nói như vậy th́ tâm can của ông đă hoàn toàn lộ rơ hết ra, như vậy th́ ông nói học đạo nhưng đâu phải là học đạo, mà chính là học nghề đấy chứ!

10) Cảm Ứng Thiên vốn xuất phát từ sách Băo Phác Tử, nhưng lời lẽ trong sách ấy (tức Cảm Ứng Thiên) có ích cho cơi đời, nên được tôn là “Thái Thượng quân tử” (bậc quân tử cao quư nhất), chứ không coi là lời lẽ vớ vẩn của con người. Có mấy ai biết được năm ngàn chữ? Người tầm thường hiểu biết năm ngàn chữ ấy sẽ không bằng một người tầm thường biết tới Cảm Ứng Thiên, do đă đạt được lợi ích thành ư, chánh tâm, tu thân, tề gia rất nhiều. Ông bàn luận “có nên đưa [Cảm Ứng Thiên] vào chánh sử hay không nên đưa vào”, c̣n tôi chỉ quan tâm ở chỗ sách ấy có ích cho thân ta lẫn nước ta mà thôi!

11) Hai pháp Định - Huệ được bao quát trong việc học Phật đạo. Nếu chỉ hiểu là một chữ Tĩnh sẽ nhỏ nhoi lắm! Trần Bạch Sa, Châu Hối Am cho là “rớt vào chỗ trống rỗng, mờ mịt” là v́ họ tưởng “ngoan không” (trống không rỗng tuếch) chính là Tĩnh của nhà Phật. Nếu không phải là ma mănh cố ư hủy báng th́ họ chẳng biết ǵ về ư nghĩa Chân Tĩnh trong nhà Phật cả! Chuyện “kính” chính là cửa ngơ để nhập đạo. Nếu lư luận một cách trái lẽ sẽ thành trái nghịch đạo trời, là đại bất kính. Những vị tiên sinh bên Lư Học chú trọng vào “tiểu kính” (sự cung kính nhỏ nhặt, vụn vặt) nhưng đều phạm đại bất kính! Do những lời lẽ họ bàn luận về lư tột cùng của tâm tánh đều là trái trời nghịch lư, cho nên gọi họ là “họ phạm đại bất kính”. Ông nên biết như vậy.

12) Châu Tử (Châu Hy) dạy người khác đừng tụng kinh tức là báng Phật pháp, c̣n tôi dạy người khác đừng tụng kinh là v́ thận trọng nơi chuyện ấy. Do ân cha mẹ sâu nặng, hăy nên nghiêm túc thỉnh tăng sĩ có đạo tâm niệm Phật; chớ nên thỉnh những ông tăng chuyên làm kinh sám đến tụng kinh, bái sám, làm đàn Thủy Lục chỉ nhằm phô trương, hoa mỹ trống rỗng. Sao ông chẳng đọc những đoạn văn trên và dưới câu ấy, lại cắt lấy một câu ở chính giữa rồi luận đúng - sai xằng bậy! Do vậy tôi biết ông tâm bộp chộp, tánh t́nh hời hợt, mọi chuyện đều cẩu thả. Từ nay ông đừng gởi thư đến nữa, gởi đến sẽ không trả lời. Nếu trả lời th́ không có tinh thần ấy, ông có biết hay chăng? Nguyện vợ chồng con cái ông siêng năng niệm Phật, xin hăy sáng suốt soi xét.

 

502. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ ba)

Lá thư ông tự thố lộ ḿnh đă khởi dâm niệm ở Trùng Khánh Điện Ảnh Viện tôi đă nhận được rồi. T́nh niệm của con người như nước, lễ pháp như đê. “Nam nữ thọ thọ bất thân”, chính là thánh nhân đă ngừa trước chuyện “do trao - nhận đồ vật mà đụng chạm, chắc sẽ khởi lên ư niệm không trong sạch”. Muốn nắm tay th́ khi chưa nắm đă có chín phần dâm niệm rồi. Những nữ nhân khiêu vũ ấy mặc áo mỏng như the, như lượt, nam nữ ôm nhau mười mấy phút, tới lần thứ ba th́ đèn vặn mờ đi gần như chẳng thấy được ai. T́nh h́nh ấy hoàn toàn là hành vi cầm thú, nhưng khắp các ấp lớn đều ồ ạt dựng cờ gióng trống mở trường dạy khiêu vũ. Chánh phủ và các nhà giáo dục đều chẳng hỏi tới. Thế đạo nhân tâm c̣n mong chi tốt lành được nữa? Hăy nên nỗ lực đoạn trừ những thứ t́nh niệm chẳng đúng pháp ấy, như [người xưa] đă nói: “Khử một phần tập khí nhơ bẩn, được một phần lợi ích”.

Niệm Phật mà thấy các cảnh tượng th́ đối với cảnh ác chớ nên sợ hăi, chỉ nhiếp tâm chánh niệm, cảnh ấy liền tiêu. Với thiện cảnh chớ nên hoan hỷ, chỉ nhiếp tâm chánh niệm, ắt sẽ có sở đắc, tức là nghiệp tiêu, trí rạng. Nhưng [sở đắc] có cạn, có sâu, chớ nên sanh ư tưởng thỏa măn, cho là đă đầy đủ rồi, [không tu tập nữa]. Nhiếp tâm chánh niệm th́ thiện cảnh càng rơ rệt hơn hoặc liền biến mất, đừng quan tâm đến nó. Chỉ cốt sao niệm chẳng ĺa Phật, Phật chẳng ĺa niệm là được rồi. Thấy thiện cảnh tâm địa thanh lương, trọn chẳng có tâm vọng động, bộp chộp, chấp trước, cũng chẳng đoan chắc là đă nhập định. Biết rơ đấy chỉ là duy tâm sở hiện, chẳng phải là đối cảnh vô tâm.

“Chẳng nhờ đến phương tiện mà tâm tự được mở mang” nghĩa là niệm như con nhớ mẹ, đấy chính là phương tiện tối thượng, chẳng phải nhờ cậy vào các phương tiện khác! Ông hiểu lầm “không chấp trước” là “quét sạch” nên mới có [nhận định] tương phản với pháp được tạo lập ấy. “Như con nhớ mẹ” sao lại bảo là “quét sạch”? Nếu thánh cảnh hiện, biết cảnh ấy chỉ là duy tâm; hễ chấp trước th́ không phải là duy tâm. Do kẻ sơ tâm hễ thấy thánh cảnh, phần nhiều chẳng biết là duy tâm, nên sanh ḷng chấp trước. Hễ chấp trước th́ nếu không phải là hạng “được chút ít đă cho là đủ” th́ cũng là “bị ma dựa phát cuồng!” Do đó, kinh dạy: “Nếu tâm chẳng cho đó là thánh cảnh, bảo là ḿnh đă chứng th́ gọi là cảnh giới tốt lành. Nếu tưởng là thánh cảnh, liền bị vướng trong lũ ma, bị ma dựa phát cuồng”.

Ông là một gă si dại chẳng hiểu chuyện, há nên đem chuyện dụng công lúc thường ngày để sánh ví với sự đau xót, khẩn thiết dốc sức khi lâm chung lúc tướng địa ngục hiện! Như đứa con hiếu lúc b́nh thường nghĩ đến cha mẹ, tuy cực khẩn thiết, trọn chẳng thể buồn rầu, đau đớn bằng khi cha mẹ đă chết, chẳng màng đến thân mạng [của chính ḿnh] nữa! Ông hăy nên dựa theo sự tướng, chí thành khẩn thiết để tu. Nếu nói lư mà tâm thật sự chẳng thông th́ đă vừa vô ích mà c̣n tự bị tổn hại! Hễ cảnh hiện, bèn khám nghiệm, ông bảo đấy là phân biệt; nhưng ông đă thấy được cảnh th́ khám nghiệm nó đâu có trở ngại ǵ? Người khám nghiệm chẳng khởi lên một phương pháp nào khác, vẫn là nhiếp tâm nơi Phật, chẳng cho niệm thứ hai khởi lên.

Do ông chẳng biết cách khám nghiệm, tưởng rằng có cách khám nghiệm khác, nên ngược ngạo biến thành phân biệt. Người niệm Phật trọn chẳng phải là kẻ lơ mơ, không phân biệt, hiểu biết! Như gương soi vật, vật đến liền hiện bóng; vật đi sẽ không c̣n [h́nh bóng] nữa! Lời ông nói đều là chưa bị ma dựa lại muốn bị ma dựa, chứ đâu phải là nói về cách ngăn ngừa cho khỏi bị ma dựa! Do ông dùng cái tâm bộp chộp, vọng động gấp gáp muốn đạt được cảnh ấy nên đâm ra trở thành chướng ngại. Đang trong đại kiếp này, há nên chẳng chí tâm niệm Phật mà cứ vọng tưởng tơi bời, luận nói những lời xuông rỗng ư? Sự nguy hiểm trong Mật tông quả thật chẳng có bút mực nào có thể diễn tả được! Xin hăy giữ chết cứng Tịnh Độ để tu tŕ, nhường cho kẻ khác [tu các pháp khác] đều thành Phật. Xin hăy sáng suốt suy xét!

 

503. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ tư)

Hôm mồng Hai tôi gởi sang Trùng Khánh một lá thư, chắc ông đă nhận được rồi. Phàm là người tu hành chỉ nên lắng ḷng tịnh niệm, chớ nên dấy lên những mong mỏi vượt phận. Ngay như chuyện nhắm mắt thấy ánh sáng trắng, tâm chẳng nghĩ là có sở đắc, cố nhiên sẽ là dấu hiệu tốt lành. Nếu cho là đă đắc, th́ nhẹ là lui sụt, lười nhác, mà nặng là phát cuồng! Người bệnh nhất tâm niệm Phật đợi chết, nếu tuổi thọ chưa hết sẽ mau được lành bệnh. Nếu tuổi thọ đă hết, chắc chắn được văng sanh. Nếu lúc đang bệnh tật, mong chóng được lành, trọn chẳng có ư niệm cầu văng sanh th́ nếu tuổi thọ chưa hết, do cầu gấp được lành bệnh, sẽ chẳng chịu nhất tâm niệm Phật. Tuy niệm Phật, nhưng vọng niệm “cầu được lành bệnh” quá nặng, đâm ra chẳng tương ứng với Phật, quyết khó thể mau chóng lành bệnh được! Nếu tuổi thọ đă hết, do tâm cầu lành bệnh thiết tha, chắc chắn chẳng có chuyện văng sanh, sẽ trở thành cầu đọa trong tam đồ lục đạo, vĩnh viễn chẳng thoát ĺa vậy!

Người đời nay đa số khởi vọng tưởng vượt phận, mong được thần thông bèn học Mật Tông (những người tu Mật Tông chân thật không thuộc trong số này), như gă ma Phó X…. chết ở Bắc B́nh, các đệ tử của gă Y… có kẻ muốn phát tài lớn đâm ra bị hao hụt một hai trăm vạn. Có kẻ muốn được quyền lợi đâm ra mấy chục người bị nhốt trong lao ngục. Có kẻ muốn được thành Phật ngay tức khắc, đâm ra bị ma dựa phát cuồng. Gă A… nọ tôn lạt-ma B… làm thầy; vị thầy ấy có thần thông biết được quá khứ, vị lai. Gạn hỏi đến chuyện độc lập, th́ liền mất mạng ngay trong hôm độc lập. Lạt ma B… và thần thông của ông C…. khiến cho nhiều đệ tử hết sức sùng phụng họ bị liên lụy, đủ biết thầy lẫn đệ tử đều chẳng giữ yên bổn phận. Không có thần thông, há nên mạo xưng thần thông! Học Phật pháp, há nên mù quáng quấy rối, mưu toan phát tài lớn lao, được quyền hành lớn lao ư? Nhân địa chẳng thật, sẽ chuốc lấy cái quả cong vẹo. Ông hăy nên giữ phận, mặc kệ cho người ta đều thành Phật! Dẫu cho ông chẳng đạt được điều ǵ lớn lao, nhưng đă có nhiều vị Phật như thế đấy th́ họ sẽ chẳng thể nào không độ ông!

 

504. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ năm)

Nhận được cuốn sách Trúc Hư của lệnh nội ở Thành Đô, biết rơ bà ta mang tâm lợi sanh sâu đậm, khôn ngăn cảm kích, khâm phục. Nhưng nói “Ấn Quang quả thật có thể lấy tri kiến của Phật làm tri kiến [của chính ḿnh]” th́ Quang là hạng người nào mà dám nhận sự khen ngợi quá lố như thế? Chẳng qua ḷng dạ thẳng băng, ăn nói thẳng tuột, nói ra những điều tôi thấy được mà thôi! Dẫu thích đáng hay không thích đáng, cứ mặc cho người đọc phán đoán mà thôi, Quang quyết chẳng suy tính đến điều ấy.

Từ xưa, chư Tổ hoằng pháp đều dựa theo thời tiết, căn cơ để hướng dẫn cho hàng hậu học đạt được lợi ích, chớ nên bảo [các Ngài] thiên chấp! Phải thấu hiểu nỗi khổ tâm của các ngài trong thời buổi ấy. “Duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”, lời ấy vốn không có khuyết điểm ǵ! Khuyết điểm là do người học chẳng hiểu ư nghĩa trọn vẹn, cứ chấp chết cứng vào một bên, bèn giống như gă thấy biết hẹp ḥi, lệch lạc, chấp trước. Kẻ chưa chứng đắc trong nhà Thiền chỉ chấp vào “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”, nói Tịnh Độ lẫn Di Đà đều chẳng phải là thật có. Hạng người ấy vốn chẳng hiểu Thiền, huống hồ Tịnh Độ?

Duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà” như các vị cổ đức Tịnh Độ đă nói, chính là nói: Tây Phương Tịnh Độ chẳng ra ngoài duy tâm, A Di Đà Phật chẳng rời ngoài tự tánh”. Tánh - tướng, lư - sự, nhân - quả đều được phô bày trọn vẹn trong ấy. Các hạ mắc bệnh thiên chấp, chẳng thể nhiếp trọn khắp được! Nếu bảo là người học do độn căn nên khó thể lănh hội th́ được, chứ nếu bảo lời ấy của cổ đức có khuyết điểm th́ không được!

“Sanh th́ quyết định sanh, đi th́ thật sự chẳng đi”“sanh th́ thật sự chẳng sanh, đi th́ quyết định đi”, đều là những lời khuôn phép nêu tỏ cả Sự lẫn Lư; cần ǵ phải suy lường quá lố? Chẳng qua là v́ con người hiện thời phần nhiều đối với Sự lẫn Lư đều chưa hiểu trọn, chẳng thà cứ dựa theo Sự mà nói, chứ chẳng nên dựa theo Lư để nói, ngơ hầu họ khỏi bị hiểu lầm đến nỗi trở thành rộng răi, khoáng đạt xuông! Quang hổ thẹn đến cùng cực, đối với Lư Tánh tôi cũng chưa hiểu rơ lắm. Nếu bắt chước con két học nói tiếng người th́ cũng chẳng phải là hoàn toàn không thể nói được! Chỉ có điều chẳng dám nhận ḿnh là bậc thông gia! Nếu ai chẳng chê Quang chưa thông suốt th́ chẳng ngại ǵ đem sự không thông suốt [của ḿnh] thưa với họ. Do vậy, tôi chẳng chủ trương nói tới Lư Tánh và những điều huyền diệu.

Các hạ tuổi trẻ nhập đạo, học thức uyên bác, tâm lợi sanh tha thiết, nhưng do chưa thấu hiểu sâu xa đạo “tùy theo căn cơ mà ban bố giáo pháp, do thời mà chế định những điều nên làm” đến nỗi chê “cổ đức sai lầm”. Đấy cũng là dấu hiệu chỉ rơ ông hàm dưỡng chưa đến nơi đến chốn! Đối với hạnh nguyện của Phật, Bồ Tát th́ “một nhiếp hết thảy”. Người đời sau khi nêu tỏ ai nấy đều tùy theo sự thấy biết của chính ḿnh, lẽ đâu dựa vào đó để chê cổ đức kém cỏi! Nếu chấp vào nghĩa ấy để hành, dẫu cho đức Bổn Sư Thích Ca, Di Đà Thế Tôn cũng khó thoát nạn được!

Quang bế quan trước, quả thật là v́ sợ gây lầm lẫn cho người khác, chứ chẳng phải là muốn tự lợi. Xin hăy tâm b́nh, khí ḥa, chân thật thực hành th́ sẽ có thể làm bậc đạo sư cho cơi đời lúc này. Nếu không, sợ rằng Ôn Quang Hy đúng hay sai tuy khác với Vương Canh Tâm, nhưng Ôn Quang Hy tự phụ chẳng khác ǵ Vương Canh Tâm vậy! Do các hạ là người tu đạo, Quang cũng là người tu đạo nên nói thẳng thừng chẳng úp mở ǵ!

 

 

505. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ sáu)

Đọc những ǵ ông nói, biết rơ ông tuy đọc Văn Sao, Gia Ngôn Lục mà vẫn y như cũ, chẳng chú ư tới chỗ khác biệt giữa Thiền và Tịnh. Nếu ông tin tưởng tới nơi tới chốn lời giải thích về giới hạn giữa Thiền và Tịnh, cần ǵ phải đi qua bảy tỉnh để cầu người quyết trạch nữa ư? “Triệu Châu bát thập do hành cước” (Triệu Châu tám mươi tuổi vẫn hành cước) là chuyện “quyết trạch kiến địa” trong nhà Thiền. Người niệm Phật chỉ nương theo ba kinh Tịnh Độ do đức Phật đă dạy, tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương, cho nên chẳng cần phải lần lượt t́m người khai thị.

Cổ nhân lập ngôn, mỗi vị đều có hạnh riêng, do ứng với căn cơ bất đồng nên nói ra những lời bất đồng. Hăy nên tự lượng chính ḿnh thuộc tư cách nào, th́ mới chẳng hiểu sai ư nghĩa thật sự của những lời cổ nhân đă nói ra, nhằm tương ứng với từng căn cơ! Người đời nay trọn chẳng có duyên tu đạo như cổ nhân, thể lực của chính ḿnh yếu đuối, tâm lượng hẹp ḥi, nhỏ nhen, hoặc lại cuồng ngạo, trái nghịch; muốn kiếm được người hiểu biết, có đủ nhăn quan như cổ nhân th́ trong ngàn vạn kẻ, khó kiếm được một, hai!

Có được pháp môn “cậy vào Phật lực để liễu sanh tử” này mà vẫn cứ coi rẻ, toan hướng đến bậc tri thức thuộc những pháp môn cậy vào tự lực để t́m ṭi đường tắt liễu sanh tử th́ đă là chẳng biết lợi - hại! Huống hồ lỡ gặp phải các bậc đại quyền thị hiện những hạnh chẳng hợp với đạo ư? Nếu ông chết được si tâm vọng tưởng, chắc chắn sẽ có thể văng sanh Tây Phương ngay trong đời này. Nếu chưa tu mà đă muốn thấy được cảnh tốt đẹp ngay, chắc chắn mai sau sẽ có ngày bị ma dựa phát cuồng đấy! Ví như mài gương, chất dơ mất đi, ánh sáng c̣n lại; lúc bụi nhơ chưa trừ sạch hết, làm sao có tướng tốt lành hiện ra cho được?

Ông nói “hiện thời chưa thể nhất tâm, khi lâm chung sẽ khó thể đắc lực”, cũng là bàn luận theo kiểu chỉ biết nhặt nhạnh những lời cổ nhân đă nói, chứ chẳng tự lượng theo những ǵ chính ḿnh làm được! Ông vừa mới phát tâm, chỉ mong không có hết thảy những tạp niệm vô vị đă là rất khó khăn rồi. Sao lại muốn ngay trong khi ấy sẽ thấy được những tướng tốt đẹp vậy? Ví như muốn cho trẻ gái mới vừa sanh ra liền đẻ được con, có lẽ ấy hay chăng? Nếu ông là hạng đại căn tánh túc căn đă chín muồi th́ cố nhiên chẳng khó khăn cho lắm. Nếu không, do gấp gáp [mong cầu] sẽ phát cuồng, vĩnh viễn cắt đứt thiện căn.

Muốn báo ân bà nội là Sài lăo thái phu nhân và ân cha mẹ, nhưng chẳng chú ư nơi một pháp Niệm Phật, há chẳng phải là bỏ đại lợi ích để cầu tiểu lợi ích ư? Pháp Niệm Phật trọng tại ḷng Từ của đức Phật gia bị, dẫu là hạng phàm phu đầy dẫy Hoặc nghiệp vẫn có thể nương theo Phật từ lực đới nghiệp văng sanh; hết thảy những pháp khác trọn chẳng có nghĩa này!

Ông nói năm sáu năm qua, từ sau khi ra trường, mắc bệnh xương khớp ră rời, gần như đă chết một nửa người. Có phải v́ [trong thuở c̣n đi học ấy] bạn bè đàn đúm tụ họp, cùng nhau đọc tiểu thuyết đến nỗi chân tinh mất mát, thủ dâm liên tục, do vậy mới có hiện tượng ấy hay chăng? Đấy chính là căn bệnh chung của lũ học sinh trong hiện tại, trong mười đứa có đến tám chín đứa [vướng phải]. Do cha mẹ, thầy, bạn đều chẳng chịu nhắc đến, nên kẻ bị bệnh ngày thấy càng nhiều, chẳng thể ngăn dứt được! Do chuyện này, Quang liền cho in tám trăm cuốn Thọ Khang Bảo Giám. Hễ kẻ trẻ tuổi gặp Quang, Quang đều nói rơ lẽ lợi - hại với họ, bảo họ giữ ǵn thân thể đừng phạm. Dù là thủ dâm hay tà dâm đều phải nghiêm túc kiêng dè, đừng phạm; ngay như vợ chồng ăn nằm với nhau cũng phải có chừng mực, cũng như biết kiêng kỵ để khỏi đến nỗi bị mất mạng oan uổng! Nếu không, người cực tốt cũng vẫn có thể chết v́ chuyện này. Xúm nhau đổ thừa cho số mạng, chẳng biết tự ḿnh đă nộp mạng!

Ông c̣n rất trẻ mà đă bị bệnh, hăy nên thường đọc sách ấy, cũng như bảo Đức Chánh thường đọc. Đôi bên răn nhắc lẫn nhau, ngơ hầu những đứa con đă sanh như Quân Tốn v.v… đều được mũm mĩm, trưởng thành, tánh t́nh hiền thiện, vợ chồng ông sống hạnh phúc đến già, cùng sanh Tây Phương.

Nói tới chuyện làm quan lớn hay làm giáo viên có chức vụ cao, mà nếu có thể thay đổi phong tục, dẫn dắt dân hướng đến chỗ nhân từ, sống lâu theo đúng lẽ thánh hiền, cố nhiên là điều vinh hạnh. Chứ nếu chỉ có thể giúp cho những chuyện phế kinh điển, phế hiếu, phế luân thường v.v… th́ địa vị càng lớn, tội nghiệp càng sâu, nhục nhă khôn cùng! Nếu ông vẫn coi chuyện bị [kẻ khác] đối xử lạnh nhạt là khổ th́ ông sẽ trở thành một kẻ chẳng biết tốt - xấu!

 

Ông muốn mưu tính [có được địa vị quan lớn hay một chức vụ lớn trong ngành giáo dục] là để cầu danh hay là để hành đạo vậy? Nếu để hành đạo th́ hăy nên mưu tính, chứ để cầu danh th́ đừng nên mưu toan! Do ông c̣n có cơm ăn, tổ phụ (ông nội) của ông là Hưng Toàn Công âm đức chẳng ít; há có nên v́ cái danh xuông ấy mà chịu quỵ lụy kẻ khác, dẫu chẳng muốn gây nghiệp, há có được chăng? Ông hăy nên bỏ cái tâm ấy đi để sau này khỏi phải hối hận “cắn rốn không kịp. May là Đức Chánh hiền huệ, hăy nên bảo cô ta đọc kĩ Gia Ngôn Lục, Khuê Phạm, Lịch Sử [Cảm Ứng] Thống Kỷ, để trở thành bậc thầy khuôn mẫu cho nữ giới, mà con cái sanh ra sẽ đều thành hiền nhân, thiện nhân, may mắn chi hơn?

 

Gia cảnh ông khá dư dả, hăy nên in Lịch Sử Thống Kỷ bao nhiêu đó bộ để tặng cho đất Xuyên (Tứ Xuyên), ngơ hầu những tay hào kiệt dấy lên sau này đều biết “nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi cũng là nhiệm vụ trọng yếu khiến cho đời yên dân lành”. Nếu muốn in, hăy tiếp xúc với ông X… Mấy chục năm qua, Quang gởi cho Tứ Xuyên các thứ sách thật nhiều. Một là v́ đất Xuyên quá xa, cũng như do thầy tôi xuất gia tại núi Nga Mi.

“Tinh tinh” nghĩa là “tỉnh ngộ, hiểu rơ”, ông dùng chữ ấy sao được? Ăn nói vẫn là lời lẽ hồ đồ, lại tự xưng là “chừng mực, tinh tinh đến cùng cực!” Dùng chữ hăy nên lưu tâm! Nói chung, ông đă quy y Phật pháp, ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành. Lại c̣n phải thật v́ sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu tŕ danh hiệu Phật, quyết định cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Dùng những điều ấy để tự hành, lại c̣n dạy người, sẽ là đệ tử thật sự của đức Phật, đáng gọi “chẳng khiến đấng sanh ra ta phải hổ thẹn!” Nguyện ông và Đức Chánh đều cùng cố gắng th́ may mắn lắm thay!

 

506. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ bảy)

Tánh t́nh ông đúng là hệt như trẻ nít. Lần trước tôi đă gởi cho ông một bức thư dài v́ sợ ông ham danh sẽ gia nhập quân đội hay tham dự chánh trường. [Trong lá thư ấy] đă cực lực bày tỏ lẽ lợi - hại, sao không lấy những lời bàn luận ấy để định hướng cho tương lai? Ông lại hận v́ [tôi] bế quan nên chẳng thể chỉ dạy trọn khắp, lại than “mờ mịt không chỗ nương theo!” Nếu ông nghe lời tôi, sao lại “mờ mịt không chỗ nương theo” cho được? Ông không nghe lời tôi th́ sẽ mờ mịt không chỗ nương theo cho đến tận sau khi đă nhắm mắt.

Gia cảnh ông may mắn không thiếu hụt, lẽ ra hăy nên trong lúc này càng thêm gắng sức tu tŕ nhằm mong khỏi bị mắc họa, lại cứ muốn đâm đầu vào hang họa để được cái hư danh chẳng đáng một tiếng than ư? Chẳng tính tới cái họa cùng cực là “đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn đọa trong ác đạo”; bệnh cuồng của ông có thể nói là cực cuồng!

Gia Ngôn Lục, Văn Sao chẳng phải là khai thị ư? Những sách trước kia và những cuốn sách rút gọn v.v… chẳng phải là khai thị ư? Nếu như ư ông, dẫu có bao nhiêu sách vở đến nỗi phải dùng lừa, lạc đà, để chở tới chắc cũng chẳng vừa ư ông. Ông thật đúng là kẻ đáng thương! Xin hăy nhất tâm tŕ chú Đại Bi và danh hiệu Quán Âm để khỏi mắc phải các họa hoạn.

Gần đây, ở đất Tô có mấy vị thiện nhân dạy người khác niệm Ma Lợi Chi Thiên Chú để bảo vệ chính ḿnh lẫn gia đ́nh, cầu thái b́nh. Họ đă in mười vạn tờ, tặng cho mỗi gia đ́nh ở nơi đây một tờ, tặng cho mỗi cơ quan từ thiện các nơi khác mỗi nơi chừng đó tờ, mong [những nơi ấy] sẽ phân phát giùm, lại c̣n in thêm nữa. Lời Bạt [trong tờ chú ấy] do Quang sửa chữa giùm cho họ. Họ muốn Quang kư tên cho người khác trông thấy sẽ tin tưởng; v́ thế, tôi thuận theo ư họ mà kư vào.

Họ lại mời hai mươi người lành nhưng nghèo khổ thiếu cơm ăn đến hội từ thiện của họ để niệm chú ấy trong một trăm ngày, mỗi ngày cung cấp thức ăn và trả tiền tụng chú để họ có cái nuôi nấng gia đ́nh. [Việc này] đáng gọi là một hành động trọn đủ nhiều điều tốt đẹp. Đang trong cơn đại kiếp mênh mông này, chẳng phát tâm lợi người lợi vật một phen th́ khi ngọc lẫn đá đều cháy, há chẳng đành than xuông khi xưa đă lỡ làng ư? Nay gởi cho ông ba tờ, xin hăy niệm kèm thêm, ắt sẽ có cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn!

Trong thư, ông thường than bận rộn, bận rộn v́ lẽ ǵ vậy? Thật sự là bận rộn bởi những chuyện vô vị! Từ xa mấy ngàn dặm đến đây gặp Quang chỉ v́ nghe danh, để rồi gặp xong một bữa bèn chẳng chịu ở lại nữa. Những điều cực chánh yếu trong suốt một đời Quang và đời ông, Quang đă đều chỉ hết cho ông rồi. Ngoài những điều ông xin hỏi ra, [tôi c̣n giải đáp thêm bằng] một bức thư dài, nhưng ông vẫn như chưa hề thấy một chữ nào mà cũng chẳng buồn nhắc tới. Lại cứ thường than thở thiếu duyên, đúng là nực cười đến cùng cực! Nếu có thể chết sạch ḷng [mong ngóng, khiêm hư] sát đất, y theo lời tôi th́ từ đây sẽ được vui sướng vô cùng. Nếu không, sẽ giống như gă câm nuốt phải Hoàng Liên, chịu đắng nhưng chẳng thể nói được! Xin hăy sáng suốt suy xét, đây là lời dặn ḍ cuối cùng của Quang!

 

507. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ tám)

Ông vọng tưởng tơi bời mà vẫn gấp muốn được nhất tâm bất loạn, tâm ấy chính là cái gốc cho ma dựa. V́ thế, Quang nói: “Pháp môn Tịnh Độ trọng tại tín - nguyện”. Nếu tín - nguyện chân thật, thiết tha, dẫu chưa đắc nhất tâm vẫn có thể văng sanh. Nếu không có tín - nguyện, dẫu đắc nhất tâm, vẫn chẳng thể cậy vào tự lực để liễu sanh thoát tử! V́ thế, chẳng khuyên ông miệt mài cầu nhất tâm. Do ông vọng tưởng tơi bời, hễ cầu nhất tâm, nhất định sẽ bị ma dựa! Ông chẳng xét hiểu ư Quang, bèn nghĩ là “mặc kệ, miễn sao thuận tiện th́ thôi”. Những kẻ đối với chuyện trước mắt bèn tùy tiện, chắc chắn chẳng phải là người tín - nguyện chân thiết! Nếu tín - nguyện chân thiết, quyết chẳng đến nỗi hờ hững, tùy tiện, để rồi đều chẳng được văng sanh. Lư vốn chẳng chướng, do ông coi vô lư là hợp lư nên tự sanh chướng ngại th́ c̣n oán trách ai?

Quán Âm Đại Sĩ chính là quá khứ cổ Phật. Nhà khảo chứng tầm mắt nhỏ tí như hạt đậu nhưng cứ nói bừa đạo lư! Há ông chẳng từng đọc phẩm Phổ Môn trong quyển bảy kinh Pháp Hoa, chương Quán Âm Viên Thông trong quyển sáu kinh Lăng Nghiêm? Đọc hai kinh ấy sẽ bật cười trước những lời lẽ của bọn khảo chứng. Sách [Quán Thế Âm Bồ Tát] Bổn Tích [Cảm Ứng] Tụng không ǵ chẳng nói rơ. Chỉ v́ ông tâm khí thô phù, trọn chưa hề hiểu rơ ngữ khí và ư nghĩa của đoạn văn trước lẫn đoạn văn sau, nên mới mờ mịt, không biết theo hướng nào!

Ba cô con gái của vua Diệu Trang là ngoa truyền. Cao Vương Kinh là ngụy kinh. Tụng kinh ấy th́ vẫn có công đức chẳng ít, do [trong ấy] có thật nhiều danh hiệu Phật. Kinh này đă lưu truyền từ thời Lục Triều. Người thật sự thông hiểu Phật pháp chẳng đề xướng, nhưng muốn cho tục nhân gieo thiện căn nên cũng chẳng ra sức ngăn trở.

 

Ông thật đáng gọi là kẻ cuồng bậc nhất! Tâm vinh hoa trong cơi đời như sóng biển vỗ đập ào ào mà muốn ngay lập tức gió yên, sóng lặng, lắng trong, bất động. Tâm gấp muốn cầu được bất động chính là cái gốc của mọi sự đua nhau dấy động đấy! Lại như nồi đă sôi trào, cứ tận lực tăng thêm lửa mà mong cho nó chẳng trào sùng sục, há có được chăng? Quang nói với ông toàn là những chuyện “lặng gió, rút bớt củi”, nhưng ông chẳng xét kĩ, vẫn cho là khuấy sóng, sôi trào thêm, há chẳng đáng buồn quá đỗi ư? Ông hăy đọc kĩ Văn Sao, Gia Ngôn Lục, ắt sẽ chẳng đến nỗi tự phụ bạc ông. Nếu không, đừng coi tôi là thầy, hăy bái vị cao minh [nào khác làm thầy], Quang cũng chẳng hỏi đến ông nữa!

 

 

508. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ chín)

Lá thư dài đă nhận được. Do ông nói sẽ đi ngay, tôi tính gởi thư sang cho Đức Chánh ở Trùng Khánh, nên trả lời chậm trễ. Hôm qua nhận được thư ông, biết ông vẫn chưa trở về Tứ Xuyên, nên tôi nói đại lược. Sát kiếp hiện thời có thể nói là “từ xưa đến nay chưa hề có!” Đang trong lúc thế đạo nhân tâm ch́m đắm đến cùng cực này, làm dân đen cố nhiên là khổ, nhưng nỗi khổ của trưởng quan c̣n sâu đậm hơn trăm họ gấp hằng hà sa lần! Cha ông là Hoàn Quân Ông có tầm nh́n gần giống như ông, đều chưa thấy thấu suốt! Quân nhân hiện thời nói chung phải chú trọng thắng địch, từ sáng đến tối luôn suy nghĩ cách đánh thắng địch. Ông muốn đắc nhất tâm, thấy được hảo tướng ngay mà vẫn c̣n có thứ vọng tưởng ấy. May mà ông được Quang nói toạc ra. Nếu không, chắc chắn bị ma dựa!

Ước theo thân phận ông để luận, hăy nên giữ vững ḷng chí thành, cung kính, lễ niệm là được rồi, đừng miệt mài cầu tương ứng th́ sẽ có ích, không bị tổn hại. Nếu không, sẽ nguy hiểm hơn vào vực sâu, bước trên băng mỏng đấy! Ông nói: “Làm sĩ quan th́ người khác chẳng dám khinh khi!” Hăy thử nghĩ xem quỷ có dám khinh ông hay chăng? Đă làm sĩ quan, há chẳng thể không chú trọng giết địch? Nếu giết cho đúng th́ vẫn c̣n chưa đến nỗi bị trời phạt rành rành. Nếu không, sẽ như Bào Siêu ở quư tỉnh, Quách Tử Mỹ ở Hồ Nam, chẳng đáng thương xót lắm ư? Đầu đời Tống, Tào Bân làm nguyên soái, chẳng giết lầm một ai, nên [con cháu] mấy đời sang quư, vinh hiển. Tào Hàn là phó soái của Tào Bân, do Giang Châu đă lâu chưa chịu hàng bèn tàn sát cả thành. Không lâu sau, thân chết, con cháu tuyệt diệt, c̣n nhiều lần mang thân lợn (vào thời Vạn Lịch nhà Minh, ông ta từng báo mộng cho Lưu Ngọc Thụ) bị người khác mổ xẻ. Những con vật nay làm thức ăn cho người khác, phần nhiều là do những đại nhân vật giống như vậy biến thành, há nên hâm mộ sự hống hách một thời ư?

Nếu chủ soái có ḷng nhân như Tào Bân, chính ḿnh đă biết nhân quả Phật pháp, hễ gia nhập quân đội, chánh trường sẽ có thể trừ bạo an dân, ngơ hầu đối với ḿnh và đối với dân đều có công. Nếu nay coi mạng người như cỏ rác, binh sĩ lại không có kỷ luật, đến đâu cũng đều cướp bóc, gian dâm; ông đă bị người khác khống chế, há chẳng thể không tận hết chức trách ư? Hễ tận hết chức trách th́ chẳng thể thuận theo ḷng ḿnh nghĩ mà phải hoàn toàn tuân theo mạng lệnh của người khác. Như vậy th́ tuy có thể làm cho dân quê kính sợ, nhưng tôi trộm sợ quỷ thần chẳng kính sợ, sẽ muốn giáng họa, đến nỗi chính ḿnh và người thân đều bị tổn hại đấy!

Cha ông tuy là một thiện nhân, nhưng tâm chuộng thể diện quá lớn, v́ thế đang trong đời loạn này vẫn gấp muốn xây dựng từ đường. Thử nghĩ: Người nghèo khổ không có từ đường mà vẫn làm người được, cần ǵ cứ phải kiếm một chức quan trong đời loạn, dựng ngay từ đường ư? Ông nghe theo hay không, Quang chẳng cản ông; chỉ không thể chẳng thuật lợi - hại cùng ông! Nếu ông biết điều này th́ ở trong cả hai giới quân sự lẫn chánh khách cũng đều rất có ích, chứ không phải là những lời nói thừa thăi vô dụng!

Ông không hiểu chuyện quá sức, Quang quở trách ông vẫn là v́ ông không hiểu rơ cho nên chỉ dạy ông. Lời lẽ chẳng thống thiết sẽ không thể động tâm ông được! Ông lại tưởng là tôi giận dữ bèn hai lần dùng chữ “vạn tử” (đáng chết vạn lần), ba lượt dùng chữ “vạn vọng vật giới ư” (muôn vàn mong mỏi đừng để ư). Vậy là ông nghĩ tôi là hạng sân độc không thể h́nh dung được, là hạng người bỉ ổi, thô ác, hung tợn chẳng đáng tiếp xúc. Sao chẳng biết sự vụ đến mức như thế? Không có chuyện ǵ chớ nên gởi thư đến nữa!

 

509. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ mười)

Sao ông không biết sự vụ đến mức như thế. Quang là hạng người nào mà có thể sánh bàn với Liên Tŕ đại sư? Ông nói lời ấy nhằm tâng bốc Quang, chẳng biết là đă hủy báng Quang vậy! Từ nay về sau đừng dùng [lời lẽ] “đem phàm lạm thánh” để tâng bốc tôi như thế nữa! Tôi thấy lời ấy như bị đánh, như bị nhạo báng, hổ thẹn khôn ngằn!

 

1) “Tâm thanh, trăng hiện”, há nên bàn luận theo kiểu chấp chết cứng? Cần biết rằng: Phàm phu có sự trong lặng hiển hiện của phàm phu, Thanh Văn có sự trong lặng hiển hiện của Thanh Văn, Bồ Tát có sự trong lặng hiển hiện của Bồ Tát; chỉ có thành Phật mới có thể đạt tới sự trong lặng hiển hiện rốt ráo. Nếu nói đúng như pháp th́ trong hết thảy những địa vị khác đều chẳng phải là trong lặng hiển hiện, chỉ có Phật mới là trong lặng hiển hiện. [Do vậy, ông cho rằng] lời đại sư Liên Tŕ trở thành sai ngoa, chẳng biết chính ḿnh hoàn toàn chưa mở được chánh nhăn nên mới có thứ lập luận mù quáng ấy! Sao lại khổ sở như thế?

Sự trong lặng hiển hiện của phàm phu là sự trong lặng hiển hiện do quán hạnh. Thanh Văn đoạn Kiến Hoặc, Tư Hoặc chính là sự trong lặng hiển hiện thuộc về địa vị Tương Tự. Bồ Tát thuộc địa vị Nội Phàm, [tức là những địa vị] từ Sơ Tín đến Thất Tín cũng giống như Thanh Văn. Bát, Cửu, Thập Tín phá Trần Sa, chứng Pháp Không, há nên nói là “phá Pháp Không”? Sơ Trụ liền phá Vô Minh, chứng Pháp Thân. Đây chính là địa vị đầu tiên của bậc Phần Chứng. Cho đến Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Đẳng Giác (Đẳng Giác là địa vị cuối cùng thuộc Phần Chứng. Trong các địa vị thuộc Phần Chứng, phàm những ǵ Phật chứng được, họ đều chứng, nhưng chưa chứng được viên măn rốt ráo). Bốn mươi mốt địa vị chính là sự trong lặng hiển hiện nơi Phần Chứng; chỉ có Phật mới là trong lặng hiển hiện rốt ráo.

 

Hơn nữa, ngay trong một địa vị c̣n có vô lượng vô biên [tầng cấp chứng ngộ] sâu - cạn bất đồng. Ví như người nước ngoài đến Trung Quốc, vừa đến biên giới Trung Quốc liền có thể nói là “đă đến Trung Quốc”, nhưng từ đấy vẫn c̣n có đường dài mấy ngàn dặm mới tới được kinh đô Trung Quốc. Ư ông cho rằng: “Đă đến rồi th́ không cần bàn đến đường đi nữa; đă chưa đắc đạo mà nói sự hiển hiện trong lặng th́ thành sai ngoa, trái nghịch với sự tướng cậy vào Phật từ lực đới nghiệp văng sanh”. Lỗi ấy là do ông thích xưng là bậc thông gia, chứ không phải v́ Liên Tŕ đại sư nói lời chẳng thích đáng! Từ nay về sau, hăy nên sốt sắng niệm Phật, bớt nói lời phô trương! Nếu vẫn [dùng lời lẽ] đem phàm lạm thánh tâng bốc Quang như thế tức là khiến cho thiên hạ hậu thế thóa mạ Quang! Sao lại khổ sở làm những chuyện tổn hại vô ích như thế?

 

2) Lời của Liên Tŕ đại sư là lời viên dung vô ngại. Nếu [là người] căn cơ sâu, y theo đó tu tŕ sẽ có đại lợi ích. Nếu căn cơ nông cạn, hoặc mắc khuyết điểm chấp Lư phế Sự, chỉ nên chiếu theo sự tướng chí thành tŕ danh th́ mới là ổn thỏa. Thuyết “Lư nhất tâm” do không làm được, có nói cũng vô ích; chỉ không đề xướng là được rồi, [chứ thốt ra] hai chữ “bài xích” chẳng phải là ăn nói vớ vẩn hay sao? “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Nếu chẳng làm Phật mà nói “tâm này là Phật” th́ có thể bài xích được. Nếu niệm Phật mà nói “tâm này là Phật” th́ đấy chính là căn bản để khuyên người, há nên lẫn lộn thốt lời bài xích! Nếu bài xích sẽ trở thành tà kiến, tội cực nặng! Phàm quán tưởng hay tŕ danh đều gọi là “làm Phật”.

 

3) Lời ấy của Liên Tŕ đại sư dành cho kẻ chuyên chí quán tưởng. Ông đem cái tâm suy tưởng tán loạn của ông để so đo, nên trở thành lời lẽ chẳng biết thân phận! Phàm phu tâm như khỉ - vượn, chẳng thể định được trong khoảnh khắc nào, há có thể tưởng tướng nào sẽ thấy được tướng ấy ư? Nếu thâm tâm quán tưởng, quán cái này lại thấy cái kia, tức là không tương ứng. V́ thế gọi là tà, là chẳng tương ứng! Ông lại cho là ma th́ là đă sai quá rồi! Nhưng nếu chẳng tương ứng mà chẳng nhận biết th́ lâu ngày chắc sẽ có ma sự!

4) Ông thật sự là một gă hồ đồ chẳng biết trời cao đất dầy nên mới dám dẫn chuyện Thiện Đạo đại sư xả thân để làm tiền lệ. Ngài Thiện Đạo niệm Phật miệng tỏa quang minh, chính là bậc thánh nhân đại thần thông. Lâm chung, Ngài trèo lên cây liễu nói kệ, nhảy xuống bèn đứng qua đời, ông ngỡ là Ngài từ trên cây té xuống chết! Ông đúng là tội lỗi, mắt quáng mà chuyên thích nói lời lẽ mù quáng. Ông muốn xả thân sẽ thành con quỷ chết oan, mong sanh Tây Phương th́ có mộng cũng chẳng mơ được đâu! Trong những truyện kư về Thiện Đạo đại sư, đôi khi có những chỗ lời văn chưa thể hiện rơ ư nghĩa mầu nhiệm này cho nên ông tưởng là Ngài xả thân mà chết!

Ông từng thấy chuyện của Châu Tiến Sĩ trong Kim Cang Kinh Cảm Ứng hay chưa? [Ông Châu] nghe bốn câu kệ của kinh Kim Cang sanh ḷng hoan hỷ; chẳng lâu sau mộng thấy theo năm kẻ [tội nhân] nọ ngồi xe đến một nhà. Năm người đều uống canh, ông ta muốn uống, nhưng người dẫn ông ta đi (tức gă quỷ sứ áp giải tội nhân) không cho uống, liền tỉnh giấc. Trong tâm hết sức lạ lùng, t́m đến nhà ấy, họ nói có sáu con chó vừa mới sanh, một con chết ngay. Do vậy, ông ta chuyên tŕ kinh Kim Cang, đến năm tám mươi chín tuổi trèo lên cây nói kệ, rồi buông ḿnh xuống, đứng yên qua đời. Trong đời này, người ấy [đáng lẽ] biến thành chó, nhưng do mấy chục năm tŕ kinh Kim Cang nên vẫn có thể từ trên cao nhảy xuống qua đời như thế; huống hồ Thiện Đạo đại sư là bậc đại thánh nhân thần thông mầu nhiệm khôn lường ư? Ông tưởng là xả thân, đáng thương lắm thay! Điều này cũng là cùng một tri kiến với kẻ ngu, thấy Phật nhập Niết Bàn bèn bảo là “Phật chết”.

 

5) Ông vọng tưởng tột cùng, so với sóng cuộn trong biển cả c̣n sôi sục hơn rất nhiều. Chỉ nên tự lượng thân phận của chính ḿnh để hành, nào sợ kẻ khác chê cười! Nếu ông trở về nhà ở Thành Đô, hăy nên đem tâm tướng ấy khuyên cha ông là Hoàn Quân Ông hăy thong dong đôi chút để đôi bên đều được thành tựu. Nếu ông tinh thành niệm Phật th́ quyến thuộc cũng sẽ có dịp chuyển biến. Ông nội ông là Hưng Toàn Ông c̣n để lại gia nghiệp, mà ông vẫn nói “khổ sở chẳng thể chịu đựng được!” Nếu ông vốn là gă nghèo cùng, chắc sẽ chẳng c̣n muốn làm người nữa ư?

Nay ông cực lực muốn chống đỡ thể diện xuông, chính ḿnh lại hoàn toàn khởi lên những vọng tưởng chẳng dựa theo đạo lư ấy. Vọng tưởng ấy có thể làm rạng mày nở mặt tổ tông, trọn hết phận con, báo đáp bà nội kế là Sài lăo thái phu nhân, trọn hết trách nhiệm của một tín đồ Phật giáo hay không? Đă biết cảm kích ơn người dẫn dắt nhập đạo, sao chính ḿnh lại làm những chuyện phụ bạc ơn của khắp mọi người thân lẫn ân Phật? Từ nay về sau, ông chỉ nên đọc Văn Sao, đừng gởi thư tới nữa. Tôi quả thật chẳng có tinh thần để thù tiếp những lời lẽ ma mị của ông!

 

510. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ mười một)

Nhận được thư và khoản tiền gởi đến. Đọc thư ông, biết ông cảnh ngộ khốn cùng, biết ông chẳng giữ yên bổn phận. Ông tiền bạc không dư dả, há nên vẫn ương ngạnh giữ thể diện đối với Quang? Quân tử hành xử theo đúng địa vị, hễ nghèo cùng th́ chẳng lấy tiền tài làm lễ; huống hồ đối với vị thầy chính ḿnh đă coi như cha như mẹ ư? Do vậy, biết ông một mực luôn mang thứ t́nh kiến này: “Do không chống giữ được thể diện, bèn muốn t́m cái chết!” Ông chẳng biết đă mang thứ tâm hạnh ấy, hễ chết rồi th́ so với việc bị mất thể diện sẽ c̣n khó chịu đựng hơn vô lượng vô biên hằng hà sa lần!

Trước đây, ông từng nói Trùng Khánh Phật Học Xă khá chuộng Mật Tông, ông muốn lập một cơ sở khác chuyên tu Tịnh Độ. Đấy cũng là lời nói chẳng biết giữ yên bổn phận! Phàm tạo dựng cơ sở, điều thứ nhất là phải được mọi người tin phục. Điều thứ hai là phải có tiền để ứng ra. Tuy quyên mộ mọi người, nhưng chính ḿnh vẫn phải bỏ ra trước. Trong hai điều này, ông chẳng có được một điều nào! Há nên khởi lên những thứ suy tính vượt phận ấy ư?

Trong nhà đă có cơm ăn, chẳng cần phải mong phát tài nứt đố đổ vách nữa! Đối với hai giới quân sự và chánh khách hiện thời, nếu ông chẳng quan tâm đến đầu mặt trong đời sau th́ cứ gia nhập cũng chẳng sao. Nếu vẫn lo đến đầu mặt đời sau th́ đừng gia nhập sẽ là kế sách tối thượng thượng. Hăy nên bảo cặn kẽ với Đức Chánh Kê thị buông xuống tập khí phú quư, kiêu căng, xa xỉ, hăy ăn mặc, trang sức như phụ nữ nông dân chốn làng quê, cùng với bà ta trở về gia đ́nh ở Thành Đô, nghiêm túc giữ ǵn sản nghiệp của tổ phụ.

 

Đấy sẽ là biện pháp rốt ráo ổn thỏa, thích đáng nhất. Những điều khác trước đây tôi đă đều nói qua, nên không cần phải nhắc lại nữa!

 

511. Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy (Thư thứ mười hai)

Đọc thư ông, khôn ngăn hoan hỷ! Bọn họ trong bảy ngày liền có thể văng sanh, liền có thể thành Phật th́ người trong khắp cả thế gian đều thành Phật. Chúng ta là nghiệp lực phàm phu, ắt sẽ có vô lượng vô biên Phật độ thoát, may mắn chi hơn? Nhưng chúng ta hăy giữ bổn phận ta, nhường cho bọn họ thành Phật độ thoát chúng ta, há chẳng phải là càng ổn thỏa hơn ư? Như bọn họ c̣n có nguy hiểm, chứ trong pháp môn này của ta trọn chẳng có nguy hiểm! Nếu nghe bọn họ nói th́ thật bùi tai, khôn ngăn nhiệt tâm dấy lên. Nếu thành th́ may mắn, nhưng bại sẽ thành quyến thuộc ma, thật khiến cho người ta nguội lạnh cơi ḷng!

 

Thần thông của gă X… đă hoàn toàn thất bại. Ngôn luận của gă X… và gă Y… đều đúng là vu báng, miệt thị thánh hiền. Bọn họ đă thành Phật, sao lại có hiện tượng ấy? Do vậy biết: Bọn họ hoàn toàn chẳng khác ǵ lũ trẻ đầu đường xó chợ, nói chi có Phật tâm cho được? Những điều khác chẳng cần phải nhắc đến nữa!

 

512. Thư trả lời cư sĩ Ôn Kê Đức Chánh

Chồng bà là Đức Trung Ôn Quang Hy nói: “Bà phát tâm cúng dường tôi”, tôi sẽ dùng món tiền ấy để in sách lợi người. Bà may mắn được gả vào gia đ́nh giàu có, trọn chẳng biết đến những nỗi khổ trong đời người, lại không có ai khuyên dạy, khai thị nên sống uổng một đời. Như vậy th́ sau này làm sao thoát khỏi luân hồi lục đạo cho được? May sao chồng bà là Quang Hy hơi biết Phật pháp. Tuy bà chưa thể tin nhận ngay, nhưng đă dần dần được tiêm nhiễm, lâu dần sẽ có ngày thiện căn phát hiện.

 

Bà nằm mộng thấy cảnh tượng kỳ quái liền sanh ḷng sợ hăi, cầu xin tôi nói cách cứu vớt, che chở. Bà chẳng biết: So với tướng trạng luân hồi trong tam đồ lục đạo, tướng khổ ấy nhỏ nhoi chẳng thể nào thí dụ được!

 

Sự khổ trong luân hồi giống như đại địa, c̣n nỗi khổ [bà cảm nhận trong giấc mộng] ấy giống như vi trần. Chúng sanh tâm lượng hẹp ḥi nên chỉ thấy được chuyện nhỏ nhoi, chẳng thể thấy được chuyện lớn lao. Bà sanh ḷng sợ hăi nơi sự khổ nhỏ nhoi, cầu tôi nói pháp cứu khổ, sao lại trọn chẳng để ư tới nỗi khổ sanh tử lớn lao vậy?

 

Nay tôi nói cho bà một pháp để cứu chung đại khổ lẫn tiểu khổ. Nếu bà có thể y theo lời tôi nói, chắc chắn trong hiện tại bà sẽ không gặp nỗi kinh sợ nhỏ nhoi ấy, tương lai nhất định thường an lạc. Pháp ấy ra sao? Chính là chí thành khẩn thiết niệm Phật và niệm danh hiệu Quán Âm Bồ Tát. Pháp tắc niệm như thế nào hăy nên hỏi Quang Hy. Chớ nên chỉ biết an vui, nhàn tản, bỏ uổng thời gian.

 

Lại c̣n nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính ḿnh, nghĩa là “hiếu thuận với cha mẹ ruột, với bố mẹ chồng, ḥa thuận với anh em trai, chị em gái, chị em dâu, vợ chồng kính trọng nhau như khách, khuyên nhau làm lành, nhắc nhở nhau sửa lỗi, khéo dạy dỗ con cái, đối đăi khoan dung với kẻ dưới”. Làm được như thế chính là hiền nhân!

 

Lại c̣n kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, niệm danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương; dẫu cho nỗi sợ hăi lớn lao là sanh tử cũng sẽ hoàn toàn tiêu diệt, huống hồ những nỗi sợ hăi nhỏ nhặt trong giấc ngủ mà chẳng lập tức ngưng mất ư?

 

Tôi là phàm phu, nhưng lời này của tôi có thể khiến cho hết thảy mọi người siêu phàm nhập thánh. Bà hăy nên chí tâm tin nhận sẽ có lợi ích lớn lao. Sách Khuê Phạm đă hết, đợi khi nào có người sang Thượng Hải sẽ bảo họ thỉnh Nữ Tử Nhị Thập Tứ Hiếu (hai mươi bốn tấm gương hiếu nữ), Nữ Tứ Thư, Liệt Nữ Truyện v.v… gởi tới để tặng cho những phụ nữ thông hiểu văn lư, biết luân thường. Lại c̣n có Đạt Sanh Thiên cũng sẽ gởi tới một hai gói. Đối với những chuyện trước khi sanh, trong khi sanh và sau khi sanh, sách này đều nói tường tận. Trong lời Tựa của Quang lại c̣n giảng rơ: “Trong khi sanh nở, niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát nhất định sẽ không bị sản nạn mà mẹ lẫn con đều được vẹn toàn, gieo đại thiện căn”.

Bà hăy nên thường đem chuyện niệm Phật, niệm Quán Thế Âm để giáo hóa hàng phụ nữ quen biết, ngơ hầu ai nấy xoay vần khuyên chỉ lẫn nhau th́ sẽ có lợi ích lớn lao cho bà lẫn những người quen biết. Bà chớ nên ǵn giữ măi thói kiêu ngạo, lười nhác, thích làm chuyện vô ích như cờ bạc, la cà ngoạn cảnh, sẽ chẳng thể nào không đạt được lợi ích lớn lao! Đối với bệnh của Quân Tốn và hai cô con gái Quân Tĩnh, Cẩm Du, cũng có thể niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để trị. Quán Thế Âm Bồ Tát không ai cầu chẳng được ứng nghiệm, chỉ sợ con người chẳng chí tâm mà thôi! Xin hai vợ chồng bà khéo thấu hiểu ḷng tôi th́ may mắn lắm thay!

 

 

513. Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (Thư thứ nhất)

Nhận được thư, biết các hạ thường viết nhiều bài đề xướng sự lợi ích Tịnh Độ, vui mừng, an ủi tột bậc. Sẽ gởi cho Thượng Hải Tịnh Nghiệp Xă để họ đăng tải trong nguyệt san, ngơ hầu độc giả đều cùng sanh ḷng tin. Ông nói khí lực, thể lực hết sức suy yếu, tợ hồ có lẽ nên chuyển ḷng đau buồn thương xót thành niệm Phật cho mẹ để người mất lẫn kẻ c̣n đều được lợi ích lớn lao, cần ǵ cứ phải khăng khăng giữ ḷng buồn đau, tiều tụy mới là hiếu!

Ngày Hai Mươi Lăm tháng Ba, Quang đến chùa Thái B́nh ở Thượng Hải. Vào ngày Hai Mươi Sáu th́ khoản tiền hai trăm đồng từ Nam Thông chuyển tới. Thoạt đầu do bận bịu đến nỗi quên báo cho Thư Cục, sau đấy bảo họ gởi chừng đó sách, chẳng biết họ đă gởi hay chưa? Nay lại từ Phổ Đà gởi tới cho ông một gói nữa, xin hăy xem qua. Đợi khi sách được in ra vào lần thứ hai, lần thứ ba, sẽ gởi thêm nữa. Một trăm đồng sẽ thỉnh được ba trăm bộ; dẫu các hạ không gởi tiền, Quang cũng cần phải gởi ngần ấy bộ để mong ai nấy đều biết đến ân đức từ bi của Đại Sĩ. Hiện thời đă có người đảm nhiệm in đến bảy vạn bộ. Do năm ngoái có chiến tranh, chưa đưa giấy ra khỏi núi được; năm nay lại bị hạn hán đến nỗi lần khân tới tháng Tư.

Phật Quang Xă được các hạ đề xướng nào có thiếu sót ǵ mà cần Quang phải góp lời. Người tu Tịnh nghiệp chớ nên dính vào chút điểm xảo thuật nào. Nếu vẫn thích những chuyện kỳ lạ, không ưa chuyện b́nh thường, ắt sẽ biến khéo thành vụng. Do điều này, người thông Tông thông Giáo thường chẳng bằng ngu phu ngu phụ thật thà niệm Phật lại được ích lợi thật sự. Nếu chịu giữ nề nếp b́nh thường, đạm bạc, chất phác, thật thà th́ sanh về Cực Lạc sẽ là điều có thể dự đoán chắc chắn được! Nếu không, chẳng sanh về Cực Lạc cũng là điều có thể đoán chắc được! Xin hăy thiết thực khuyên xă hữu tin tưởng như thế, hành như thế th́ lợi ích lớn lao thay!

 

514. Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (Thư thứ hai)

Chưa trả lời thư đă lâu, thiếu sót quá! Trước đây tôi đă nhận được tờ đặc san kỷ niệm Phật Quang Xă tṛn một tuổi được in bằng ronéo, thấy có in bài viết của Châu Mạnh Do ca ngợi Quang thật đáng khiến cho người ta hổ thẹn muốn chết. Mạnh Do vô tri làm càn, sao các hạ lại cho đăng tải bài ấy, khiến tội Quang sâu thêm? Xin từ nay về sau, hễ bài viết nào dính dấp thói ấy hăy đều loại bỏ để người đọc khỏi bàn ra tán vào!

Nay nhận được thư và khoản tiền của ông Ngô Điệp Khanh và tờ Phật Quang Xă San. Ngô thái phu nhân phước lẫn thọ đều vẹn toàn, điều thiếu sót là chẳng biết tới pháp môn Tịnh Độ. Nay con của cụ là Điệp Khanh thành tâm cầu siêu, ắt cụ sẽ nương theo Phật từ lực để được văng sanh. Với món tiền hai trăm đồng ấy, tôi sẽ dùng một trăm để cử hành Phật thất, thỉnh mười sáu vị Tăng niệm Phật. Hiện thời khí trời nóng bức phi thường, Quang tính biếu riêng cho mỗi vị một đồng, tổng cộng là mười sáu đồng. Tám mươi bốn đồng c̣n lại th́ đợi tới khi sắp chữ Văn Sao bản mới và Thọ Khang Bảo Giám (sách này chính là cuốn Bất Khả Lục được giảo chánh, sửa đổi, tăng thêm bài, tính in ra mấy vạn cuốn để cứu vớt những kẻ thanh niên trước khi họ bị bệnh) xong, năm sau khi in ra sẽ gởi sách vừa đúng với số tiền ấy đến nhà họ Ngô để mong kết duyên.

Quán Âm [Bổn Tích Cảm Ứng] Tụng in lần thứ hai vừa được mười mấy hôm th́ trong ngày mồng Hai tháng Bảy, toàn thể công nhân băi công! Lần này, do họ đ̣i hỏi phi lư, chắc Trung Hoa Thư Cục khó thể đáp ứng được, sợ là trong nhất thời, chẳng thể giải quyết xong! Bởi vậy, dù in hay sắp chữ đều phải chậm trễ! Xă San (tờ báo của Phật Quang Xă) rất hay, nhưng chữ quá nhỏ, mắt già rất khó đọc! Giấy dày th́ bưu phí sẽ đắt thêm chừng đó nữa!

Thư gởi cho ông Phùng Bất Cửu, Quang không có bản nháp, nay [lá thư ấy] đă được đăng tải trên Xă San, Quang sẽ cho chép lại để đưa vào Văn Sao. Những điều khác chẳng có quan hệ lớn lao ǵ, chỉ có một đoạn nói “nhưng tiên sinh [Giang] Thận Tu tạo ra thiên địa nhật nguyệt chẳng thể vận hành, [nhờ] được khí Âm của đứa tớ gái mới vận hành” là rất có quan hệ. Đưa lá thư ấy vào Văn Sao cũng phá trừ được tà kiến, khiến cho [người đọc] biết được chánh pháp. Nhưng trong lá thư ấy, có nhiều chỗ bị sao lục thiếu sót câu văn; những đoạn khác đều chẳng quan trọng khẩn yếu cho lắm, chỉ có đoạn thứ hai “một Âm một Dương gọi là Đạo”, nơi ḍng thứ sáu ở phía trên đă chép lẫn lộn “Thành tức Minh Đức, Minh tức Minh Minh Đức chi Minh thành minh”, trong mười ba chữ ấy cũng có chữ sai, nhưng không có quan hệ khẩn yếu lớn lao. Đọc sơ qua những bài khác th́ thấy không bị sai ngoa nhiều lắm, chỉ có lá thư này bị sai khá nhiều.

Quang mục lực lẫn tâm lực đều thiếu, bận bịu quá sức, nên chẳng thể ra sức viết lách cho Phật Quang Xă được, thật thiếu sót! Các hạ đă cực lực đề xướng nên mọi người hiền đều nhóm tới, quả thật là một chuyện vui lớn lao trong đời người, mà cũng là một niềm đại hạnh phúc cho quư địa. Biên nhận [mở Phật thất] niệm Phật cho nhà ông Ngô gởi kèm theo thư, xin hăy báo với ông ta về chuyện sử dụng một trăm đồng c̣n lại.

Thầy Chân Đạt tính giúp một trăm đồng để thỉnh kinh điển cho Phật Quang Xă, sai Quang liệt kê một danh sách những kinh sách phổ biến thường được đọc nhiều, đợi tới cuối tháng lên Thượng Hải sẽ thỉnh rồi gởi tới. Đừng lo! Trong năm sau, Quang in Tăng Quảng Văn Sao bản mới và Thọ Khang Bảo Giám bản tăng quảng xong, cũng sẽ gởi sang Phật Quang Xă chừng đó cuốn để kết tịnh duyên. Các hạ và bạn bè viết lời khen ngợi Bất Huệ tức là đă mắc tội “đem phàm lạm thánh”. Xin từ nay về sau vàn muôn phần đừng dùng cách ấy nữa để đôi bên đều được thoải mái.

 

515. Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (Thư thứ ba)

Nhận được thư khôn ngăn cảm thán. Lệnh sư Sắc Am v́ sanh kế chưa thể sốt sắng tu tŕ pháp môn Tịnh Độ, nhưng các hạ đă đem ḷng chí thành cầu siêu cho cụ, ắt cụ sẽ được nương theo Phật từ lực tiếp dẫn văng sanh. Do thấy Đại Sĩ Tụng (tức Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng) bị chậm trễ đă lâu, trong mồng Một tháng này Quang liền xuống núi. Mồng Ba tới Thượng Hải, tiếp xúc Thư Cục. Mồng Bốn đến Ninh Ba, thương lượng chuyện xây cất đại điện chùa Pháp Vân (năm sau mới xây cất). Mồng Bảy về Thượng Hải, thư của lệnh điệt Tri Nguyên và khoản tiền gởi tới đều nhận được rồi.

Chùa Thái B́nh hiện đang có Phật Thất, chẳng thể cùng tiến hành được. Do vậy, tôi đến Tịnh Nghiệp Xă thương lượng với ông Quan Quưnh Chi; ông ta rất hoan hỷ, quyết định sẽ khởi thất từ hôm mồng Mười. Ở chỗ ông ta, Tăng sĩ niệm Phật chỉ có mấy vị, nhưng cư sĩ rất đông. Quang cho rằng cư sĩ đến [tham dự], ắt cần phải cung cấp cơm nước, sợ đông người quá chắc họ phải bù thêm tiền. Ông ta nói: “Bù đắp chút ít cũng đâu có sao! Nhờ vào đấy để mọi người gieo thiện căn”. May mắn chi bằng! Thí Tỉnh Chi, Hoàng Hàm Chi v.v… lúc ban ngày bận việc, ban đêm khi nào được rảnh rỗi cũng đến niệm. Họ nhờ Quang khai thị hôm mồng Mười. Phật Thất lần này so ra có ích hơn việc chỉ thỉnh mười mấy vị Tăng niệm Phật nhiều lắm. Đây cũng là do ḷng Thành của các hạ cảm thành và cũng do túc nhân của lệnh sư mà có.

Thầy Chân Đạt đă thỉnh cho Phật Quang Xă một trăm lẻ bảy đồng kinh sách, đợi khi có người thuận dịp trở về Vụ Nguyên sẽ nhờ họ mang đến. Đừng lo! Tôi đă nhận được đầy đủ sách của các hạ đă từ Phổ Đà chuyển đến vào hôm mồng Tám. Không lâu nữa Quang sẽ trở về Phổ Đà, đợi tháng Ba hay tháng Tư năm sau sẽ lại sang Thượng Hải để lo liệu các khoản chi phí in các bộ Đại Sĩ Tụng v.v…

 

516. Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (Thư thứ tư)

Thư trả lời lần trước, chắc [các hạ] đă nhận được rồi! Năm giờ chiều hôm qua tôi đến Tịnh Nghiệp Xă, hỏi Quan Quưnh Chi có mấy vị Tăng nhân [tham dự Phật Thất], ông ta cho biết có chín vị. Cư sĩ nam nữ hơn một trăm người. Chiều hôm qua do bọn họ thông báo, người đến tham dự càng nhiều hơn nữa. Quang tŕnh bày đại lược duyên do và lợi ích của việc niệm Phật trong khoảng một tiếng năm phút. Ngày hôm nay, bảo đem những kinh sách đă thỉnh từ trước giao sang chùa Thái B́nh, tổng cộng là hai mươi lăm gói nhỏ, phía ngoài dùng bao lác bọc thành bốn bọc lớn. Phiếu giao sách tổng cộng là bốn trang được gởi kèm theo thư để tiện kiểm nhận.

Thầy Chân Đạt xin các hạ hăy cho người viết tên của từng loại kinh sách đă thỉnh vào phần Thư Căn như An Sĩ Toàn Thư v.v… th́ sẽ chẳng đến nỗi tạp loạn khó t́m. Trong ấy có [những kinh sách số lượng khác biệt] một, hai, ba, bốn, năm bộ. Nếu đối với những sách dư ra mà dùng để kết duyên th́ không cần phải phân biệt, chứ nếu đều lưu giữ trong Phật Quang Xă th́ cần phải chép rơ mỗi bộ giống như thế để chẳng đến nỗi bộ này bộ kia so le không đều đến nỗi khó coi. Số sách ấy đợi có người tiện dịp trở về Vụ Nguyên sẽ cậy họ đem theo. Nay gởi trước phiếu giao sách kèm theo thư để khi sách gởi đến sẽ có cái để dựa theo đó mà kiểm nhận.

 

517. Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (Thư thứ năm)

Nhận được thư hôm trước, biết lệnh từ niệm Phật văng sanh, khôn ngăn mừng cho lệnh từ, xót cho các hạ. Tuy nhiên, lệnh từ đă siêu phàm nhập thánh, cố nhiên chẳng cần phải bi thương vô ích giống như kẻ thế tục. Các hạ đề xướng Tịnh Độ, thoạt đầu lệnh phu nhân văng sanh, nay th́ lệnh từ văng sanh. Đủ thấy “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh; đạo do người hoằng, hễ đề xướng ắt có người phụ họa”. Nhưng do Quang bận bịu đến cùng cực, chẳng thể soạn thuật ngay, cảm thấy thiếu sót đến cùng cực.

Tôi sửa chữa đôi chút cuốn Tam Tự Kính. Hôm trước Tuyết Tinh đến đây cầm đi, ông ta muốn sao lục, liền thay mặt gởi đi. Truyện của lệnh từ thật quá sơ sài, nay tôi đem nguyên cảo gởi trả lại kèm theo thư, xin hăy thêm thắt, sửa đổi, sao cho truyện được hoàn bị. Lại nên bảo Hữu Bằng sao ra mấy bản, gởi cho các tờ báo Phật giáo. Do gần đây Quang bận bịu quá nhiều việc, chẳng thể sửa chữa cặn kẽ được!

Tám gói sách đă gởi trước đây, ông đều nhận được rồi, tôi yên tâm lắm. Quang định sẽ diệt tung tích ẩn náu lâu dài vào cuối tháng Chín do chuyện thù tiếp ngày một nhiều, tinh thần ngày một giảm. Nếu chẳng ẩn dật lâu dài, chắc sẽ quanh năm suốt tháng bận bịu v́ người khác, chẳng có lúc nào ngơi! Tất cả những bản gốc của các sách được in gần đây đều giao hết cho Cư Sĩ Lâm, họ tính mở Phật Học Thư Cục để lưu thông rộng răi. Chẳng qua họ mang tánh chất doanh nghiệp, so với [Hoằng Hóa Xă của] Quang chỉ tính giá vốn th́ giá sách [của Phật Học Thư Cục] sẽ đắt gần gấp rưỡi!

 

518. Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (Thư thứ sáu)

Pháp danh của bảy người [xin quy y] được viết trong một tờ giấy khác. Thời cuộc nguy hiểm, hăy nên bảo ai nấy đều ăn chay, niệm Phật và niệm Quán Âm để cầu Phật, Bồ Tát gia bị, khiến cho chiến sự sớm chấm dứt, ngơ hầu nước nhà đều được yên vui. Điều quan trọng nhất là phải biết nhân, hiểu quả. Nước ta loạn lạc đến cùng cực như thế này đều là do người đời trước cao giọng đề xướng học thuyết bài bác nhân quả, coi “hễ có làm ǵ để làm lành th́ đấy là làm ác” mà ươm thành. Nếu vẫn chẳng chịu nói điều này mà muốn cho thiên hạ thái b́nh th́ sợ rằng sẽ chẳng có ngày ấy đâu!

 

519. Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (Thư thứ bảy)

Đă lâu chưa gởi thư. Tháng trước, lệnh điệt Thủ Tiên đă gởi Tục Thi đến. Quang do bận bịu cùng cực, phải đến hơn nửa tháng mới xem trọn hết đầu đuôi. Tôi cảm thấy [Ấn Quang Văn Sao] Tục Biên so ra c̣n quan hệ lớn lao hơn [Ấn Quang Văn Sao] Chánh Biên, do vậy gởi đi, chắc anh ta đă gởi thư báo tin rồi. Trước tác của các hạ có ích rộng lớn, thi văn đáng để dẫn dắt kẻ không có ḷng tin sanh khởi ḷng tin. Xin hăy giữ ǵn sức khỏe để tu tŕ Tịnh nghiệp.

 

520. Thư trả lời cư sĩ Trần Huệ Thành

Nhận được thư đầy đủ. Trong khoảng Xuân - Thu năm sau, Quang vẫn c̣n có nhiều chuyện phải lo liệu, chẳng có lúc nào rảnh rỗi để đi tới một chỗ nào cả! Chỉ có vào mùa Đông là muốn sang chỗ ấm áp để tránh rét. Sau đấy sẽ hành tung bất định, đến đâu cũng là nhà. Chưa đầy dăm ba tháng sau, lại qua chỗ khác để khỏi phải thù tiếp thư từ đến nỗi tự hỏng chuyện [liễu sanh tử của chính ḿnh].

Trong bài kệ niệm Phật, có [những đoạn] văn nghĩa của phần trên và phần dưới chẳng liên quan mật thiết, hoặc âm vận chẳng phù hợp, hoặc có chỗ dùng chữ chưa khéo, tôi đều sửa đổi đôi chút. Bài kệ cuối cùng và bài kệ theo lối mỗi câu năm chữ tiếp ngay sau đó, ngữ ư quá ngạo mạn nên tôi sửa đổi. Phàm làm người chớ nên tự cao tự đại; tự đại th́ người khác chẳng trọng, chớ nên không biết [điều này]!

Long Thư Tịnh Độ Văn chưa gởi v́ [số sách tôi có] th́ đă gởi đi hết không c̣n. Tác phẩm này đắt lắm, mỗi cuốn là ba cắc. V́ thế không đủ sức để in nhiều. Những vị như Vương Châu Thị v.v… đă muốn quy y th́ nay đặt pháp danh cho họ. Vương Châu Thị pháp danh là Huệ Thục, Mă Viên Thị pháp danh là Huệ Ư, Viên Tam Thư pháp danh là Huệ Trinh. Xin hăy bảo bọn họ đều y theo Văn Sao, Gia Ngôn Lục để tự hành, lại c̣n dạy người th́ sẽ chẳng thẹn là đệ tử đức Phật. Tôi bận bịu, đa đoan, chẳng rảnh rỗi để nói cặn kẽ được! (Mồng Mười tháng Chạp, viết dưới đèn)

 

521. Thư trả lời cư sĩ Vương Trí Trác

Chúng sanh trong đời Mạt muốn liễu sanh tử mà chẳng cậy vào Phật lực quyết khó được như nguyện. Các pháp môn trong các tông đều nên nghiên cứu, nhưng kẻ trí thức nông cạn, ít ỏi, việc đời bận bịu làm sao lo trọn được? Muốn học các tông khác, ắt phải đă thông suốt hoàn toàn Tịnh Độ, trọn chẳng có nghi hoặc ǵ th́ mới được. Chứ nếu chưa thông Tịnh Độ, vừa học các tông khác, hễ hơi có sở đắc sẽ gác bỏ Tịnh Độ ra ngoài. [Như vậy th́] lợi ích đạt được trong tương lai chỉ có thể làm cái nhân đắc độ trong vị lai, chứ quyết chẳng thể thoát sanh tử ngay trong đời này! Đối với Tịnh Độ ông c̣n chưa biết đường lối, sao lại muốn học Duy Thức? Người học Phật hiện thời quá nửa đều thuộc hạng ham cao chuộng xa, muốn thành bậc thông gia trước mặt đại chúng, chứ trọn chẳng học Phật để liễu sanh tử!

Ông muốn học Phật, ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, thật v́ sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu, tŕ danh hiệu Phật. Người làm được như thế sẽ là đệ tử thật sự của đức Phật. Nếu hành vi trái nghịch với Phật, dẫu có tu chuyên ṛng cũng khó thể cảm ứng được Phật bởi tâm hạnh đă trái nghịch với Phật. Nay đặt pháp danh cho ông là Trí Trác, nghĩa là dùng trí huệ để tự lập vững vàng th́ sẽ tự được lợi ích chân thật.

Để dạy dỗ trẻ nhỏ, hăy thường lấy Âm Chất Văn, Cảm Ứng Thiên làm cửa ngơ dẫn nhập đức hạnh, để cho trẻ ngay từ thơ ấu đă biết đạo làm người và lư nhân quả th́ mai sau quyết định chẳng dám làm chuyện vượt lư phạm phận. Nếu không, chúng nó sẽ bị tà kiến dụ dỗ, chắc sẽ đến nỗi làm những chuyện giống những kẻ phế hiếu, phế luân thường, vứt bỏ ḷng thẹn như trong cơi đời hiện nay v́ trong hiện tại có quá nhiều những thứ tà thuyết như thế ấy! Nay gởi cho ông một gói sách, xin hăy đọc kĩ. Quang bận bịu đến tột cùng, đừng gởi thư đến nữa!

 

522. Thư trả lời cư sĩ Hà Huệ Chiêu (Thư thứ nhất)

Nhận được thư, khôn ngăn cảm thán! Huệ Kính chí tâm hoằng pháp, đột nhiên qua đời. Sợ rằng vẫn khó thể thật sự văng sanh Tây Phương. Sanh tử nguy hiểm thật đáng kinh sợ, phải đề pḥng sẵn. Tuy do người khác chôn cạnh mộ mẹ ông ta đến nỗi có chuyện xung phạm, nhưng nên biết rằng: Chuyện xung phạm ấy cũng là do túc nghiệp chiêu cảm. Nếu có đức lớn, chắc sẽ có chuyện bổ trợ bất ngờ [để hóa giải sự xung phạm ấy]. Chuyện này chỉ nên quy cho số mạng, đừng đổ lỗi cho người ta. Nếu đổ lỗi cho người ta, chắc đôi bên sẽ càng kết thêm oán nghiệp!

Xin hăy nói cặn kẽ cùng gia đ́nh ông ấy: Ai nấy đều làm chủ đất của chính ḿnh, chẳng thể làm chủ đất của người ta được. Nhà ḿnh chôn trong đất của ḿnh, chớ nên chôn trong đất của người khác. Đất của nhà người ta, há có thể ngăn người ta đừng chôn vào đấy ư? Đối với kẻ biết đạo lư ấy, dẫu thật sự xung phạm cũng chẳng dám oán người. Huống chi chưa thể phán quyết đích xác là do xung phạm mà chết ư? Do bởi lẽ này, quân tử chẳng oán trời, hận người!

Ông nghe tiếng khánh trong trẻo vang động trong không trung, ấy chính là [cảnh tượng được biến hiện] khi thanh tĩnh đến cùng cực. Sau đấy, biết [tiếng khánh trong trẻo ấy] là do răng và lưỡi va vào nhau, chứ trọn chẳng phải cảnh được biến hiện ở bên ngoài. Biết được điều này th́ mới chẳng đến nỗi sanh khởi ư tưởng hiếm lạ, huyền diệu rồi do đấy sẽ khởi tâm kiêu căng, chẳng được lợi ích.

Ông nói “có tiếng phát ra từ trong tai”, nhưng các sách vở Tịnh Độ chẳng đề xướng điều này. Bởi lẽ, trong pháp môn Tịnh Độ, điều cốt yếu là Tín - Nguyện - Hạnh; những cảnh giới ấy vốn do mỗi người dụng công mà tự đạt được cảnh giới khác biệt, làm sao thiện tri thức có thể nêu rơ trước được! Nếu nêu rơ th́ [hành nhân] sẽ được lợi ích ít ỏi, bị tổn hại lại nhiều!

C̣n như sách Tự Tri Lục chuyên môn thuật bày những cảnh giới, nhưng thật ra những cảnh giới ấy vẫn là những [cảnh giới biến hiện từ] suy tưởng thuộc về mặt Lư. Họ muốn dựa vào đó để khoe khoang môn đ́nh bèn đặc biệt tŕnh bày như những cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Nếu Quang không ngăn cản, chắc rằng họ sẽ in ra nhiều vạn cuốn để dẫn nhập người khác vào lối ma!

Công phu thanh tịnh của ông tuy tốt đẹp, nhưng đối với căn cơ và Giáo vẫn c̣n thiếu từng trải nên mới nói lời ấy. Nếu từng trải, dẫu có sở đắc lớn lao, vẫn chẳng nghi cổ nhân giấu diếm! Lời dạy của Giang Công Vọng chính là nói về pháp Phản Văn (xoay tánh Nghe lại để nghe nơi tự tánh). Khéo áp dụng sẽ có ích; không khéo áp dụng sẽ trở thành một môn chuyên cậy vào tự lực trong nhà Thiền. Phàm là người tu hành hăy nên giữ chánh niệm. Ngoại trừ Phật hiệu ra, tất cả các niệm đều chẳng để nảy sanh, đó gọi là “nhất tâm”. V́ thế kinh Kim Cang dạy: “Phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng”.

Ông chỉ nhất tâm niệm Phật mà thôi, há nên lầm lạc muốn vói cao pháp Nhĩ Căn Viên Thông của [Quán Thế Âm] Đại Sĩ. Ông phải biết: Pháp Phản Văn của Đại Sĩ, hoàn toàn chẳng phải là nghe âm thanh mà là nghe nơi tánh Nghe! V́ thế nói: “Phản văn, văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo” (Xoay cái Nghe để nghe nơi tự tánh, tánh thành vô thượng đạo). Có âm thanh hay không đều nghe được cả. Nếu theo như ông nói th́ ắt phải có âm thanh mới nghe được! Chúng ta niệm Phật, [lắng] nghe theo âm thanh niệm Phật ấy, cũng là mang hơi hướng Phản Văn, đừng tự giữ lấy pháp Viên Thông mà hăy chuyên nhất lấy văng sanh làm điều mong mỏi của chính ḿnh th́ sẽ có ích, không bị tổn hại. Nếu không, do hướng theo [sự xoay lại nghe nơi tánh Nghe], tâm bị chia chẻ bởi thói phân biệt pháp môn cao - thấp th́ vô lượng vô biên lợi ích chân thật sẽ bị đoạn hết bởi thói “biết nhiều, bàn lắm” ấy.

Bốn bài thơ ông đă soạn, thanh vận thanh tao, du dương, Quang vốn chẳng làm thơ nên không thể họa được! Hiện thời đang bận bịu trọn chẳng được rảnh rỗi, nên muốn diệt tung tích gấp. Lại c̣n có bộ Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ khá có quan hệ đối với thế đạo nhân tâm vẫn chưa sắp chữ xong, chắc là suốt ngày lẫn đêm đều phải lo liệu. Hiện thời bản in theo cỡ chữ Tam Hiệu Tự đă sắp đặt xong, in ra một vạn bộ; sau hôm Hai Mươi sẽ có thể in ra sách, sẽ gởi tới mấy gói. Một vạn cuốn in trong lần hai đă được ấn hành. Lại c̣n ấn bản với cỡ chữ Tứ Hiệu Tự in bằng giấy báo vừa mới sắp chữ được một nửa. Nếu bản này sắp chữ xong, sẽ in một vạn bộ hoặc hai vạn bộ, rồi ra đi măi măi.

Ước chừng vào nửa sau tháng Chạp, tôi sẽ sang Hương Cảng để khỏi phải suốt ngày bận bịu thù tiếp thư từ đến nỗi lỡ làng đại sự của chính ḿnh!

 

523. Thư trả lời cư sĩ Hà Huệ Chiêu (Thư thứ hai)

Nhận được thư, biết ông túc căn sâu dầy, hạnh trong hiện tại khá thuần. V́ thế mới có đủ mọi cảnh tướng thù thắng hiện ra. Nhưng người đời nay quá nửa là chuộng thể diện, xây lầu gác trên không, có một phần hay nửa phần bèn nói có trăm ngàn vạn phần! Như những cảnh giới trong cuốn sách của cư sĩ X… (tức cuốn Tự Tri Lục) hoàn toàn do ngọn bút vẽ vời, chứ không phải do tâm địa tạo thành. Cố nhiên ông không nói dối, nhưng tôi thật sợ ông có tập khí ấy th́ lỗi chẳng nhỏ đâu!

Đức Phật xếp vọng ngữ vào năm giới căn bản, chính là để ngăn ngừa thói tệ này. Nếu thấy mà nói chẳng thấy, chẳng thấy nhưng nói thấy th́ thuộc vào loại vọng ngữ! Nếu xây lầu gác trên không, bịa nói cảnh giới thù thắng, tức là phạm giới đại vọng ngữ. Nếu chưa đắc bảo đă đắc, chưa chứng nói đă chứng, tội ấy c̣n nặng hơn giết - trộm – dâm, trăm ngàn vạn ức lần! Nếu kẻ ấy chẳng cực lực sám hối th́ khi một hơi thở ra không hít vào được nữa sẽ đọa trong Địa Ngục A Tỳ, bởi kẻ ấy hoại loạn Phật pháp khiến cho chúng sanh lầm lạc, nghi ngờ! Ông phải rất thận trọng!

Cảnh thấy được một phân chẳng được nói một phân mốt, cũng chớ nên nói chín ly chín. Nói quá cũng là bị tội lỗi, mà nói giảm đi cũng không được! V́ sao vậy? Do tri thức chưa đắc Tha Tâm Đạo Nhăn, chỉ có thể phán đoán theo lời kể. Thứ cảnh giới ấy nếu nói với tri thức để cầu chứng minh tà - chánh, đúng - sai th́ không phạm lỗi ǵ. Nếu chẳng nhằm cầu chứng minh, chỉ muốn tự khoe khoang th́ cũng chớ nên nói. Nếu nói với hết thảy mọi người sẽ mắc tội lỗi. Trừ để cầu tri thức chứng minh ra, đều chớ nên nói! Hễ nói ra th́ sau này sẽ vĩnh viễn chẳng thể đạt được cảnh giới thù thắng ấy nữa đâu! Đây là cái ải lớn nhất cho người tu hành, trong giáo pháp của tông Thiên Thai đă nhắc đến nhiều lần.

Trong thời gần đây, sở dĩ nhiều kẻ tu hành bị ma dựa đều là do cái tâm vọng động, bộp chộp cầu cảnh giới thù thắng! Đừng nói cảnh ấy là cảnh ma, dẫu là cảnh thù thắng mà hễ nảy sanh những tâm như tham đắm, hoan hỷ v.v… th́ sẽ đều bị tổn hại, chẳng được lợi ích. Huống chi cảnh ấy c̣n chưa chắc đích xác là cảnh thù thắng ư?

Nếu người ấy có hàm dưỡng, tâm không vọng động, bộp chộp, không ḷng tham đắm, thấy các cảnh giới mà hệt như chẳng thấy; đă chẳng sanh hoan hỷ, tham đắm, lại chẳng sanh sợ hăi, kinh nghi, đừng nói là cảnh thù thắng hiện ra sẽ có ích, dẫu cho cảnh ma hiện ra cũng vẫn có ích. V́ sao vậy? Do chẳng bị ma chuyển nên có thể tiến hơn. Lời này chẳng thường nói với người khác, do ông có những chuyện ấy nên cố nhiên tôi chẳng thể không nói. Thoạt đầu ông lễ Phật, trông thấy h́nh tượng Đại Sĩ [hiện ra, tượng ấy] không đích xác [là do Đại Sĩ biến hiện]! Bởi nếu đúng là thật th́ sẽ chẳng v́ do ông nghĩ tượng ấy chẳng hợp với [những điều được mô tả trong] Quán Kinh bèn ẩn mất; nhưng do đấy mà ḷng tin của ông càng tha thiết th́ cũng là nhân duyên tốt đẹp! Tuy vậy, chớ nên thường muốn thấy h́nh tượng [của Đại Sĩ], chỉ nên chí thành lễ bái mà thôi để khỏi phải lo nghĩ ǵ khác!

Lúc ngủ thấy trước mắt có ánh sáng trắng và khi lễ Phật thấy tượng Phật đứng lơ lửng trên hư không tuy thuộc về thiện cảnh, chớ nên tham đắm! Từ nay đừng lấy đó làm điều mong mỏi th́ [những tướng ấy] sẽ chẳng hiện nữa! Trộm xem căn tánh của ông, tợ hồ trong đời trước đă từng tu tập Thiền Định nên mới nhiều lần thấy tướng ấy.

Đời Minh, ông Ngu Thuần Hy bế tử quan nơi chỗ ngài Cao Phong trên núi Thiên Mục, tịnh tu đă lâu, liền có tài tiên tri. Có thể đoán trước trời âm u hay trong sáng, họa - phước của người khác. Ông ta quy y với Liên Tŕ đại sư; đại sư nghe chuyện liền gởi thư tận lực quở trách, bảo ông ta đă lọt lưới ma. Về sau ông ta không biết nữa!

Cần biết rằng: Người học đạo phải biết lẽ lớn lao. Nếu không, sẽ do được lợi ích nhỏ nhặt mà bị tổn hại to lớn. Đừng nói những thứ cảnh giới ấy, ngay như thật sự đắc Ngũ Thông cũng chẳng bận tâm đến th́ mới ḥng đắc Lậu Tận Thông! Nếu tham đắm, chắc sẽ khó tấn tu, hoặc bị thoái đọa, chẳng thể không biết [điều này]!

Hai câu kinh văn như ông đă nhớ trong giấc mộng vào điện Phật cố nhiên thuộc thiện cảnh. Hai câu ấy ngụ ư thật rơ ràng: “Phản hư y giác lộ, quy chân ngộ thường không” (Quay lưng với sự hư huyễn, đi theo con đường giác. Theo về với lẽ chân sẽ ngộ lẽ thường không), nghĩa là con người lầm tưởng các pháp thế gian là thật, nên mê muội vào trong sanh tử. Nếu có thể quán ngược lại, [hướng theo] bản thể của các pháp vốn không th́ sẽ nương theo đường giác, thoát mê nhập ngộ, quy Chân Đế, ngộ Chân Không Thật Tướng chân thường.

Cảnh ma và cảnh thù thắng được phân biệt ở chỗ nó có hợp với kinh giáo hay không? Nếu là thánh cảnh, cảnh ấy sẽ làm cho tâm địa của người trông thấy liền được thanh tịnh, trọn không có tâm vọng động, bộp chộp, chấp trước. Nếu là cảnh ma th́ hễ trông thấy [cảnh ấy] tâm liền chẳng thanh tịnh, liền sanh ḷng chấp trước, vọng động, bộp chộp v.v....

Hơn nữa, Phật quang tuy cực sáng ngời, nhưng chẳng lóa mắt. Nếu ánh sáng chói mắt tức là không phải [quang minh của] đức Phật thật sự. Khi Phật hiện mà dùng lư “phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng” để khám nghiệm th́ càng rơ rệt; nếu ma hiện mà dùng lư ấy để khám nghiệm nó sẽ ẩn mất. Cách khám ấy là ḷ luyện lớn để nghiệm chân - ngụy vậy.

Ban đêm thấy ánh sáng trắng và những cảnh trong trắng trên hư không v.v… đều là do tâm tịnh mà biến hiện, há nên coi đấy là pháp giới nhất tướng tịch - chiếu bất nhị? Nếu tưởng như vậy, sẽ thành “đem phàm lạm thánh”, tội ấy thật chẳng nông cạn đâu nhé! Hai câu kinh văn [ông vừa nói trên đây] chưa rơ xuất xứ, chắc đấy cũng là lời văn trong kư ức từ đời trước, chứ chưa chắc là kinh văn.

Người tu Tịnh nghiệp chẳng chú trọng các thứ cảnh giới, nên cũng không có nhiều cảnh giới phát sanh cho lắm! Nếu trong ḷng chuyên muốn thấy cảnh giới th́ cảnh giới sẽ nhiều. Nếu chẳng khéo dụng tâm, ắt đến nỗi tự bị tổn hại, chẳng thể không biết [điều này]! Lời của vị Đầu Đà kia nói chính là đạo lư trong nhà Thiền. Ông ta chưa đả phá Tịnh Độ th́ cũng là điều hay, nhưng trọn chẳng biết đến tông chỉ Tịnh Độ nên mới đem [Tịnh Độ] đối chiếu với Thiền để bàn luận. Câu nói “chú trọng cảnh thù thắng, ánh sáng tốt đẹp” của ông ta cần phải hết sức châm chước. Nếu không, sẽ gây lầm lẫn cho người khác chẳng cạn! Ông ta lại nói: “Chớ nên chấp trước, bởi lẽ Phật pháp vô lượng, hễ chấp sẽ thành hữu lượng, sẽ chẳng nhập Phật trí được”. Nào phải chỉ chẳng nhập Phật trí mà c̣n có thể lọt vào ma giới nữa kia! C̣n như ông ta nói “ai có Phật nấy” th́ chính là lời lẽ nhà Thiền ước theo lư nơi tâm để luận, chẳng ăn nhập ǵ với Tịnh tông hết!

Ánh sáng trắng trong vắt trên hư không vẫn chỉ là công đức nhỏ bằng đầu sợi lông của Như Lai, sao ông lại hiểu lầm là pháp giới nhất tướng, tịch - chiếu bất nhị? Thật ra đấy chính là cảnh Định trong đời trước do tâm tịnh mà hiện ra, cho nên ông đừng nghĩ đấy là chuyện lạ lùng đặc biệt!

Pháp môn Tịnh Độ lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm tông.

+ Có tín - nguyện, bất luận hành nhiều - ít, sâu - cạn, đều được văng sanh.

+ Không có tín - nguyện, dẫu đạt đến địa vị “Năng - Sở đều mất, sáu căn thoát hẳn sáu trần” vẫn khó được văng sanh!

Do nếu thật sự chứng được Thật Lư “Năng - Sở đều mất, sáu căn thoát hẳn sáu trần” sẽ liền có thể cậy vào tự lực để liễu sanh tử, [người như vậy] không cần phải bàn tới nữa! Chứ nếu chỉ có công phu thấy được lư ấy, vẫn chưa thật chứng mà nếu không có tín - nguyện th́ cũng khó văng sanh!

Thiền gia hễ nói tới Tịnh Độ đều quy về Thiền Tông, không nhắc tới tín - nguyện. Nếu y theo đó mà hành th́ vẫn có thể khai ngộ, nhưng chưa đoạn Hoặc nghiệp mà muốn liễu sanh tử, th́ có mộng cũng chẳng mơ được đâu! V́ phàm phu văng sanh là do tín - nguyện cảm Phật nên có thể cậy vào Phật từ lực để đới nghiệp văng sanh. Nay đă chẳng sanh ḷng tín - nguyện, lại đem mỗi một lời đức Phật nói quy hết về tự tâm th́ làm sao cảm Phật được! Cảm và Ứng chẳng phù hợp th́ chúng sanh là chúng sanh, Phật là Phật! Đem pháp Hoành Siêu (vượt thoát theo chiều ngang) dùng làm pháp Thụ Xuất (thoát ra theo chiều dọc) th́ sẽ đạt được lợi ích nông cạn, bị tổn hại sâu xa! Chẳng thể không biết [điều này]! Chỗ được lợi ích là nghe theo lời nói ấy th́ cũng có thể khai ngộ, nhưng chỗ bị tổn hại là đă bỏ tín - nguyện th́ sẽ không cách ǵ cậy vào Phật từ lực được! Do vậy, tôi nói: “Người thật sự tu Tịnh Độ chẳng dùng đến khai thị của nhà Thiền do pháp môn, tông chỉ bất đồng”. Xin hăy sáng suốt soi xét. Nếu chẳng nghĩ như vậy là đúng th́ xin hăy thưa hỏi nơi bậc đại thông gia cho khế hợp tâm chí của ông. Cố nhiên Quang không chấp trước!

 

524. Thư trả lời hai vị nữ cư sĩ Huệ Thục và Huệ Khánh

Con người sống trong thế gian ắt phải trọn hết chức phận của chính ḿnh. Có trọn được hết chức phận của chính ḿnh th́ mới chẳng phụ ân “trời che đất chở, mặt trời, mặt trăng chiếu soi, cha mẹ sanh thành, sư trưởng giáo huấn”. Nếu không, tuy mang tiếng là người, nhưng thật sự chẳng khác ǵ cầm thú cho lắm, sẽ thành phường sống uổng chết phí, tương lai trầm luân trong ác đạo, trọn chẳng có thuở thoát ra, chẳng đáng buồn sao?

Nói tới chuyện trọn hết chức phận th́ đối với thân phận nữ nhân, quả thật [chuyện ấy] có quan hệ lớn lao nhất nhưng trọn chẳng tỏ lộ dấu vết. Cơi đời b́nh trị hay loạn lạc, gia đ́nh hưng thịnh hay suy sụp đều do nữ nhân có trọn hết chức phận hay không?

Chức phận của nữ nhân như vừa mới nói đó chính là “hiếu thảo đối với bố mẹ chồng, ḥa thuận với chị em dâu, giúp chồng dạy con” v.v… Bởi lẽ, [nữ nhân] có thể hiếu thảo, ḥa thuận, ôn nhu, cung kính, đấy chính là “nghi gia”; có thể giúp đỡ chồng khiến cho đức hạnh lẫn nghề nghiệp của ông ta ngày càng tiến triển, lỗi lầm ngày một ít, đấy chính là “nghi thất”. Hễ “nghi thất nghi gia” th́ con cái nh́n vào sẽ được cảm hóa, đều thành hiền thiện. Con cái đă thành hiền thiện th́ từ đấy trở đi, con cháu đời đời đều thành hiền thiện.

V́ thế, Quang thường nói: “Quyền trị quốc b́nh thiên hạ, bọn nữ nhân nắm quá nửa”. Lại nói: “Dạy con là cái gốc để trị quốc b́nh thiên hạ, nhưng dạy con gái lại càng quan trọng hơn”. Nếu không, chẳng những [nữ nhân] không thể giúp chồng dạy con thành người lành được, mà ngược lại sẽ giúp chồng dạy con thành kẻ ác đến nỗi trở thành t́nh thế vô pháp vô thiên như trong ngày nay!

Các bà đều có thiện căn từ đời trước, được làm vợ chồng với Huệ Dung. Tuy sanh nhằm thời Phật pháp tàn diệt, nhưng may mắn được nghe pháp môn Tịnh Độ là pháp môn phổ độ chúng sanh của đức Như Lai! Chỉ cần chịu sanh ḷng chân thật, phát nguyện thiết tha, xưng niệm vạn đức hồng danh của A Di Đà Phật, chắc chắn sẽ tiêu trừ Hoặc nghiệp, tăng trưởng thiện căn trong đời này. Khi lâm chung, nương theo Phật từ lực văng sanh Tây Phương, quả thật là vô thượng đại pháp chẳng dễ ǵ gặp được trong ngàn đời vạn kiếp!

Các bà đă là chị em với nhau qua t́nh vợ chồng, ắt phải yêu thương, kính trọng lẫn nhau, khuyên răn, khích lệ lẫn nhau. Chớ nên giống bọn nữ nhân vô tri chưa nghe biết đạo: Hằng ngày cứ chuyên tranh căi, ghen ghét, báng bổ, hạ nhục lẫn nhau. Như thế th́ tâm địa ngày một tối tăm, phước - thọ ngày một thu hẹp, khi một hơi thở ra không hít vào được nữa sẽ khó khỏi đọa lạc trong ba ác đạo. Nỗi khổ ấy chẳng thể nào diễn tả được đâu!

Các bà đă cùng quy y, tức là đồng môn, đồng tu Tịnh nghiệp, tương lai cùng sanh Tịnh Độ, cùng thấy A Di Đà Phật, cùng nghe Phật pháp, cùng chứng vô thượng đạo. Trong lúc này mọi người đều cùng đồng tâm tận lực tu tŕ, há chẳng gắng công ư? Do Huệ Dung muốn cho hai người quư vị cùng được thấm nhuần sự giáo hóa của Phật, nên mới xin Quang đặt pháp danh cho hai bà và khai thị. V́ vậy, tôi mới nói dài ḍng như thế, thật sợ các bà tự nghĩ ḿnh kém hèn, nhỏ nhoi, chẳng biết một niệm tâm tánh của chúng sanh và Phật trọn chẳng khác ǵ, nhưng do mê - ngộ khác nhau đến nỗi khác biệt vời vợi một trời một vực. Nay giảng đại lược nguyên do, những điều khác đă nói tường tận trong Văn Sao, Gia Ngôn Lục, hăy xin Huệ Dung giảng cho các bà th́ sẽ đều biết rơ vậy.

 

 

525. Thư trả lời cư sĩ Từ Úy Như

Nhận được thư, biết lệnh thúc sống - chết khá kỳ lạ. Các hạ nói đến chuyện [lệnh thúc sau khi mất, chuyển sanh làm] thần Già Lam vốn là chuyện thực t́nh, nhưng đấy là tiểu Già Lam, chứ không phải là đại Già Lam. Ông ta ăn chay, tụng kinh đều do túc căn xui khiến, tiếc chưa từng được gặp tri thức của pháp môn Tịnh Độ, đến nỗi [mất đi] vẫn đầu thai trong hàng hộ pháp có thần thông. Người ấy tri kiến giống với kẻ b́nh thường, c̣n đối với cảnh giới của Đại Sĩ đều chưa từng thấy. Nếu có thể dùng trí lực để biết đến cảnh giới của Đại Sĩ, sẽ trọn chẳng đến nỗi sống hồ đồ suốt cả một đời rồi vẫn sanh làm một vị thần hộ pháp có thần thông.

Lệnh đệ chẳng v́ chuyện này mà cực lực chú trọng vun bồi sự Tây quy cho cụ, cứ vẫn muốn làm thế nào để tăng tiến địa vị cho ông cụ. Tâm ấy cố nhiên là tốt đẹp, nhưng nếu dựa theo Thật Lư để tính toán cho lệnh thúc th́ hăy nên khuyên con trai ông cụ thành kính tột bậc để vun bồi nơi pháp môn Tịnh Độ, hồi hướng cầu cho cụ thoát khỏi chức cũ trong thần đạo, sanh vào Cực Lạc Phật quốc.

Nói đến chuyện vun bồi công đức th́ mở mang tri thức cho người khác là bậc nhất. Hiện thời Tăng Quảng Văn Sao đă sắp chữ xong xuôi, nhưng vẫn chưa kết thúc. Đợi cho Thọ Khang Bảo Giám sắp chữ xong sẽ thôi không đưa thêm bài [vào bộ Văn Sao nữa], cho in ra. Hiện thời đă dày tới bốn trăm hai mươi trang, nhưng vẫn chưa định được số trang thật sự. In chữ lớn th́ mỗi bộ phải trên dưới tám cắc v́ trong năm ngoái [tiền in mỗi cuốn] Đại Sĩ Tụng phải tốn đến ba cắc bốn xu mà [Đại Sĩ Tụng] chỉ có hai trăm mười trang. Sách này (tức Ấn Quang Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên) sẽ phải đắt gấp đôi!

Gần đây chiến sự dồn dập, giá giấy tăng vùn vụt. Nếu lệnh đệ chịu bỏ tiền in bao nhiêu bộ để tự ḿnh thí tặng ngơ hầu hết thảy những người đọc [Văn Sao] đều biết nguyên do văng sanh Tịnh Độ; đem công đức ấy để làm bằng khoán văng sanh cho cha, lại thêm chí thành, ắt sẽ được như nguyện, sẽ có lợi ích công đức chân thật nhất. Tuy tợ hồ chẳng dính líu đến Phổ Đà, nhưng cũng chẳng phải là không dính líu, v́ mọi người đều nói “Phổ Đà Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao” vậy. Tiếp theo đó, tôi phải giám đính Phổ Đà Sơn Chí. Giám đính xong sẽ cho khắc ván, khoảng Xuân - Hè năm sau sẽ in thành sách. Nếu chịu bỏ tiền in để hồi hướng th́ so ra càng thù thắng lâu dài hơn những thứ công đức khác!

 

526. Thư trả lời cư sĩ Lư Viên Tịnh (Thư thứ nhất)

Nhận được thư khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Phương cách biên soạn tác phẩm lớn lao như ông đă tŕnh bày cho thấy ông trống ḷng, chẳng ỷ vào ư kiến của chính ḿnh, tôi hết sức khâm phục! Những kẻ hoằng pháp hiện thời thường muốn dẫn dắt người khác vào trong Phật pháp, nhưng trước hết chính ḿnh đă phải chiều theo [ư thích] của người ta để làm th́ đại thể đă mất, làm sao có thể khiến cho người khác trọng pháp được? Thoạt đầu các hạ phỏng theo cách thức mới, nay vẫn muốn khiến cho đại chúng chẳng giẫm theo thói tệ khinh pháp, đáng gọi là “thật sự thấu hiểu thể thống hoằng pháp”.

C̣n như Ấn Quang Văn Sao th́ quả thật văn chương chất phác, kém cỏi khó thể chịu đựng được, nhưng đối với kẻ sơ cơ cũng chẳng phải là không tạo được lợi ích nhỏ nhặt. Do vậy, suốt mấy năm qua, đă được sắp xếp ấn hành năm lần: Khắc ván một lần, [bản khắc ấy] hiện c̣n giữ tại Dương Châu; Từ Úy Như in hai lần ở Bắc Kinh, in một lần tại Thượng Hải. Trước kia Quang in một lần, nay lại in một lần nữa. Trong tháng Tư sẽ có thể ra sách; in ra được mấy vạn. Bản in lần này nhiều hơn lần trước một trăm hai mươi trang, đặt tên là Tăng Quảng Ấn Quang Văn Sao. Thường có người gởi thư yêu cầu, đủ biết phần nhiều kẻ sơ cơ phát tâm chẳng v́ văn chương chất phác kém cỏi mà chê bỏ.

Các hạ lại chọn lấy những điều trọng yếu, phân môn chia loại để lưu truyền, so với trọn bộ sách sẽ tốn kém ít hơn mà lợi ích nhiều hơn, quả thật là công đức chẳng thể nghĩ bàn! Lúc Quang mới xuất gia, thấy các tri thức dạy người khác tu tŕ, trọn chẳng nhắc đến những chuyện nhân quả, luân thường v.v… đến nỗi có kẻ tu tŕ khá tốt đẹp, nhưng đối với luân thường chẳng thể nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính ḿnh; do vậy đă khiến cho những kẻ chẳng biết đến chân lư Phật pháp phần nhiều dấy ḷng báng bổ! Quang ôm ấp ư nguyện uốn nắn thói tệ ấy đă lâu. V́ vậy, trong hết thảy những bài viết lách đều nhắc đi nhắc lại. Nếu các hạ chẳng cho những ǵ tôi đă nói là thừa thăi, có lẽ nên sao lục [những lời đó] để giúp văn hồi thế đạo nhân tâm.

Các hạ chưa đầy ba mươi tuổi mà đă hiện tướng suy yếu, cố nhiên hăy nên bỏ [cái học] rộng răi để giữ lấy chỗ ước lược, hăy chuyên tu Tịnh nghiệp. Khi Tịnh nghiệp đă thành tựu lớn lao rồi, sẽ hoằng dương các pháp khác ngơ hầu thật sự tự lợi, lợi tha. Nếu không, tuy có thể lợi người, nhưng [những pháp ấy] vẫn chưa phải là đạo rốt ráo để được thoát sanh tử ngay trong đời này, mà đối với chuyện thuộc về bổn phận của chính ḿnh th́ chưa thể đoạn sạch Phiền Hoặc để liễu sanh tử.

Lại do chưa hoàn toàn chuyên chí nơi Tịnh nghiệp, chắc sẽ nương vào giáo nghĩa theo đường lối thường rồi nghi ngờ pháp môn đặc biệt. Nếu vậy, sẽ không thể nhờ vào Phật từ lực để đới nghiệp văng sanh được đâu! Tuy đă gieo thiện căn, nhưng vẫn là chén bát chưa nung, hễ gặp trận mưa tái sanh ắt bị hư nát, đáng tiếc lắm thay! Sư Hiển Ấm sẵn ḷng đại từ bi, đặc biệt sợ bọn thanh niên thông minh sẵn có huệ căn bị mất đại lợi ích, nên hiện ra tướng trạng đáng để dè dặt, răn nhắc ấy! Điều ấy chưa bao giờ không phải là khai thị chân thật để sâu xa khuyên nhủ các hạ tận lực tu tŕ Tịnh nghiệp vậy!

 

527. Thư trả lời cư sĩ Lư Viên Tịnh (Thư thứ hai)

Nhận được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Bản biên tập này của các hạ đúng là mày - mắt rành mạch, lợi người nhiều lắm! Trộm nghĩ: Những đoạn được trích lục trong bộ sách này đều lấy từ phần Thư Từ, nhưng ngay trong những phần Luận, Sớ, Tựa, Bạt v.v… cũng có [những đoạn] có thể trích lục; chứ không phải là thư từ th́ trích lục được, c̣n những phần khác đều chẳng nên trích lục!

Hơn nữa, cuốn sách này vốn là sách trích lục, cố nhiên chẳng cần phải sợ bị phạm lỗi “cắt xén chương đoạn để chọn lấy nghĩa”; nhưng trong thời thế hiện tại, càng phải nên chú trọng nhân quả, thành kính, luân thường, coi đó là nhiệm vụ trọng yếu để cứu quốc, cứu dân, hoằng pháp lợi sanh. Phàm những đoạn văn nào liên quan đến những ư nghĩa ấy có lẽ nên thu thập cho nhiều.

Ông lập ra mười khoa, khá là thông suốt. Đôi khi có những chỗ câu chữ không đều và những chữ không trôi chảy rơ ràng cho lắm; do vậy tôi bèn liệt kê [mười khoa ấy] như sau:

1) Tán Tịnh Độ siêu thắng (khen ngợi Tịnh Độ siêu việt, thù thắng)

2) Giới tín nguyện chân thiết (răn nhắc tín nguyện phải chân thật, thiết tha)

3) Thị tu tŕ phương pháp (dạy về phương pháp tu tŕ)

4) Luận sanh tử đại sự (bàn về đại sự sanh tử)

5) Miễn cư tâm thành kính (gắng giữ ḷng thành kính)

6) Khuyến chú trọng nhân quả (khuyên chú trọng nhân quả)

7) Phân Thiền Tịnh giới hạn (phân định giới hạn giữa Thiền và Tịnh)

8) Thích phổ thông nghi hoặc (cởi gỡ những ngờ vực phổ biến)

9) Dụ tại gia thiện tín (khuyên nhủ hàng thiện tín tại gia)

10) Tiêu ưng độc điển tịch (liệt kê những kinh sách nên đọc).

Xin ông hăy cân nhắc!

 

528. Thư trả lời cư sĩ Lư Viên Tịnh (Thư thứ ba)

Quang thường nói: “Giáo dục trong gia đ́nh chính là cái gốc để trị an. Nhân quả báo ứng chính là pháp để chế ngự cái tâm!” Trong gia đ́nh, sự dạy dỗ của mẹ là trọng yếu. Nếu có mẹ hiền, trong thuở thơ ấu con cái lại thường được giảng giải về nhân quả th́ khi những đứa con ấy lớn khôn chắc chắn sẽ chẳng đến nỗi làm những chuyện nghịch trời tổn đức v.v… Tiếc cho những người hướng dẫn đề xướng dù tại gia hay xuất gia đều chẳng chú ư tới chuyện này, đáng than lắm!

Ngày hôm qua đă dán thư xong, khi bưu tá đến đây th́ lại giao tiếp một lá thư khác. Do vậy, gắng gượng viết bài đề từ gồm bốn mươi vần; chỉ v́ tôi trọn chẳng làm thơ nên dùng chữ phần nhiều khiên cưỡng, xin hăy sửa chữa. Bài Lâm Chung Châu Tiếp Yếu Ngữ (những lời lẽ quan trọng dùng làm mái chèo cho chiếc thuyền [vượt biển sanh tử] lúc lâm chung) được lưu truyền đă lâu, có khá nhiều chỗ bị sai ngoa. Đối với những chỗ ư nghĩa chẳng trọn vẹn trong phần này, tôi đều tự tiện bổ túc. Phần luận kệ ở phía sau, Quang từng thấy luôn luôn có, chẳng biết do ư ǵ ông lại lược bỏ đến nỗi lời lẽ trở thành thiếu căn cứ? Mà đáng tiếc là phần nguyên văn cũng không nêu ra tên của bài luận ấy. Xin ông hăy cân nhắc!

Thêm nữa, bài kệ ấy sợ là do noi theo Du Già Luận mà soạn ra. [Tựa đề] Lâm Chung Châu Tiếp chỉ cần [viết] thấp xuống một chữ. Hai chữ Yếu Ngữ (lời nói quan trọng) có lẽ nên bỏ đi và vẫn dùng cùng một cỡ chữ bởi chữ nhỏ hơn th́ người già xem sách sẽ phải tốn nhiều công. Phía trên tựa đề nên thêm hai chữ Phụ Lục th́ chánh - phụ sẽ rơ ràng.

Hiện thời do chiến sự chẳng thể gởi giấy tới được. An Sĩ Toàn Thư, Văn Sao trong nhất thời đều chẳng thể in ra được. Xin hăy biên soạn thong thả, đừng gấp rút th́ người đỡ tốn sức mà chuyện lại được thong dong. Đối với những sách do Quang đă in đều cho làm bốn bức Chỉ Bản. Nếu cuốn sách này sắp chữ xong, cũng nên làm ra nhiều Chỉ Bản để tốn công một lúc, nhàn nhă lâu dài!

 

529. Thư trả lời cư sĩ Lư Viên Tịnh (Thư thứ tư)

Hôm qua tôi đă duyệt Gia Ngôn Lục được một nửa, hôm nay sẽ duyệt xong, nhưng vẫn phải đọc kĩ, cũng như t́m cách để mong đỡ mỏi mắt. Những chữ sai trong ấy đều ghi ra thành một bản gởi đi để làm căn cứ sửa đổi cho đúng khi tái bản. Trong bản giảo chánh của Quang đă nêu ra cặn kẽ [từng chỗ sai sót] nhằm dùng làm bản mẫu để sắp chữ [khi tái bản]. Trong tương lai, chuyện giảo đối sẽ do Quang tự đảm nhiệm. Trần Thái Thái đă chịu tiền sắp chữ, tiền làm Chỉ Bản và tiền in một ngàn bộ, như vậy là đỡ tốn công nhiều lắm. Tôi sẽ bảo ấn quán khi in xong một vạn bộ Văn Sao sẽ in cuốn sách này trước. Vẫn sợ là trong khoảng tháng Mười Một, tháng Chạp mới ra sách được. Quang ở đây chờ cư sĩ Tôn Hậu Tải, đợi ông ta đến rồi mới trở về đất Hỗ được!

 

 

530. Thư trả lời cư sĩ Lư Viên Tịnh (Thư thứ năm)

Hôm qua nhận được thư, tâm hết sức vui mừng, an ủi. Khi trước nghe nói chiến sự nổ ra tại Thượng Hải, tôi nghĩ Tam Bảo gia bị, chắc [gia đ́nh ông] sẽ chẳng đến nỗi bị nguy hiểm. Nay biết trong lúc ông không trốn tránh được th́ Viên Minh lại dám đem xe hơi đến đón mà lính Nhật cũng chẳng làm điều hung ác, Bồ Tát cứu khổ cứu nạn quả thật chẳng thể nghĩ bàn thấu suốt được! Xin hăy khuyên hết thảy mọi người cùng niệm Quán Âm để mong Bồ Tát gia bị khiến cho thủ lănh quân Nhật ngưng diệt ác tâm lẫn độc tâm th́ chiến sự sẽ tự ngưng dứt. Đừng nên đem ḷng ác nguyền rủa [quân Nhật] bởi chẳng khế hợp với tâm đại bi b́nh đẳng của Bồ Tát vậy. (Ngày mồng Chín tháng Giêng năm Nhâm Thân - 1932)

 

531. Thư trả lời cư sĩ Đồng Ảnh

Trong tháng Chín tôi nhận được thư do anh của ông gởi, nói ông bị bệnh, tâm chí bất định: Hoặc là gấp muốn được trị bệnh giống như không rảnh rỗi để chờ đợi nữa, hoặc thầy thuốc đến kê toa nhưng không chịu uống, hoặc mời cả hai thầy thuốc v.v… thật giống như tánh t́nh của con nít! Cầu thầy trị bệnh kiểu đó sẽ càng bệnh thêm; làm sao lành bệnh cho được? Bởi lẽ, tâm niệm nóng nảy bộp chộp là tự ḿnh tăng thêm bệnh. Cắt thuốc loạn xạ là thầy thuốc tăng thêm bệnh. Ông phát tâm muốn xuất gia tu hành, giải quyết cho xong đại sự sanh tử, nhưng thái độ phú quư kiêu căng ấy chưa bỏ được mảy may nào, khi xuất gia lỡ bị bệnh ắt sẽ chết gấp! Ông có tánh kiêu ngạo ấy, mà c̣n có thể cam chịu sự yên tĩnh, đạm bạc, xem thân này như thứ thừa thăi được ư?

Hơn nữa, người học đạo hễ gặp những chuyện chẳng như ư chỉ nên coi chúng như những cơ hội để hướng đến đạo. Cảnh nghịch xảy tới bèn thuận chịu, dẫu có gặp chuyện nguy hiểm ǵ đi nữa th́ trong lúc ấy sẽ chẳng đến nỗi kinh hăi tới mức hoảng loạn, quưnh quíu! Chuyện ǵ đă qua th́ ḷng cũng chẳng bận tâm tới nữa, coi như giấc mộng đêm qua; há nên thường giữ măi trong tâm đến nỗi tạo thành căn bệnh ngực đập như trống làng? Ông đă muốn tu hành hăy nên biết hết thảy cảnh duyên đều do túc nghiệp cảm thành. Lại càng phải nên chí thành niệm Phật th́ sẽ chuyển được nghiệp. Chúng ta chẳng làm chuyện nghịch trời tổn đức th́ đâu có sợ ǵ? Người niệm Phật được thiện thần che chở, gia hộ, ác quỷ tránh xa, c̣n sợ chi nữa?

Nếu ông thường sợ hăi, sẽ bị ma “sợ hăi” dựa vào, ắt sẽ có oán gia từ vô lượng kiếp thừa dịp ḷng ông sợ hăi kéo đến dọa dẫm khiến cho ông mất trí điên cuồng để báo oán xưa. Đừng nói: “Ta vẫn niệm Phật, đâu sợ đến nỗi như thế!” Chẳng biết rằng: Toàn thể chánh niệm của ông đă quy vào ḷng sợ hăi, khí phận đă cách ngăn với Phật, đă thông với ma! Đâu phải là Phật chẳng linh mà là do ông đă đánh mất chánh niệm, đến nỗi niệm Phật chẳng được lợi ích trọn vẹn.

Xin ông xem thư Quang, hăy thống thiết sửa đổi tâm trước, sẽ nghĩ anh ḿnh một vợ một chồng, đâu có ǵ đáng lo? Nếu túc nghiệp hiện tiền, dẫu sợ hăi há có tiêu diệt được chăng? Chỉ nên chẳng sợ, hễ giữ được chánh niệm th́ cư xử sẽ thích đáng, thần thái chân thật đă yên định th́ tà quỷ chẳng thể xâm phạm được! Nếu không, sẽ do tà chiêu tà, kẻ oán trong đời trước đều kéo tới, gặp chuyện không quyết định được, hoàn toàn bó tay! Chẳng đáng buồn ư?

Nay tôi tính kế cho ông: Hăy nên buông xuống những điều ôm giữ. Hết thảy mọi chuyện đều có thể lo liệu được, chớ nên ôm đồm, lo lắng. Chỉ sợ hạnh ḿnh có tỳ vết, chẳng sợ quỷ thần gây họa hoạn. Nếu ông ở nhà tu hành tốt đẹp th́ sẽ cùng với anh và vợ v.v… giúp đỡ nhau tu tŕ Tịnh nghiệp. Nếu chẳng thể làm được như vậy th́ hăy sang Thượng Hải ở nhờ Phật Giáo Tịnh Nghiệp Xă, hằng ngày thường được nghe giảng nói, cũng như hằng ngày thường theo đại chúng niệm Phật.

Hiện thời, Tịnh Nghiệp Xă dời sang Nam Viên của nhà họ Giản, có cơ sở chừng mười hai mười ba mẫu đất, là đạo tràng lớn nhất. Năm sau, pháp sư Đế Nhàn sẽ giảng Niết Bàn Kinh Sớ tại đấy. Nơi ấy nhiều pḥng ốc, chẳng chật hẹp như [cơ sở cũ] ở đường Ái Văn Nghĩa (Avenue Road). Nếu ông đến th́ mỗi tháng đóng góp bao nhiêu đó tiền ăn uống, chắc chắn sẽ được như nguyện. Sau mấy tháng sẽ trở về nhà thăm một chuyến, bàn bạc chuyện nhà với anh ông, hàn huyên với vợ, không đầy mấy ngày lại đi, quả thật là biện pháp tu đạo hy hữu bậc nhất. Quang nghĩ ông làm như thế th́ lợi ích đạt được sẽ trỗi hơn vô lượng lần so với xuất gia, nhưng phải vứt bỏ kiến thức giống như trẻ nít và lũ người vô tri đầu đường xó chợ đi th́ sẽ đích thân đạt được vô biên lợi ích!

Đang trong t́nh thế nguy hiểm này, hăy nên mở rộng tấm ḷng, tầm mắt, nỗ lực tu tŕ Tịnh nghiệp. Tất cả cát - hung, họa - phước đều chẳng bận tâm đến, cứ tùy duyên ứng biến. Dẫu cho đại họa đối đầu, vẫn nghĩ tới những người cùng mắc họa này chẳng biết có mấy ngàn vạn ức. Trong lúc không thể làm ǵ được, vẫn c̣n có A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát để nương tựa được, nào c̣n sợ hăi chi! Lấy niệm Phật, niệm Quán Âm để làm căn cứ không sợ hăi. Mở rộng tâm lượng, đừng sợ hăi trước th́ bệnh tự lành, thân tự yên vui. Nếu chẳng biết nghĩa này, chưa gặp cảnh nguy mà chính đă tự hăm vào trong cảnh nguy ngập trước, dẫu Phật, Bồ Tát cũng chẳng thể cứu được đâu! Do vậy, quân tử gặp cảnh hoạn nạn bèn hành xử theo cảnh hoạn nạn, cho nên trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng được yên vui!

 

532. Thư trả lời cư sĩ Quán Tâm

Mấy hôm trước, qua lá thư từ núi [Phổ Đà] chuyển đến, biết tâm ông mộ đạo tha thiết, tu tŕ một niềm cẩn trọng, khôn ngăn vui mừng, hâm mộ, nhưng do quá bận bịu chẳng thể trả lời ngay. Ngày hôm qua do có chuyện phải sang đất Hàng, được rảnh rang đôi chút, bèn viết đại khái. “Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu Thập Thiện nghiệp” chính là chánh nhân Tịnh nghiệp của tam thế chư Phật. Ông hiếu thảo với cha mẹ, biết tiết kiệm, sống chất phác, ắt sẽ chẳng đến nỗi nhận tiền tài phi nghĩa, tâm hạnh ấy khá hợp với Phật. Nếu lại c̣n thêm ḷng tín nguyện cầu sanh Tây Phương, ắt sẽ được như nguyện. Nhưng đă làm con người khác, làm cha của kẻ khác th́ hăy nên nghĩ đến cách làm sao cho cha mẹ ta, con cái ta đều được rốt ráo an ổn. Há chẳng tận lực khuyên cha mẹ ta và con cái ta cùng tu Tịnh nghiệp ư? Đấy là ước theo phía người thân mà luận, chứ hết thảy chúng sanh đều là con Phật, ta đă biết như vậy, nỡ ḷng nào chẳng làm cho anh em trai, chị em gái, thân thích, làng nước của ta, hết thảy những người gần gũi mỗi mỗi đều được biết tới [pháp môn Tịnh Độ] hay sao? Ông muốn quy y để mong văng sanh, chẳng nên phát hoằng thệ để thực hiện sẵn đạo “tùy phần, tùy sức độ người” hay sao?

Nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Hoành (Hoằng); nghĩa là dùng trí huệ lớn lao để hành đạo tự lợi, lợi người, tức là v́ hết thảy chúng sanh mà nói “giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính ḿnh, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đánh đổ ham muốn xằng bậy để khôi phục lễ nghĩa, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương”. Trong Văn Sao đă nói đến [chuyện này] nhiều lượt, nay nhắc lại với ông v́ sợ có lẽ ông không chú ư đến nỗi bỏ qua. V́ thế, chẳng ngại ǵ nhắc lại!

Hơn nữa, thế đạo loạn lạc như hiện thời đều là v́ không có người khơi gợi, chỉ dẫn [những điều ấy]. Xét đến cội nguồn đều do trong gia đ́nh chẳng khéo dạy dỗ, cũng như chẳng nói đến nhân quả báo ứng mà ra. Thiên hạ chẳng yên, thất phu thất phụ có trách nhiệm! Chú trọng giáo dục gia đ́nh và nhân quả báo ứng th́ tự nhiên hiền tài sẽ đông đảo dấy lên, thiên hạ sẽ dần dần được thái b́nh. Đối với mọi người, xin hăy đều đem lời này khẩn thiết bảo ban. Đấy cũng là một đại sự quan trọng “sống trong cơi trần học đạo, chính ḿnh chưa đắc độ mà đă làm chuyện độ người”. Xin hăy sáng suốt suy xét th́ may mắn lắm. Những điều khác đă nói tường tận trong Văn Sao, ở đây không viết cặn kẽ!

 

533 . Thư trả lời cư sĩ Lư Cát Nhân

Nhận được thư hôm Rằm, do bận bịu không rảnh rỗi nên lần khân đến nay. Nếu có thể đích thân tận mặt đến quy y th́ cố nhiên là đúng lư, nhưng nếu chẳng đích thân đến được, chỉ dùng ḷng chí thành khẩn thiết giống như đích thân lănh nhận th́ cố nhiên cũng chẳng khác ǵ! Dẫu tận mặt quy y nhưng chẳng coi trọng chuyện quy y, suy nghĩ, cư xử vẫn giống như cũ th́ tuy mang tiếng là quy y Tam Bảo, nhưng thật ra là quyến thuộc của ma vương. Lợi ích trong Phật pháp há có thể dùng hư danh để đạt được ư?

Niệm Phật cần phải nhiếp tâm khiến cho tạp niệm không do đâu khởi lên được. Nếu muốn nhiếp tâm th́ hăy nên lắng nghe. Nếu nghe từng câu từng chữ cho rơ ràng th́ tự nhiên tâm sẽ chẳng đến nỗi tán loạn quá mức, dẫu không quán tưởng mà cũng giống như đang nhập quán. Nếu chẳng thể nhiếp tâm được th́ quán cảnh chẳng rơ ràng, lư tánh chẳnh rành rẽ, lầm lạc muốn được sanh trong Thượng Phẩm, mặc theo ư ḿnh quán tưởng sẽ bị ma dựa phát cuồng nhiều lắm!

Há cứ phải quán tưởng th́ mới có thể văng sanh Thượng Phẩm được ư? Niệm [Phật] đến mức nhất tâm kèm thêm đại Bồ Đề tâm, lại c̣n tự hành, dạy người, hành rộng răi Lục Độ, ai mà chẳng lên được Thượng Phẩm? Nhưng lấy quán tưởng làm nhân cho Thượng Phẩm th́ cũng là một cách nói từ xưa đến giờ [dành riêng cho một hạng căn tánh nào đó], chứ nhiếp tâm niệm Phật là đạo để [căn cơ] thượng - trung - hạ cùng tu, lợi ích đạt được sẽ tùy theo [căn tánh và sự tu tập của] từng người mà chia ra lớn - nhỏ. Nếu quán tưởng mà chẳng hiểu biết nguyên do th́ quyết chớ nên mù quáng tu tập v́ có thể bị ma dựa! Nếu ông có thể nhất tâm niệm Phật, há ông chẳng được sanh trong Thượng Phẩm ư?

Chú Đại Bi chỉ nên y theo lời thầy đă dạy trong hiện thời mà niệm ắt sẽ có vô biên lợi ích. Cố nhiên hằng ngày nên thường niệm, cần ǵ phải trong ngày Thập Trai [mới niệm]. Hơn nữa, chuyện ăn thịt họa hại vô cùng. Vợ chồng ông đă phát tâm văng sanh Thượng Phẩm, sao chẳng ăn chay trường mà chỉ ăn Thập Trai vậy? Chẳng riêng ǵ chính ḿnh ăn chay mà c̣n nên khuyên con cái và người trong nhà đều cùng ăn chay. Đọc kĩ Văn Sao sẽ tự biết (bài sớ kêu gọi [tu bổ] ao phóng sanh ở Nam Tầm đă giảng giải khá tường tận) mối họa do ăn thịt và điều lợi do không ăn thịt. Cố nhiên nên nỗ lực nơi chuyện này, đừng để tập tục trói buộc, chỉ ăn Thập Trai mà thôi!

Thuốc lá của Tây Dương gây hại thật sâu. Trong Văn Sao có in kèm thêm bài thuốc thần diệu để cai nghiện á phiện, linh nghiệm tột bậc! Có rất nhiều người đều cai thành công. Kẻ nào chẳng dứt nghiện được đều là v́ thân thể đă mang sẵn bệnh tật khác. Ông hăy nên dựa theo đó, định kỳ hạn cai nghiện thong thả lâu gấp đôi th́ sẽ đoạn được cái gốc họa này. Chuyện văng sanh cố nhiên chẳng v́ cai nghiện hay không [mà bị ảnh hưởng], dẫu có tật ấy nhưng hễ sanh ḷng tin chân thật, phát nguyện thiết tha, nhất tâm niệm Phật th́ không một ai chẳng được văng sanh.

Thế đạo nhân tâm hiện thời bại hoại đến cực điểm. Muốn cho quốc gia dần dần khôi phục nguyên khí mà chẳng vun bồi cho gia đ́nh sẽ không thể được. Những kẻ hoại loạn thế đạo nhân tâm đều do sẵn có tánh t́nh khác lạ, lại không được gia đ́nh dạy dỗ, khiến cho những kẻ sẵn có tánh nết khác lạ ấy sanh khởi hành vi cuồng vọng, ra sức phóng túng, tà vạy. Nếu những kẻ ấy được dạy dỗ đàng hoàng th́ nếu cùng quẫn sẽ riêng ḿnh thiện, khi hiển đạt sẽ làm cho kẻ khác đều cùng thiện. V́ thế, Quang cực lực đề xướng dạy dỗ con cái để mong thiên hạ thái b́nh, nhân dân yên vui. Điều quan trọng là dạy cho [con cái] biết rơ “sanh tử luân hồi, nhân quả báo ứng”, giáo pháp ấy tuy thông thường nhưng lợi ích hiển nhiên đến tột bậc! “Đừng làm các điều ác, vâng giữ những điều lành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương”; đấy chính là một đại pháp môn để ngàn đức Phật, vạn đức Phật phổ độ chúng sanh khiến cho gần là thoát sanh tử, xa là thành Phật đạo. Đọc kĩ Văn Sao sẽ tự biết trọn vẹn!

 

534. Thư trả lời cư sĩ Lâm Tán Hoa (Thư thứ nhất)

Trước đây đă nhận được thư, nhưng do bận bịu chưa thể trả lời ngay. Cổ nhân nói: “Bốc dĩ quyết nghi, bất nghi hà bốc” (Bói để giải ḷng nghi; không nghi, bói làm ǵ). Như ông hỏi: “Niệm Phật là Chủ, nghiên cứu Giáo là Trợ. Tùy duyên độ người, hồi hướng An Dưỡng” th́ cần ǵ phải hỏi [làm như vậy] là đúng hay không? Đối với chuyện Trí Tĩnh đọc tụng Lăng Nghiêm, cần ǵ phải ngăn cấm? Niệm Phật, tụng kinh, về lư chẳng hai, nhưng phải nên lắng ḷng tŕ tụng, chớ nên chỉ chú trọng nghiên cứu văn nghĩa. Làm như thế th́ ư Phật c̣n lănh hội được, huống là văn nghĩa ư? Lư Trác Ngô tuy có tri kiến hơn người, nhưng hành vi đa phần trái nghịch, sai bậy, dẫu tri kiến hơn người vẫn chưa khỏi lệch lạc, tà vạy! Há nên nhất loạt coi những kẻ chỉ trích, phê phán ông ta là ngoan cố ư? Ngài Ngẫu Ích dẫn lời ông ta là do Ngài chẳng v́ [thấy tánh cách] của một con người [có những điểm đáng chê trách] mà sổ toẹt những lời [hữu lư] của người ấy. Ông cho rằng ngài Ngẫu Ích đă dẫn lời ông ta th́ mọi lời lẽ của ông ta đều đáng lấy làm khuôn phép ư? Tôi chưa từng đọc sách của Trí Ngô, nhưng đọc tiểu truyện của Trí Ngô trong Cư Sĩ Truyện và những chỗ người đời trước chỉ trích những chỗ trái nghịch, sai lầm của Trí Ngô th́ cũng có thể biết ông ta là người như thế nào. Ấy là v́ ông ta thiên tư cao nhưng xen tạp tánh cuồng vọng, chống đối, chưa thể tận lực tu tập đạo “thành ư, chánh tâm, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa” của thánh hiền, cũng đáng tiếc lắm!

Để phá những mê chấp của các nhà triết học, khoa học, cố nhiên nên lấy duy tâm duy thức làm chủ, nhưng cần phải đề xướng nhân quả báo ứng th́ nghĩa duy tâm duy thức mới được hoàn toàn viên măn. Tính kế sách cho hiện tại th́ hăy nên cực lực đề xướng “giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, hiểu nhân, rơ quả” và giáo dục trong gia đ́nh, nhưng đối với giáo dục trong gia đ́nh lại càng cần phải chú trọng nhân quả báo ứng. Hiện thời cơi đời loạn lạc đến cùng cực, dân không lẽ sống đều do chẳng nói đến nhân quả báo ứng và giáo dục trong gia đ́nh mà ra. Kẻ biết tốt - xấu chắc sẽ không cho lời tôi nói là sai lầm, xằng bậy! H́nh dáng Quang làm sao giống như tướng Phật cho được? Hăy nên thường lễ Phật, kính cẩn chiêm ngưỡng, đừng nhớ tới h́nh dáng của Quang!

 

535. Thư trả lời cư sĩ Lâm Tán Hoa (Thư thứ hai)

Giảng diễn về sự giáo dục thông tục đă chẳng thể nói đến Phật pháp th́ hăy lấy những đạo lư luân thường trong sách Nho làm chủ và dẫn những sự lư về nhân quả báo ứng trong sách Nho, như “thiên tác nghiệt do khả vi, tự tác nghiệt, bất khả hoạt” (trời gieo oan nghiệt c̣n có thể né tránh được, chứ tự ḿnh gây ra oan nghiệt sẽ chẳng thể sống sót được). Lại c̣n: “Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương” (Nhà tích thiện ắt sự vui có thừa, nhà tích điều bất thiện, tai ương có thừa) v.v… để bọn họ biết đến lư nhân quả, Nho giáo vốn có lư ấy, sự ấy. Đă biết nhân quả sẽ chẳng dám làm bậy, gian trá nữa!

“Cách vật, trí tri, thành ư, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ” phải từ Trung Thứ mà khởi. Trung () là chẳng dối tự tâm, Thứ (: khoan dung) là từ ḿnh nghĩ đến người. Đă trung thứ th́ hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ v.v… đều hành được.

Ông đă xin đặt pháp danh cho cha mẹ mà ngay cả tên tuổi cũng không viết ra, đáng gọi là kẻ thô tâm! Nay đặt pháp danh cho họ là Đức Thâm, Đức Uyên. Xin hăy khuyên họ quyết định cầu sanh Tây Phương, chớ nên cầu phước báo trời người trong đời sau. Nếu được phước báo trời người trong đời sau th́ phước báo ấy sẽ thành gốc họa. Phước báo càng lớn, tạo nghiệp càng to. Tạo nghiệp càng to, chịu khổ càng lớn! Nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương sẽ đáng gọi là Đức Thâm, Đức Uyên. Nếu không, sẽ là Nghiệp Thâm, Nghiệp Uyên, từ kiếp này sang kiếp khác chẳng thể thoát ĺa! Chẳng đáng buồn sao?

Tôi chưa biết đến sách Tuyên Giảng Đại Toàn, sẽ t́m hỏi xem. Tháng Chín năm nay, tôi sẽ diệt tung tích, ẩn náu lâu dài; trong tháng Tám chớ nên gởi thư đến nữa để khỏi bị thất lạc.

 

536. Thư trả lời cư sĩ Lâm Tán Hoa (thư thứ ba)

Ba người bạn muốn quy y, nay đều đặt pháp danh cho họ. Những điều khác đă nói tường tận trong Văn Sao và một lá thư dài, xin mọi người ai nấy đều chú trọng thực hành, đừng chỉ kiếm danh xuông, kẻo chẳng được lợi ích chân thật! Những lá thư c̣n giữ lại tùy ông sắp xếp, Quang không hỏi tới nữa! Nếu pháp “khi sanh nở niệm Quán Âm” được lưu hành rộng răi th́ thiên hạ sẽ không có chuyện khó sanh và do sanh nở mà bị mất mạng cũng như sanh xong bị băng huyết nguy hiểm, con cái sau khi sanh ra bị các chứng kinh phong cấp tính hay mạn tính nguy hiểm. Mỗi người hăy nên cung kính sao ra một bản để lưu truyền vĩnh viễn trong gia đ́nh. Đấy là lời Phật nói, nhưng người xưa chưa đề xướng. Người đời nay sát nghiệp lẫn t́nh dục đều nặng nên sản nạn rất nhiều. V́ thế mới chẳng thể không chỉ dạy rơ ràng vậy!

 

537. Thư trả lời cư sĩ Lâm Tán Hoa (Thư thứ tư)

Đang trong thời thế cả nước như cuồng này, cố nhiên tục đă đáng chán, mà Tăng cũng đáng buồn! Đôi bên trái pháp đến nỗi thành ra hiện tượng ấy. Hội Phật giáo các xứ đều là diễn lại chuyện cũ một cách hư rỗng để tạm thời ngăn ngừa người ngoài khinh lấn, nhưng lâu ngày chầy tháng ắt sẽ sụp đổ, không lập được cách ǵ nữa! Phổ Đà Phật Học Viện chỉ có cái danh mà thôi! Muốn học Giáo sao chẳng qua chùa Quán Tông ở Ninh Ba mà lại muốn đến chùa Phổ Đà vậy?

Trong mấy năm gần đây, ông X… chịu ảnh hưởng của trào lưu mới, mùa Hạ này bị bệnh nặng mới biết hổ thẹn, nói “muốn dụng công mười năm rồi mới hoằng pháp!” Trong cơi đời hiện thời, trừ đề xướng nhân quả báo ứng và giáo dục trong gia đ́nh ra, dẫu Phật, Bồ Tát, thánh hiền cùng xuất hiện trong cơi đời cũng chẳng biết làm sao! Xin hăy đọc kĩ Văn Sao sẽ tự biết. Nếu có thể xét kĩ th́ không điều nghi nào chẳng cởi gỡ được!

 

538. Thư trả lời cư sĩ Lâm Tán Hoa (Thư thứ năm)

Tà thuyết ngoại đạo đều chẳng đáng lo, cái đáng lo là Tăng phần nhiều chẳng biết pháp và những gă cuồng Tăng xưng bừa là hoằng pháp nhưng thật ra là diệt pháp! Thế lực của họ rất lớn, nếu chẳng phải là bậc thánh nhân thần thông sẽ chẳng biết làm thế nào! Quang là một Tăng nhân tầm thường chỉ biết cơm cháo, đă không có đạo đức lại chẳng có tiếng tăm ǵ, làm sao có thể xoay chuyển lũ quyến thuộc trong ngoài của ma vương ấy, khiến cho bọn họ giữ ḷng chánh niệm, chẳng bị những tà thuyết ấy mê hoặc ư? Đừng nói chẳng soạn luận, dẫu có soạn cũng chẳng ích ǵ! Nếu các Tăng - tục ấy đều nương theo lời Phật, hành theo hạnh Phật th́ những kẻ có ư muốn diệt Phật pháp trông thấy đạo hạnh ấy cũng sẽ khâm phục, kính ngưỡng khôn cùng, lại c̣n muốn hộ tŕ. Huống là những vị có hành vi càng sâu xa hơn nữa ư?

Hiện thời, muốn hộ tŕ Phật pháp, không chi cấp bách hơn là tận tụy thực hành đạo “giữ vẹn luân thường, nhân nghĩa” và pháp tín nguyện niệm Phật! Sợ ông lầm lạc mong Quang soạn văn nên đặc biệt chỉ ra t́nh trạng không thuốc chữa, chỉ mong ông thấu hiểu sâu xa!

 

539. Thư trả lời cư sĩ Lâm Tán Hoa (thư thứ sáu)

Đại kiếp này vốn đă ươm mầm nhiều năm, nay mới phát hiện. Ví như nhọt chưa chín muồi, nếu kẻ ngu lúc b́nh thường chẳng chữa trị th́ khi nhọt loét ra, sẽ khó thể chữa lành ngay được! Dẫu chẳng thể không tận hết sức người, vẫn khó thể chắc chắn văn hồi được. Hiểu rơ điều này sẽ chẳng đến nỗi sanh ḷng áo năo xuông, oán trời, hận người. Ông Nhiếp Vân Đài do dụng tâm quá độ, hiện thời đang phải dưỡng bệnh, chẳng thể giao thiệp với ai được.

Nghe nói ông X… đă sang Hồ Bắc, người này đă được ông Y… hun đúc, nên trong tri kiến ông ta chỉ nghĩ Duy Thức là đúng, các hạnh môn khác đều coi thường. Mùa Hạ này bị bệnh nặng mới thống thiết hối hận sai lầm, chẳng biết rốt cuộc gần đây ra sao? Xin hăy đừng qua lại với hạng người như vậy để khỏi bị họ xoay chuyển. Tất cả những hiện tượng trong hiện thời đúng là nhằm thôi thúc con người chuyên tu Tịnh nghiệp để cầu văng sanh. Đang trong lúc này mà vẫn cứ hờ hững, hời hợt muốn làm đại thông gia th́ đă chẳng thể tự lợi mà c̣n chẳng thể lợi người, tính toán cũng sai lầm quá đỗi vậy!

 

 

540. Thư trả lời cư sĩ Lâm Tán Hoa (Thư thứ bảy)

Giảng kinh th́ việc ǵ cứ phải mỗi năm giảng một kinh, chẳng thể giảng trùng lặp ư? Đă phải ăn cơm hằng ngày, sao lại ngại phải lập đi lập lại? Tâm Kinh nghĩa lư uyên thâm, [nếu giảng kinh ấy th́] làm sao kẻ sơ cơ đạt được lợi ích? Dẫu có sở đắc cũng chỉ là hiểu nghĩa [trên mặt văn tự] mà thôi! Sao bằng pháp môn Tịnh Độ hễ nghe liền có thể thực hành được ngay! Kể cả phẩm [Phổ Hiền] Hạnh Nguyện cũng không nhất định phải giảng nhiều bữa. Đức Phật đem những nghĩa lư uẩn súc, uyên áo trong sáu trăm quyển Đại Bát Nhă nêu tỏ chẳng sót trong hai trăm sáu mươi chữ [của Tâm Kinh], cần ǵ cứ phải kéo dài lan man, chỉ cốt nói rộng nói nhiều để phô tài ăn nói vậy?

Đạo Xước thiền sư là bậc cao tăng lỗi lạc, chuyên hoằng dương Tịnh Độ. Ngài thọ bảy mươi mấy tuổi, suốt đời giảng ba kinh Tịnh Độ gần hai trăm lượt. Nếu Ngài bắt đầu giảng từ năm hai mươi tuổi th́ trong năm mươi mấy năm, mỗi năm phải giảng hai ba lượt mới được như thế!

Qua lá thư gởi cho một vị cư sĩ trong Triệt Ngộ Ngữ Lục, [ngài Triệt Ngộ Mộng Đông] đă viết: “Trong một mùa Hạ hai lượt giảng xong Lăng Nghiêm; nào ngại Hạnh Nguyện văn dài chẳng thể giảng xong trong bảy ngày?” Bảy ngày là quá rút gọn, có lẽ nên giảng mười ngày. Giảng kinh đâu có quy củ nhất định buộc người giảng phải tận hết sức Đông kéo Tây lôi, chẳng chịu chỉ điểm ngay chỗ chánh yếu?

Tri kiến của ông là tri kiến tràn lan, không biết giữ lấy chỗ giản ước, cứ muốn dùng sự rộng răi để tạo lợi ích cho kẻ sơ cơ th́ đấy là chuyện tạo dựng môn đ́nh vậy! “Một đêm tṛ chuyện cùng anh, c̣n hơn đọc sách loanh quanh mười mùa. Để chữa lành bệnh đâu cần tới lượng thuốc nhiều đến nỗi phải dùng lừa, lạc đà để chở”. Đấy đều là những lời cổ nhân giáo huấn về cách giữ lấy sự giản ước vậy!

Hiện nay chiến sự phát sanh, đối với chuyện sau này, chớ nên lo liệu ngược ngạo, hăy nên khuyên hết thảy già - trẻ - trai - gái cùng niệm A Di Đà Phật và niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu, hễ c̣n sống sẽ tránh được tai họa này, chết rồi sẽ về Cực Lạc. Giảng kinh vẫn chưa phải là nhiệm vụ cấp bách hiện thời, điều cấp bách nên làm là thông cáo hết thảy già - trẻ - trai - gái cùng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để sau khi thái b́nh rồi hăy giảng kinh, nhất là phải lấy việc “tạo cho kẻ sơ cơ có ḷng chánh tín nơi Tịnh Độ” làm đầu!

Nghê Thương Cần, Thí Lập Khiêm đă biết quy y, tôi đều đặt pháp danh cho mỗi người. Nghê Thương Cần pháp danh là Tông Cần. Niệm Phật cầu sanh Tây Phương, tự hành, dạy người, đều phải lấy Cần (: siêng năng) làm gốc. Nếu lười nhác biếng trễ sẽ khó được thành công! Thí Lập Khiêm pháp danh là Tông Khiêm. “Khiêm” () là chẳng tự thỏa măn, chẳng cho là đủ, như biển dung nạp trăm sông, như hư không bao trùm muôn h́nh tượng. Mọi thứ tội nghiệp đều do Khiêm mà tiêu. Đủ mọi công đức đều do Khiêm mà thành tựu.

Nay gởi cho ông và hai người ấy một gói Tịnh Độ Thập Yếu, xin hăy chia ra tặng. Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều không đủ, từ nay chớ nên thường gởi thư tới. Chỉ nên dựa theo những điều đă nói trong sách Thập Yếu để tu th́ đâu có thiếu sót ǵ mà cần phải thường hỏi han! Nếu chẳng chú trọng chuyên tu Tịnh Độ, cứ muốn thông suốt khắp các giáo nghĩa th́ một hai lá thư cũng chẳng thể đạt được mục đích ấy! Xin hăy sáng suốt suy xét. Sách Thập Yếu chính là sách trọng yếu trong tông Tịnh Độ. Đừng toan tính những chuyện ham cao chuộng xa th́ sẽ đạt được lợi ích tối cao tối thắng! Một Lá Thư Trả Lời Khắp cũng nói những chuyện mọi người đều phải gấp nên chú trọng!

 

541. Thư trả lời cư sĩ Lâm Tán Hoa (Thư thứ tám)

Đường lối để tạo vinh dự cho cha mẹ của kẻ làm con chính là siêng năng tu đức, để hết thảy mọi người đều v́ kính trọng ta mà tưởng nhớ đấng sanh ra ta. Đấy mới là phương pháp quan trọng nhất. Thường thấy người đời khi cha mẹ đă khuất bèn phân phát cáo phó rộng khắp, bịa đặt kể lể công trạng, đến các nơi xin những người có danh vọng, có địa vị ghi lời tán tụng, viết tiểu sử, đề bài minh, bài biểu, chứ không miệt mài chú trọng gắng sức tu đức, thể hiện ḷng nhân để mong tạo thanh danh cho cha mẹ.

Tôi thường nói: “Người đời đa số chuộng danh ghét thật, chỉ muốn phô trương trong một lúc, chứ chẳng nghĩ dùng sự tận tụy [tu đức] nơi thân ḿnh để tưởng nhớ báo đền cha mẹ”. Cha mẹ ông đă tin nhận Phật pháp, ông cũng đă biết những nghĩa “tâm sẵn đủ, tâm tạo, tâm làm, tâm là”, trong tương lai, khi cha mẹ nằm xuống, phàm những chuyện ma chay, tế lễ, đăi khách v.v… đều tuân theo cấm chế của nhà Phật, đừng dùng rượu thịt, kiêng giết, làm lành để xướng suất cho cả làng. Những vị như Ngô Trí Hinh v.v… cũng đă sớm đem đạo lư này dặn ḍ con cháu. Hết sức khẩn yếu!

Bài kư nêu duyên khởi của Tịnh Nghiệp Xă tôi đă soạn xong, nay đem gởi đi. Dựng bia chẳng có lợi ích lớn lao bằng treo bảng v́ chữ khắc trên bia chẳng thể phóng to được, bởi lẽ đá lớn sẽ tốn tiền. Hơn nữa, có ai chịu đứng xem? Trong trăm người, chỉ được một hai kẻ chịu đứng xem. Bảng th́ dùng gỗ cứng để làm, [c̣n bài kư ấy th́] hoặc khắc, hoặc [chép ra giấy] dán vào bảng, treo nơi chỗ ngồi, ắt sẽ có nhiều người xem. Lúc viết cần phải dùng kiểu chữ Khải theo lối Chánh Thể. Chữ viết đừng quá nhỏ, cũng đừng để sai ngoa, thiếu sót, hay thừa thăi.

Quang bận rộn cùng cực, đă cự tuyệt hết thảy, chuyện này là ra ngoài thông lệ. Từ nay chớ nên đem chuyện bút mực sai phái nữa! Nếu vẫn gởi thư đến, quyết chẳng trả lời. Văn từ trong bài sớ mấy ḍng đầu có chỗ từ lẫn ư chẳng được thông suốt cho lắm, phần văn sau tuy trôi chảy, nhưng chỉ chú trọng câu chữ bóng bảy, chứ không nêu rơ được sự thật. Văn nhân viết văn quá nửa là lời văn sắc sảo, nhưng không đạt được ư! Nói hoa mỹ, bóng bảy đến cùng cực, chứ về mặt nêu bày sự thực lại chỉ phảng phất lờ mờ, nhưng đă kể như là thiết thực lắm rồi!

Nay gởi cho ông một gói Tịnh Độ Ngũ Kinh, ngoài những cuốn tự giữ ra, những cuốn khác hăy dùng để kết duyên. Quang do bốn bộ Sơn Chí Ngũ Đài, Nga Mi, Cửu Hoa, Linh Nham bức bách không thể tŕ hoăn được nên đă cự tuyệt hết thảy để mong sớm hoàn tất chuyện này. Hăy nên sao bài kư nêu duyên khởi thành một bản để gởi cho ông Mạnh Do.

 

542. Thư trả lời cư sĩ Lâm Tán Hoa (Thư thứ chín)

Chuyện học nghề thuốc cần phải hết sức thận trọng. Chưa học kĩ Trung Y sao lại học Châm Cứu? (Chữ Cứu () âm đọc [gần giống như chữ] Cửu (), nhưng người đời thường viết sai thành Chích (). Các sách thuốc lưu hành hiện thời cũng [viết sai] như thế, sao chẳng biết chữ này?)

Tôi không biết rơ ở Tô Châu có sở huấn luyện châm cứu hay không, nhưng dẫu có đi nữa, th́ đấy cũng chẳng phải là nơi người nghèo theo học được. Thái Ất Thần Châm chẳng phải là bí truyền, nhưng phải hết sức cẩn thận khi án huyệt (nhận định đúng vị trí của huyệt đạo) để cứu. Đồng Nhân Đường ở Bắc Kinh có bán thuốc để châm cứu đă chế sẵn. Toa thuốc cũng công bố, ai muốn tự chế th́ làm. Trong toa thuốc có chất Xạ và bọ cạp nguyên con, hai vị thuốc ấy cũng chớ nên dùng.

Nếu người niệm Phật dùng Đại Bi Chú và thánh hiệu Quán Âm để gia tŕ [thuốc rồi mới châm cứu] ắt sẽ càng hữu hiệu. Có điều các pháp được liệt kê thêm ở cuối sách (đă quên mất tên sách) dường như chẳng hợp thời nghi. Những sách vở khác Quang đều không biết.

Trước đây, Trần Cánh Phi đă nói: “Muốn ở trong núi tu hành”, Quang đă bảo là không nên. Ông muốn Quang hạ một lời bổng hát thống thiết, Quang bèn nói: “Luôn luôn nghĩ đến những chuyện sai trái”. Sao không nói rơ chuyện ấy? Sao chẳng biết sự vụ đến mức như thế? Mắt Quang đă thành ḷa, tinh thần giảm sút đáng kể, chẳng thể thù tiếp được, từ nay đừng gởi thư tới; gởi đến quyết không trả lời!

 

543. Thư trả lời cư sĩ Lâm Tán Hoa (Thư thứ mười)

Ông làm giáo viên kiêm hoằng dương Phật pháp, hăy nên tùy phận tùy sức, sao lại cưỡng cầu nhân sĩ các giới phải tin tưởng, ngưỡng mộ? Lấy thân làm gương, đấy là căn bản. Nếu trong những hành vi, lời lẽ có ǵ thiếu sót sẽ chẳng thể làm cho người khác sanh ḷng tin tưởng được! Cái học bên ngoài dù cao, nhưng cái hạnh thật sự không có, ông muốn thông suốt thêm cũng chỉ là uổng công. Bởi lẽ dùng lời để dạy sẽ bị tranh căi; dùng thân để dạy, người khác thuận theo”. Đây là chương tŕnh “tự lợi, lợi người, tự lập, lập người” [chắc chắn như] sắt thép vậy!

Trang nghiêm tượng Phật th́ với vàng [để thếp] hăy nên lấy màu sắc để định, há nên chấp chặt hẹp ḥi phải là thứ này, thứ nọ? Nhà nào (tức tiệm bán vàng) thường tốt, nhà nào thường gian dối? Nếu chính ḿnh có thể mua th́ được, chứ nếu cậy người khác chắc sẽ có chuyện tệ hại, Quang chẳng thể hỏi giùm chuyện này được!

Phàm mọi chuyện đều phải tuân theo chương tŕnh: Tượng vẽ có người đương cơ quỳ ở trước th́ có thể vẽ theo cách thức [đức Phật] xoa đầu [kẻ đương cơ]. Nếu không có người đương cơ quỳ ở trước th́ chớ nên lầm lạc sửa đổi cách thức sẵn có. [Tạo tượng A Di Đà Phật] x̣e tay tiếp dẫn rất nên!

Người trong liên xă dám chửi kẻ khác trước tượng Phật, tội đáng chết muôn phần! Đêm mộng thấy thần [hộ pháp] trách phạt, đăng báo [chuyện ấy] sẽ có thể cảnh tỉnh người khác; nhưng trong xă quy (quy củ của liên xă) hăy nên vạch rơ lỗi miệt thị người khác. Hễ xă quy nghiêm túc th́ sẽ tự chẳng có thái độ xấu hèn ấy nữa!

Hút thuốc phiện cũng thế, nếu kẻ hèn kém thiếu chí hướng [đă nắm giữ chức vụ, trót nghiện ngập nhưng] chẳng chịu sửa đổi th́ hăy buộc họ từ chức. Nay gởi cho ông một gói sách, trong ấy có hai bộ Ngũ Đài Sơn Chí, mười cuốn Hám Sơn Niên Phổ Sớ, một số trang toa thuốc trị chó dại cắn.

 

544. Thư trả lời cư sĩ Mậu Trí Tu

Sau khi tự quy y, bèn thật thà niệm Phật, chẳng lười nhác chút nào, tôi [cảm thấy] vui mừng, an ủi đến tột bậc! Cư sĩ Châu Dung Đường đăng lính thay cho cha, ḷng hiếu đáng khen ngợi. Đă biết đời người lắm sự khổ, do vậy, ông ta dốc sức tu Tịnh nghiệp. Con người như thế mới là đệ tử thật sự của đức Phật. Ông ta đă bảy mươi ba tuổi, sanh cùng năm với Quang. Nay muốn quy y, chẳng cần phải đi xa; chỉ nên nương theo lời dạy trong Gia Ngôn Lục và Sức Chung Tân Lương để tự ḿnh tu tŕ và dạy dỗ con cháu trong nhà để mong khi lâm chung sẽ được họ trợ niệm, chẳng đến nỗi phá hoại Tịnh nghiệp, kẻo vẫn luân hồi trong lục đạo chịu nỗi khổ sanh tử luân hồi.

Nay đặt pháp danh cho ông ta là Đức Ấm, nghĩa là có thể nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, ắt sẽ được đức Phật rủ ḷng Từ che chở, tiếp dẫn văng sanh. Trong hằng ngày, dùng những điều ấy để tự hành, lại c̣n đem dạy người th́ hết thảy mọi người sẽ đều được che rợp bởi ḷng Từ của đức Phật. V́ thế nên gọi là Đức Ấm. Xin hăy nói với ông ta, tùy [ông ta chọn] một ngày nào đó, đối trước tượng Phật đảnh lễ, tự thệ quy y là được!

 

545. Thư trả lời cư sĩ Vương Nghiễn Sanh (Thư thứ nhất)

Thư nhận được đầy đủ. Quang là một Tăng nhân chỉ biết cơm cháo, há nên khen ngợi quá lố như thế? Chuyện lập đàn cầu cơ Quang một mực chẳng xiển dương, bởi những lời giáng cơ phần nhiều đều là mạo danh, chứ không phải mỗi mỗi đều do chân tiên giáng lâm, huống là Phật ư?

Bài văn [được rêu rao là] do Quán Âm đă nói [trong buổi cầu cơ] lần này, cũng là mạo danh! Tôi đoán bài văn ấy chắc là do họ đă sao lục bài văn cũ để đưa ra. Nếu không, sao trong văn từ lại thường có những chỗ chẳng thể hiện được ư? Những điều được nói trong ấy cũng phần nhiều là tán loạn, lan man, chẳng chỉ ra rơ ràng, rộng răi những điều quan trọng cho lắm! Cố nhiên Quang chẳng dám tự phụ là thông minh, nhưng nếu các vị coi đó chính là lời đức Quán Âm nói, chắc sẽ bị người khác chê cười! Do vậy tôi bèn sửa chữa đôi chút, so với bản trước đây trôi chảy hơn một tí, nhưng đừng nói rơ là Quang đă sửa chữa.

Ông Khâu văng sanh Tịnh Độ rồi trở lại cơi này cố nhiên chẳng đáng nghi, nhưng do [các ông] chấp kinh văn mà chẳng hiểu ư kinh nên trở thành mối nghi lớn! “Một đại kiếp trong cơi Sa Bà bằng một ngày đêm nơi Cực Lạc”, câu này giảng rơ thời gian ở Cực Lạc. C̣n nói “một ngày, một đêm, bảy ngày, một kiếp, mười hai đại kiếp” v.v… là đều ước theo thời gian phương này (cơi Sa Bà) để nói! V́ sao biết? V́ người lợi căn hoặc độn căn ở phương này do thành khẩn đến cùng cực, liền có thể trong mấy chục ngày hoặc mấy năm sẽ đại triệt đại ngộ và đích thân chứng được tam-muội, há lẽ nào người đă văng sanh Tây Phương, trụ trong cảnh giới thù thắng, nhiệm mầu, thường được thần thông, oai đức chẳng thể nghĩ bàn của Phật, Bồ Tát gia bị, so với người trong cơi [Sa Bà] này lại hưởng lợi ích chậm trễ gấp mấy lần sự khác biệt giữa ngày và kiếp ư? Sự này, lư này, há phải đợi kẻ trí [giải thích] mới biết ư? Các vị chẳng khéo hiểu ư [kinh văn], ăn nói điên đảo, nên mới phạm sai lầm như thế!

Huống chi thời kiếp bất định, thần thông đạo lực của Phật, Bồ Tát lại chẳng thể rút ngắn thời gian cả kiếp thành một niệm ư? Hoặc chẳng thể kéo dài một niệm thành cả kiếp dài lâu ư? [Các ông] chấp chặt [ông Khâu đă văng sanh] năm năm lẽ ra không nên trở lại cơi này là v́ chấp vào kinh văn [thành ra tự ḿnh] trái nghịch ư nghĩa của kinh. Được Quang nói lời này, mọi mối nghi tự cởi gỡ.

Huống chi người vừa mới văng sanh liền trở lại báo [cho người cơi này biết] đều là do nương vào oai thần của A Di Đà Phật, muốn nhờ vào đó để khơi mở, chỉ dạy kẻ mê tối, chứ không phải do sức của chính ḿnh mà có thể tự tiện làm chuyện ấy được! C̣n như ông Kế tức thời sanh Tây, chẳng vượt thời hạn để quay trở lại báo tin, đều thuộc về nghĩa này.

Như [các ông chấp nệ kinh] nói:“Tu Đà Hoàn bảy lần sanh lên trời, bảy lượt sanh trong nhân gian” chính là đă lầm lẫn đem chuyện của bậc Tu Đà Hoàn cơi này để luận bậc Tu Đà Hoàn cơi Cực Lạc! Sự lầm lẫn ấy khiến cho người khác bị lầm lạc chẳng nhỏ đâu nhé! Trong cơi kia tuy có loại danh tự Tiểu Thừa ấy, nhưng thật ra họ đều đă liễu sanh tử, dự vào Bồ Tát thừa. Chẳng qua là tạm dùng các địa vị đă chứng được mà đặt tên như thế. Nếu các vị dùng ngay địa vị Tu Đà Hoàn trong cơi [Sa Bà] này để luận th́ hóa ra trong Tây Phương Cực Lạc thế giới vẫn chưa liễu sanh tử, vẫn luân hồi y như cũ ư? Sao chẳng thấu hiểu thật lư, thật sự nơi hai cơi, cứ lầm lạc sanh khởi những thứ nghị luận sai quấy này vậy? Chẳng sợ trái kinh lầm người đến mức như thế đấy!

Hiện thời, ai nấy đều nên nghiêm túc tu Tịnh nghiệp th́ mới đạt được lợi ích thật sự. Nếu học Thiền ngoài miệng th́ tuy là nhân lành, nhưng nhất định sẽ chuốc lấy quả ác! Thế đạo hiện thời bại hoại đến cùng cực. Nếu muốn văn hồi, cần phải đề xướng nhân quả báo ứng, lại phải chú trọng dạy dỗ con gái! Bởi lẽ, nếu không dạy dỗ con gái th́ chẳng những nó không thể giúp chồng dạy con thành tựu đức hạnh, trái lại c̣n giúp chồng dạy con làm ác. Đấy chính là cội rễ khiến cho nước ta tan hoang, loạn lạc vậy! Bỏ hai pháp này mà muốn thiên hạ thái b́nh, nhân dân yên vui, dẫu Phật, Bồ Tát, Thánh Hiền cùng xuất hiện trong cơi đời cũng đều không thể đạt được lợi ích thật sự! Huống chi con người hiện thời vốn sẵn có chủ kiến cuồng ngạo, trái nghịch ư?

Các vị đă cầu cơ tức là chẳng hợp với tông chỉ tu Tịnh nghiệp. Nhưng các vị c̣n hiểu rơ lư, so với những kẻ sùng phụng cầu cơ khác c̣n cao hơn một bậc. Do vậy, tôi gởi sách cho các vị. Nếu chịu đọc kĩ, chắc sẽ biết đầy đủ nguyên do. Quang bận bịu đến cùng cực, từ nay chớ nên thường gởi thư tới hỏi dông dài như thế nữa! Chỉ nên đọc kĩ các sách như Văn Sao v.v… th́ không mối nghi nào chẳng cởi gỡ! Những điều khác đă nói tường tận trong Văn Sao, không viết chi tiết ở đây!

 

546. Thư trả lời cư sĩ Vương Nghiễn Sanh (Thư thứ hai)

Tôi đă đọc hết thư gởi đến. V́ độ chúng sanh nên Phật, Bồ Tát thị hiện sanh trong thế gian. Nh́n từ phía chúng sanh th́ các ngài cũng có sanh tử, chứ nh́n từ nhăn quan của các vị Phật, Bồ Tát th́ quả thật không có sanh tử. Ví như huyễn mộng, tuy có nhưng chẳng thật, nhưng hễ có sanh tử th́ có khổ, không sanh tử th́ không khổ. Há nên chia thành hai thứ “liễu sanh tử khổ” và “liễu sanh tử”? Tử chính là khổ v́ có sanh tử. Đă liễu sanh tử th́ sẽ tự không có khổ!

Cần biết rằng: Chính v́ chúng sanh mà Phật, Bồ Tát thị hiện tướng sanh tử ấy, chứ không phải thật sự v́ trước đó các Ngài chưa liễu sanh tử, đến nay mới liễu! Chuyện phóng sanh trứng cá được chép trong bộ sách, tuy có hai chữ “Phật ngôn”, nhưng cũng chưa từng thấy xuất phát từ kinh nào. Há nên v́ lẽ ấy mà khiến cho người khác báng pháp? Trong cơi đời có bao nhiêu kẻ thả trứng cá đâu?

Cần biết rằng: Chỗ gần biển ở phương Nam khác với các sông biển thông thường. Cá biển hễ gặp phải nước ngọt sẽ chết ngay, c̣n cá trong sông ng̣i gặp phải nước mặn liền chết tươi. Nếu chưa biết rơ xuất xứ của chúng, dẫu có muốn cho chúng sống, chúng cũng chẳng thể sống được. Phóng sanh nhằm cảm phát ḷng Từ kiêng giết ăn chay của con người, há nên chuyên muốn chú trọng thả cho nhiều, để rồi t́m ṭi, giảng nói chuyện chẳng cấp bách ấy ư?

Nên biết rằng: Chuyện trong thế gian có nhiều chuyện chẳng thể dùng lư hay sự để luận được. Một người bạn kể: “Một năm nọ, tại một xứ nọ, thuộc vùng Giang Bắc gặp dịch châu chấu, người địa phương xin quan đi khám nghiệm. Có một chỗ dài đến mấy dặm, rộng hai ba dặm, châu chấu non c̣n chưa mọc cánh ḅ lúc nhúc, dày đến hơn một thước. Người đạp lên, chân ngập đến mấy tấc, khôn ngăn kinh hoảng đến cùng cực. Quan gấp sai đào hố để chôn đi, nhưng buổi chiều trời đổ một trận mưa to, [châu chấu] hoàn toàn tiêu diệt hết”. Loại châu chấu ấy rốt cuộc là loại châu chấu nào? Những con châu chấu non do chúng nó sanh ra đều là hóa sanh, hiện ra tướng tai nạn ấy. Năm nay vùng Giang Bắc cũng có nạn châu chấu dày mấy tấc, đường xe lửa bị nghẽn. Trước hết phải đuổi chúng đi rồi mới dám mở đường. Phàm người tu hành hăy nên dốc sức nơi chỗ quan hệ khẩn yếu lớn lao. Nếu hờ hững hời hợt t́m ṭi, sợ sẽ chẳng có tinh lực để lo liệu được đâu!

 

547. Thư trả lời cư sĩ Phó Pháp Lâm

Đă nhận được Dă Truật, vẫn chưa bị mốc. Một người bạn ở Giang Tây nói: “Nếu chẳng chế biến mà ăn vào sẽ bị đầy hơi”. Ông ta biết cách chế biến, sẽ chế biến để kết duyên. Những sách con kể tên trong thư, có loại không c̣n, có loại hăy c̣n. Loại nào c̣n th́ ta gởi đến cho con, không c̣n th́ chẳng thể nào gởi được! Nhưng đă có Văn Sao, An Sĩ Toàn Thư, Gia Ngôn Lục, Cảm Ứng Thiên Trực Giảng v.v… th́ tuy các loại khác không có cũng đâu có thiếu sót ǵ! Điều đáng tiếc là tuy có sách mà chẳng xem th́ cũng như không có! Tuy xem nhưng chẳng tu tŕ theo đó th́ cũng như không xem!

Thiện thư quư ở chỗ lưu thông, nhưng cần phải là người hơi có tín tâm, thông đạt văn lư th́ mới nên biếu tặng. Lúc tặng, lại nên nhắc nhở họ hăy đem ḷng cung kính [xem đọc], đừng khinh nhờn. Nếu khinh nhờn, ắt mắc tội lỗi! Những sách ấy đều là phương tiện dẫn đường để nhập thánh siêu phàm, chớ nên rẻ rúng như hết thảy những loại tiểu thuyết hoặc sách giải trí th́ sẽ có ích đôi chút. Nay đem các loại sách ấy gởi chung trong một bao. Nếu nhận được sách, xin hăy gởi thư báo cho thầy Minh Đạo ở chùa Thái B́nh biết. Từ nay về sau đừng gởi thư đến nữa, do Quang đă diệt tung tích, không ai lo liệu đâu!

Con c̣n nhỏ tuổi, hăy nên dốc hết sức làm người. Ắt phải nên hiếu thuận với cha mẹ, thân cận người có đức, xa ĺa những hạng hoang đường! Cần phải dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đánh đổ ham muốn xằng bậy để khôi phục lễ nghĩa, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành. Hiện nay chính là thời thế đại hoạn nạn. Tai nạn xảy đến chẳng thể dự liệu, tránh né cũng không được, có ngừa cũng không ngừa được. Nếu có thể thường niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát, ắt sẽ có sự chuyển dời ngấm ngầm chẳng thể nghĩ bàn, ngơ hầu có thể gặp dữ hóa lành, gặp nạn thành hên (Nói đến “tốt lành” th́ chẳng phải là chuyện tốt đẹp đặc biệt ǵ! Gặp nạn nhưng chẳng bị nạn đă là chuyện tốt lành không chi lớn bằng rồi).

Nhân tâm thế đạo ngày nay đă bại hoại đến tận cùng. Phế kinh điển, phế hiếu, phế luân thường, vứt bỏ ḷng thẹn, giết cha, giết mẹ, đều được miệt mài đề xướng, đúng là muốn cho con người trọn chẳng khác ǵ cầm thú th́ mới thỏa ḷng! Truy t́m căn nguyên, đều do một mực chẳng nói đến nhân quả báo ứng và giáo dục trong gia đ́nh. Những kẻ đọc sách thông minh chỉ học thành hạng người có đủ mọi mánh khóe mưu mẹo, dối gạt mà thôi, cho nên vừa nghe đến thứ tà thuyết ấy liền như bèo giạt theo gió, tụ họp trong hàng ngũ tà ác ấy! Tội tuy do họ gây ra, nhưng thật ra cha mẹ họ cũng chiếm quá nửa! V́ sao vậy? Do không khéo dạy dỗ từ nhỏ, lại c̣n dạy họ những mánh khóe mưu mẹo, dối gạt mà ra!

Con đă biết tốt - xấu, hăy nên đi theo đường chánh. Đừng nói đi theo đường chánh sẽ được trời giúp, người kính, cửa nhà hưng thịnh, con cháu đều thành hiền thiện; dẫu cho túc nghiệp đă chín muồi, gặp phải cảnh ngộ ngang trái, trọn chẳng phải là do học theo những sự tốt đẹp cho nên mới gặp phải những nghịch cảnh như thế để rồi oán trời hận người. [Có hiểu như vậy] th́ mới chẳng thẹn là người đọc sách, chẳng hổ là người học Phật! Xin con hăy suy xét cặn kẽ, tận lực thực hành.

 

548. Thư trả lời cư sĩ Hoàng Đức Vỹ

Nhận được thư đầy đủ, lời dạy của Đa Đa Bồ Tát có thể nói là chân thật đến cùng cực. Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát và Đa Đa Bồ Tát như cùng một đường mà ra; đủ thấy chuyện cầu cơ chẳng đáng để nương tựa! Bồ Tát làm chuyện phi đạo để thông đạt Phật đạo!Trước hết phải dùng dục lôi kéo để sau đấy sẽ thâm nhập Phật trí, qua chuyện này có thể thấy trọn. Đa Đa Bồ Tát đă có đại ân, quả thật chẳng thể quên, nhưng cũng chớ nên đưa tên Ngài vào nghi thức niệm Phật. Trong nghi thức niệm Phật th́ ngay cả danh hiệu của Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng, Di Lặc cũng không đưa vào, huống là các vị khác ư? Nhưng các vị Bồ Tát ấy đều cùng gộp trong danh hiệu Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. Nếu thêm tên Đa Đa Bồ Tát vào, cố nhiên đối với Tịnh Nghiệp Xă của các ông chẳng trở ngại ǵ, nhưng nơi khác không biết sẽ đâm ra chuốc lấy sự nghi ngờ, dị nghị. Chỉ nên thờ Ngài riêng một chỗ, sáng chiều lễ bái là được rồi!

 

549. Thư trả lời cư sĩ Tŕnh Tiểu Bằng

Quang tự xét ḿnh kém hèn, một mực chẳng xứng làm thầy người khác. Trước kia ông Từ Úy Như đă thấu hiểu ư Quang nên thôi [không xin làm đệ tử nữa]. Sao các hạ vẫn cứ đề cao kẻ kém hèn là cao thượng vậy? Bất đắc dĩ chỉ đành chiều theo ư các hạ. Ví như có người lấy đất nặn tượng, biết rơ là đất, nhưng cúng dường tượng ấy cũng chẳng phải là không được! Dẫu nói ấy là đất ở nơi nọ, muốn trả nó về đúng vị trí th́ cũng chẳng phải là không được! Bỏ hay lấy do nơi người, đất không chọn lựa.

Nay đặt pháp danh cho các hạ là Huệ Nhuận, nghĩa là đem mây mưa trí huệ nhuần thấm khắp chúng sanh khô khao khiến cho họ đều được nẩy mầm pháp, thành tựu đạo quả. Nhưng muốn nhuần thấm khắp hết thảy th́ trước hết phải nhuần thấm trí của chính ḿnh. Nếu lời lẽ, hành vi đều chẳng quan tâm đến th́ chính ḿnh đă khô khao trước, làm sao có thể nhuần thấm hết thảy được? Đấy chính là tấm ḷng mong mỏi của kẻ không chân mong bước lên đường mây. Quang bận bịu đến cùng cực, không rảnh rỗi để thù tiếp; Thượng Hải lắm danh nhân, cần ǵ cứ phải do Quang viết th́ mới có ích ư?

 

550. Thư trả lời cư sĩ Châu Trần Huệ Tịnh

Nhận được thư, biết bà tu tŕ tinh tấn, thệ nguyện rộng lớn, tôi vui mừng, an ủi đến tột bậc. Nói tới giáo hóa người khác th́ chính ḿnh cần phải dốc sức nương theo pháp mà tu tŕ, chứ chẳng phải chỉ chuyên nói xuông. Hết thảy các pháp đều lấy thân làm gốc; như chính ḿnh phụng sự cha mẹ ruột, bố mẹ chồng đều trọn hết ḷng hiếu thảo, đối đăi với anh em trai, chị em ruột, chị em dâu đều bằng tấm ḷng nhường nhịn, yêu thương, mềm mỏng, ḥa hoăn, khuyên nhau làm lành, nhắc nhở nhau sửa lỗi.

Đối với chồng ḿnh ắt phải cung kính, khuyên chồng làm lành, sửa lỗi, giữ ǵn lễ pháp cẩn thận, đừng nên v́ vợ chồng quá mức thân thiết mà buông tuồng không giữ lễ nghi đến nỗi kỷ cương gia đ́nh lỏng lẻo, con cái không có cái để làm gương noi theo!

Đừng buông thả cho con cái, cháu chắt v.v… quen tánh. Lúc chúng vừa mới hiểu biết, liền nói với chúng về đạo lư làm người như: hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ v.v… và nhân quả báo ứng. Từ thuở bé đă biết những đạo lư này th́ khi lớn lên chúng sẽ trọn chẳng dám làm những chuyện sai trái, gian dối, vượt lễ, quá phận.

Thế đạo hiện thời bại hoại đến mức như thế này, nói chung là do những kẻ làm mẹ trong cơi đời chỉ biết yêu thương con cái, chẳng biết dạy chúng thành hiền, thành thiện mà ra! Công đức dạy dỗ con cái cực lớn. Tội lỗi không dạy dỗ con cái cũng cực lớn! Hàng nữ nhân giúp chồng dạy con chính là sẽ có thể làm cho thiên hạ thái b́nh, nhân dân yên vui. Trách nhiệm giúp chồng dạy con của nữ giới cực lớn! Nếu bà có thể chân thật làm được như thế th́ những phụ nữ quen biết bà sẽ đều nh́n theo bắt chước làm lành. Bà lại c̣n chịu dựa theo pháp môn Tịnh Độ [là pháp môn] đơn giản, nhanh chóng nhất do đức Phật đă dạy để khuyên nhủ họ, tâm họ sẽ tự nhiên cảm động, nghe theo lời bà. Nhưng muốn cho họ tin tưởng Phật pháp, trước hết bà hăy khuyên họ trọn hết luân thường đạo lư.

Nữ nhân có chuyện khổ sở lớn nhất là sanh sản; phải khuyên họ kiêng giết, ăn chay. Nếu chẳng thể tự do [ăn chay theo ư muốn] th́ hăy nên bớt ăn mặn. Đừng nhất loạt v́ không thể ăn chay rồi tận lực ăn mặn. Hằng ngày sáng tối tùy theo khả năng của chính ḿnh, hăy đối trước tượng Phật lễ bái, niệm chừng đó câu Phật hiệu. Nếu không có bàn thờ Phật th́ hướng về phía Tây lễ bái cũng được, bởi lẽ, nữ nhân trẻ tuổi không có quyền tự do [dành nhiều thời gian tu tập theo ư muốn].

Ngoài ra, hễ mỗi khi thuận tiện đều niệm, cũng như mỗi ngày niệm Quán Thế Âm Bồ Tát chừng đó tiếng. Chỉ cần chí thành niệm là được, chứ không cần [bày vẽ] bề ngoài. Làm được như thế th́ nghiệp đời trước lẫn nghiệp đời này sẽ đều tiêu diệt. Lúc sanh nở, quyết chẳng bị khổ sở!

Như khi có thai, hăy nên thường giữ tấm ḷng lành, thường niệm Phật hiệu, đừng ăn đồ mặn tanh tưởi, tự nhiên sanh ra con cái đều hiền thiện. Đến khi sanh nở, càng phải chí thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Phàm những người săn sóc sản phụ trong pḥng sanh đều niệm cho người ấy th́ [sản phụ] chắc chắn sẽ sanh nở không đau khổ. Đă thế, chính sản phụ và đứa con vừa được sanh ra sẽ đều gieo đại thiện căn.

Có kẻ chẳng hiểu lư bảo: “Lúc sanh nở lơa lồ, bất tịnh, niệm sẽ mắc tội!” Đấy là chấp lư hẹp ḥi, chẳng biết tới đạo “Lư biến đổi theo Sự”! So với ḷng cha mẹ quan tâm đến con cái, Phật, Bồ Tát coi chúng sanh c̣n thân thiết hơn rất nhiều! Ví như con cái té vào lửa, nước, cầu cha mẹ cứu vớt, cha mẹ liền đến cứu ngay, quyết chẳng v́ [con cái] mũ áo không chỉnh tề, thân thể chẳng sạch sẽ mà không cứu.

Tôi đă bế quan, những thư từ bên ngoài nhất loạt chẳng trả lời. Do bà có tâm muốn độ người, nếu chẳng biết những điều mấu chốt, quan trọng, chắc là [người khác] sẽ chẳng chịu nghe theo. Do vậy, tôi đem những điều quan hệ nhất, dễ gây ḷng tin nhất cho nữ giới để nói với bà ḥng giúp bà khuyên người khác ăn chay, niệm Phật.

Hơn nữa, thế đạo hiện thời là thế đạo hoạn nạn. Nếu chịu chí thành niệm Phật, chắc chắn sẽ được Phật âm thầm gia bị khiến chẳng bị nguy hiểm. Phàm ai bị bệnh tật hoặc gặp chuyện xấu, tai họa, hoặc cầu con cái, đều nên chí thành niệm Phật, quyết định sẽ được như nguyện.

Đối với công khóa th́ tùy theo khả năng của bà, tôi cũng chẳng thể chỉ dạy riêng [bà nhất định phải làm như thế nào]; nhưng cần phải lấy chí thành, cung kính làm căn bản. Cần phải sanh ḷng tin chân thật, phát nguyện thiết tha niệm Phật. Chớ nên có đủ mọi tâm niệm, trừ niệm sáu chữ ấy ra, trọn chẳng có một niệm nào khác trong ḷng nữa (tức là niệm Phật trong tâm). Lại cần phải từng câu, từng chữ niệm cho rơ ràng, nghe cho rơ ràng, lâu ngày chầy tháng tâm sẽ tương ứng với Phật.

Nếu bà nói: “Tự tâm làm Phật, cho nên Phật tâm ấy sẽ độ tự tâm, ta chính là Phật, Phật chính là tâm, tâm chính là Phật”, bậc thượng nói những lời lẽ ấy th́ mới có ích, chứ hạng hạ [mà cũng học đ̣i ăn nói như thế] sẽ mắc lỗi. Chớ nên chú trọng nơi chuyện ấy! Nếu chú trọng nơi ấy, chắc sẽ sanh ḷng đại ngă mạn, bảo: “Ta chính là Phật, cần ǵ phải niệm Phật?”

Cần biết rằng: Do tâm chính là Phật nên đức Phật dạy con người niệm Phật! Nếu tâm hoàn toàn chẳng phù hợp với Phật, như băng giá chẳng thể bỏ vào ḷ để chưng luyện được [th́ Phật đă chẳng dạy con người niệm Phật]! Do bản thể của cái tâm ấy chẳng khác với Phật, cho nên đức Phật dạy con người niệm Phật, dùng lửa trí huệ từ sức thần thông, oai đức của Phật để chưng luyện Phật tâm đang bị xen tạp phiền năo Hoặc nghiệp của phàm phu, ngơ hầu phiền năo Hoặc nghiệp ấy đều bị tiêu diệt, rơi rớt tứ tán, chỉ c̣n giữ lại cái tâm thanh tịnh thuần chân th́ mới có thể bảo: “Tâm tức Phật, Phật tức tâm”. Chưa đạt đến địa vị ấy [dẫu có nói “Tự tâm làm Phật, tâm Phật này độ tự tâm, ta chính là Phật, Phật chính là tâm, tâm chính là Phật”] th́ chẳng qua là dạy về thể tánh [của cái tâm] mà thôi! Nếu luận về Tướng (sự tướng) và Dụng (lực dụng) th́ đều hoàn toàn chẳng phải!

Tâm đức Phật như vàng đă tách khỏi quặng; tâm chúng ta như vàng c̣n nằm trong quặng, tuy có thể tánh của vàng, trọn chẳng có công năng của vàng. Do vậy, v́ “tự tâm là Phật” nên càng cần phải sốt sắng niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Kẻ ngu chẳng biết nghĩa này, nếu không “đề cao thánh cảnh, nhưng tự ở trong địa vị phàm ngu” th́ cũng chấp Lư phế Sự, bảo xằng là đă chứng đạo! Học vấn của bà vẫn chưa thông suốt lắm. Hăy nên dựa theo Gia Ngôn Lục để tu tŕ, sẽ bảo đảm không có chuyện đọa trong tà ma, ngoại đạo. Nếu có sách ấy th́ tốt. Nếu không, hăy hỏi t́m từ nơi [Châu] Mạnh Do, chắc chắn ông ta hăy c̣n.

Quang đă bảy mươi tuổi rồi, tháng ngày chẳng c̣n mấy! V́ thế, cự tuyệt hết thảy để chuyên bế quan. Phúc đáp [thư bà] lần này là phương tiện đặc biệt. Từ nay chỉ nên chiếu theo những ǵ Gia Ngôn Lục, Văn Sao đă nói để chân thật tu tŕ là được rồi, chẳng cần phải gởi thư tới nữa! Trong Gia Ngôn Lục, phàm tất cả những pháp tắc tu tŕ đều đă nói rơ. Chuyên tu Tịnh Độ th́ cần ǵ phải thỉnh khai thị nhiều lần? Dẫu có thỉnh hỏi th́ những ǵ tôi sẽ nói cũng chẳng ra ngoài những điều đă được nói trong cuốn sách ấy đâu!

 

551. Thư trả lời cư sĩ Vinh Bách Vân

Con người sống trong thế gian sau mấy chục năm đă thành người cổ lỗ. Trong mấy chục năm ấy, nếu chẳng nỗ lực tu tŕ th́ nỗi nguy hiểm trong tương lai sẽ chẳng thể nào thí dụ được! Đă phát tâm quy y Tam Bảo, thọ tŕ Ngũ Giới, quả thật là do thiện căn nhiều kiếp tạo thành; nhưng cần phải giữ vững cái tâm ấy, chỉ mong ngày càng thâm nhập, càng tu càng thiết tha. Muôn phần đừng nhất thời cao hứng liền phát tâm rồi lâu ngày chầy tháng sẽ vứt ra sau ót, chẳng đoái hoài tới nữa! Ông tên là Niệm Kiều, Kiều (: cầu) là vật cần thiết để giúp người khác vượt qua [sông, rạch]. Nếu không có cầu th́ đôi bên qua lại khá bất tiện! Pháp môn Tịnh Độ chính là chiếc cầu pháp lớn lao để từ bờ sanh tử này vượt sang bờ Niết Bàn kia. Ông có thể tự hành, dạy người, ta lẫn người đều vượt qua được. V́ thế, tôi đặt pháp danh cho ông là Huệ Độ. Bởi lẽ, nếu có trí huệ th́ sẽ do bờ này vượt lên bờ kia. Nếu không có trí huệ, sẽ vĩnh viễn ở trong biển khổ sanh tử, chẳng thể thoát được!

Đă quy y, thọ giới, hăy nên nghiêm tŕ, đừng phạm. Nếu không, sẽ thành tṛ trẻ con đùa bỡn với Phật pháp, tội lỗi cùng cực! Tâm phải chú trọng cung kính, giữ ḷng thành, đánh đổ những ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa; xử sự ắt phải hiếu thuận, từ bi, nhường nhịn, cung kính, chân thật, không giả dối. Lại cần phải đem lợi ích của Tịnh Độ để trên là khuyên nhủ cha mẹ, dưới là khuyên bảo vợ con, giữa là khuyên lơn anh em, bạn bè, xóm giềng, làng nước. Dù ta hay người đều phải giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính ḿnh, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sinh vật, quư tiếc sanh mạng loài vật, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Nếu làm được như thế th́ mới đáng gọi là đệ tử thật sự của đức Phật. Nếu không, sẽ là hữu danh vô thực, chỉ được cái danh xuông, trọn chẳng có mảy may lợi ích thật sự nào!

Như khi quy y, hăy nên đối trước đức Phật, chí thành lễ bái bao nhiêu đó lạy, đối trước đức Phật tự thưa bày: “Đệ tử con là Huệ Độ, vâng lời thầy con là Ấn Quang dạy con đối trước đức Phật tự thệ thọ Tam Quy, Ngũ Giới. Đệ tử con tên là Huệ Độ, quy y (Phật, Pháp, Tăng), từ nay trở đi lấy (Phật, Pháp, Tăng) làm thầy, trọn chẳng quy y (ngoại đạo, thiên ma, kinh sách của ngoại đạo, tà chúng ngoại đạo)”. Lần thứ hai, lần thứ ba đều chiếu theo đây, chỉ sửa chữ [cho thích đáng] để nói. Nói xong mỗi điều, lễ Phật ba lạy.

Tiếp đó, lại lễ Phật ba lạy. Thọ Ngũ Giới th́ nói: “Đệ tử con tên là Huệ Độ, thề nhận lănh Ngũ Giới. Thứ nhất là chẳng sát sanh. Giống như đức Phật trọn hết tuổi thọ chẳng sát sanh, đệ tử con tên là Huệ Độ cũng trọn hết tuổi thọ chẳng sát sanh”. Điều thứ hai là chẳng trộm cắp. Điều thứ ba là chẳng tà dâm. Điều thứ tư là chẳng nói dối. Điều thứ năm là chẳng uống rượu đều nói giống như thế. Chỉ có điều thứ ba chẳng tà dâm th́ nói: “Như chư Phật trọn hết tuổi thọ chẳng dâm dục, đệ tử con cũng trọn hết tuổi thọ chẳng tà dâm”. Do người tại gia có t́nh vợ chồng mong sanh con cái, chẳng thể đoạn dục nên chỉ ngăn cấm sắc bên ngoài; nhưng nếu đối với thê thiếp của chính ḿnh mà tham vui hoặc làm chuyện chẳng hợp đạo, cũng sẽ giống như tà dâm. Chớ nên không biết [điều này]! [Những điều này đă được] giải thích tường tận trong Văn Sao, hăy đọc kĩ sẽ tự biết rơ, ở đây không viết cặn kẽ!

 

552. Thư trả lời cư sĩ X…

Phật pháp chính là pháp chung cho hết thảy mọi người. Hết thảy mọi người đều có thể tu, đều được lợi ích. Nếu như lời ông nói th́ những kẻ độn căn do chẳng thể thâm nhập biển Giáo sẽ đều chẳng có phần học Phật! Ông ỷ vào trí thức của chính ḿnh hiểu được danh tướng của Tướng Tông, vẫn muốn tạo dựng một Tịnh Độ đạm bạc. Ông thốt lời ấy tức là vẫn chưa từng đọc kinh Phật, mà chỉ [nêu ra những ư kiến] phát xuất từ cái tâm so đo mà ra. Cố nhiên ông thông hiểu giáo lư sâu xa, c̣n Quang là một ông Tăng dê câm mà vẫn chẳng chấp nhận lời ông là đúng th́ thốt lời “thâm nhập biển Giáo” há dễ dàng ư?

Há có phải ông X… v́ niệm Phật mà bị lầm lạc ư? Do ông ta ôm ḷng muốn mau chứng nên bị ma quỷ dựa vào thân; từ đấy xằng bậy bịa chuyện, chưa đắc bảo là đắc, chưa chứng nói đă chứng. Những kẻ học theo ông ta đều coi ông ta là Phật sống, nên ông ta mới có thuyết: “Thành Phật trong một trăm ngày!” Phàm những ai đến gặp, có khi ông ta biết trước tâm họ, có lúc ông ta bị người khác tận mặt dối gạt! Đủ thấy thần thông của ông ta chính là tác dụng của ma quỷ. Hễ quỷ đến th́ có [thần thông], quỷ đi th́ không. Phàm những kẻ thân cận ông ta, có người đă đắc tâm địa thanh tịnh, có kẻ chưa đắc vẫn nói là “đă đắc”, lầm lạc tự xưng là bậc tôn quư, cũng có kẻ phát cuồng chẳng thể chữa lành được. Những kẻ khoe kỳ, ưa lạ trong cơi đời đông lắm, cho nên ông ta mới trổ được ngón nghề ấy. Nếu hết thảy mọi người ai nấy đều nghiêm túc giữ bổn phận th́ ngón nghề xảo quyệt của ông ta chẳng thể nào thi thố được! Hiện nay ông ta đă lên Bắc B́nh (Bắc Kinh), nghe nói có thế lực như kiến bu quạ đậu chẳng kém ǵ ở Thượng Hải!

Đối với ông ta, Quang chẳng tán thán mà cũng chẳng nói lời bài xích; bởi Quang là loại Tăng dê câm, chẳng đủ sức gây ḷng tin nơi người khác để giảm mối nghi cho người ta, chỉ đành “hắn hành pháp của hắn, tôi giữ đạo của tôi!” Túc căn của ông khá sâu. Xem lời ông nói và những ǵ ông dạy người khác, đa số hết thảy những kẻ chẳng biết Phật pháp đều có thể tu, đều có thể được lợi ích. Nếu đối với hết thảy những phụ nữ độn căn, văn lư vẫn chưa thông suốt lắm cứ khuyên họ phải chuyên chú nơi Duy Thức th́ khi Duy Thức chưa truyền đến Trung Quốc, [chẳng lẽ] tri thức Tịnh Độ đều là một lũ hoại loạn Phật pháp, làm cho chúng sanh nghi ngờ lầm lạc ư?

Quang định trong tháng Chín sẽ diệt tung tích, ẩn náu lâu dài, từ nay về sau vĩnh viễn chẳng giao thiệp với hết thảy mọi người để chuyên tu Tịnh nghiệp ḥng khỏi lâm vào cảnh “chẳng liễu trong đời này”, sẽ lại bị lung lạc bởi những tri thức “đă thành Phật” ấy và những kẻ tri thức đả đảo, loại trừ, vứt bỏ Khổng giáo! Xin hăy sáng suốt suy xét!

 

553. Thư trả lời cư sĩ Niệm Phật

Nhận được thư, ông cho biết “quyết ư muốn văng sanh trong năm nay”. Chớ nên chấp trước ư kiến ấy! Hễ chấp sẽ thành bệnh, hoặc đến nỗi có ma sự! Người niệm Phật hăy nên giữ tấm ḷng “được văng sanh ngay trong đời này”. Nếu báo thân chưa măn th́ cũng chỉ tùy duyên. Nếu định kỳ hạn mong muốn văng sanh mà công phu đă thành thục, cố nhiên chẳng trở ngại ǵ. Nếu không, chỉ riêng cái tâm mong cầu ấy đă là cái gốc để thành ma rồi! Nếu vọng niệm ấy kết thành một khối chẳng tháo gỡ được, sẽ nguy hiểm chẳng thể nào nói nổi!

Cho đến hết tuổi thọ, gieo tấm ḷng Thành” chính là đạo chúng ta nên tuân giữ. “Diệt thọ thủ chứng” (diệt trừ thọ mạng để mong chứng đắc) quả thật là lời lẽ bị Giới kinh quở trách sâu xa (Bài kệ cuối kinh Phạm Vơng có đoạn: “Kế ngă chấp trước giả, bất năng sanh thị pháp, diệt thọ thủ chứng giả, diệc phi hạ chủng xứ” (kẻ chấp trước nơi Ngă, chẳng sanh được pháp này; diệt thọ mong chứng đắc, cũng không gieo giống được). Chỉ nên trọn hết ḷng kính, ḷng thành để cầu mau được văng sanh; chớ nên mong muốn được văng sanh đúng như kỳ hạn [theo ư ta] đă định.

Người học đạo tâm chớ nên thiên chấp. Hễ thiên chấp sẽ đến nỗi mất trí điên cuồng; chẳng những vô ích mà c̣n bị hại! Nếu tịnh nghiệp chín muồi, văng sanh ngay bữa nay càng tốt. Nếu chưa chín muồi mà cứ muốn được văng sanh ngay, sẽ trở thành “nhổ mạ để giúp cho nó mau lớn!” Thật sợ rằng hễ ma sự dấy lên, chẳng những chính ḿnh không thể văng sanh được, mà c̣n khiến cho kẻ vô tri đều lui sụt tín tâm, bảo là: “Niệm Phật tổn hại vô ích!” Như ông X… nọ là tấm gương tầy đ́nh, mối hại ấy quả thật chẳng nông cạn vậy! Xin hăy đem cái tâm quyết định [mong được văng sanh] đúng kỳ hạn ấy đổi thành cái tâm “chỉ mong mau được văng sanh”. Dẫu không được văng sanh [mau chóng], cũng chẳng áy náy ǵ, chỉ chí thành chí kính để mong khi hết báo thân sẽ được văng sanh th́ không bị vọng niệm bộp chộp vón cục lại [trong tâm] đến nỗi mắc họa chuốc lấy ma sự!

Trong t́nh thế hiện thời, ai nấy chỉ đành trọn hết tấm ḷng, c̣n cát - hung, họa - phước trong tương lai chẳng thể nào dự đoán được! Nếu có thể kiền thành niệm Phật, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, sẽ có chuyển biến ngấm ngầm, chẳng đến nỗi bị nguy hiểm lớn lao. Nếu chẳng dốc sức nơi việc này, dẫu có dốc cạn mưu mô th́ cũng khó thể đạt được hiệu quả tốt đẹp v́ thời cuộc biến huyễn chẳng thể nào dự liệu được! Những kẻ vinh quư hách dịch một thời mấy chốc sẽ tiêu diệt chẳng c̣n, huống là bọn ta ư? Khổng Tử nói: “Bất tri mạng, vô dĩ vi quân tử dă” (Chẳng biết mạng, chẳng phải là quân tử vậy). Nhưng vẫn phải do cực lực tu tŕ th́ mới nói đến Mạng được! Nếu lười nhác, biếng trễ, mặc sức ngả theo tánh t́nh ươn hèn th́ được hay mất đều chẳng phải là do Mạng vậy!

 

554. Thư trả lời cư sĩ Trí Chánh (Thư thứ nhất)

Nhận được thư đầy đủ. Lợi ích trong Phật pháp chỉ có người đích thân nhận lănh mới biết được: Giặc cướp chẳng vào nhà ông. Trong khi lệnh từ (mẹ) bất tỉnh nhân sự, trong tâm vẫn có thể niệm Phật, ngón tay vẫn lần chuỗi; đấy quả thật là do thiện căn đời trước và do sự tu tŕ trong đời này cảm thành! Hăy nên thường nói về những cảnh vui nơi Tịnh Độ và mọi cảnh khổ trong cơi Sa Bà khiến cho cụ sanh ḷng tin phát nguyện, quyết định cầu sanh Tây Phương, tâm chẳng c̣n một niệm mong cầu phước báo trời người trong đời sau.

 

Hằng ngày, hăy cùng với quyến thuộc gắng hết sức trợ niệm [cho cụ] giống như [cách thức cả nhà thay phiên trợ niệm cho mẹ] trong lá thư tôi gởi cho quan Đạo Doăn Hoàng Hàm Chi trong bộ Văn Sao, th́ chắc chắn cụ sẽ được văng sanh Tây Phương. Làm con báo ân cha mẹ, chỉ có chuyện này là lớn. Xin hăy nỗ lực thực hiện, ngơ hầu vợ con, anh em trai, chị em gái đều hành như thế. Cái gọi là “độ chúng sanh” cũng ở nơi ấy, mà đôn đốc luân thường cũng nằm tại đấy; c̣n những điều khác th́ hăy đọc kĩ Văn Sao.

Ông Từ [Tử Hỗn] bị ma dựa là do tà - chánh chẳng phân, coi tà là chánh, tưởng chánh là tà mà ra. Nếu có thể y theo lời Quang nói, [ma sự] sẽ tự mau tiêu diệt. Xin hăy chuyển lời và chỉ bày lợi - hại cặn kẽ, ngơ hầu ông ta sẽ dẹp được tà ma, đạt được lợi ích chân thật!

 

555. Thư trả lời cư sĩ Trí Chánh (Thư thứ hai)

Những ǵ ông đă nói chính là bệnh chung của hết thảy mọi người. Muốn trị bệnh ấy, nếu không tưởng niệm cảnh khổ sẽ không xong! Kinh dạy: “Nghĩ tới nỗi khổ trong địa ngục, phát Bồ Đề tâm”, nhưng do chưa từng đích thân trông thấy sự khổ trong địa ngục, kẻ thiếu thiện căn vẫn chưa thể nhanh chóng phát tâm xa ĺa, tránh né được! Thiết yếu nhất là hăy tưởng lúc quân đội hai bên giao chiến: Tiếng đại bác rền như sấm, đạn bay như mưa, phi cơ ném bom bên trên, địa lôi (ḿn) ở dưới cùng lúc nổ rền th́ quân đội đôi bên đều tan thân, nát xương, bắn tung tóe theo mảnh đạn pháo, hóa thành chẳng c̣n ǵ! Ta cũng đích thân dự vào trong ấy; nhưng ngay trong lúc sắp phát nổ hay chưa nổ, c̣n biết chú trọng niệm Phật cầu sanh. Lúc ấy hoảng sợ muôn phần, nhưng các sĩ quan chỉ huy đều cầm vũ khí, chẳng dám lười nhác chút nào, hễ lười sẽ phải chết ngay. Lúc ấy, trọn chẳng đến nỗi bị sự vụ buộc ràng, bị ḷng sợ hăi gây trở ngại khiến cho chẳng thể niệm Phật được! Thứ cảnh giới ấy chẳng bằng được một phần vạn [nỗi khổ] trong địa ngục, nhưng do tâm lực phàm phu có thể nghĩ tưởng được [cảnh đáng sợ ấy, nên dạy họ nghĩ tưởng cảnh chiến tranh]. Khi nghĩ đến sẽ run sợ, [cảm thấy] rét thấu xương, lông trên thân dựng đứng cả lên như đích thân ta đă từng trải [cảnh ấy] vậy. Ông lười nhác là do chẳng xét kĩ nỗi khổ trong đời vị lai. Nếu suy nghĩ tường tận, sẽ trọn chẳng đến nỗi lười nhác lâu dài.

 

C̣n như [ông than thở] bị sự việc lôi kéo, đấy cũng là cách nói lấp liếm thói hờ hững, hời hợt, chứ đâu phải là thật t́nh! Nay tôi nêu một thí dụ: Như đứa con hiếu thảo nghĩ đến cha mẹ, tuy phải thù tiếp cả trăm chuyện với người khác, trong tâm vẫn thường có ư niệm nghĩ đến cha mẹ, chẳng thể tạm quên. Lại như kẻ tham dâm thường nghĩ đến gái đẹp; tuy suốt ngày luôn bận việc, nhưng cái tâm mơ tưởng gái đẹp chẳng thể quên mất một khắc nào! Nếu ông có thể giống như kẻ lâm trận muốn thoát khổ, như đứa con hiếu nghĩ đến cha mẹ, như gă dâm say đắm phụ nữ th́ trong hết thảy thời, hết thảy chỗ đều có thể niệm Phật chẳng gián đoạn. Những thứ pháp tắc khác trong Văn Sao đều có đủ, chỉ nên đọc kĩ, suy nghĩ cặn kẽ sẽ hiểu được, cho nên không nói nhiều nữa!

 

556. Thư trả lời cư sĩ Trí Chánh (Thư thứ ba)

Hết thảy phàm phu đều có hai căn bệnh: một là cuồng vọng, hai là ngu si!

1) Cuồng vọng là cho rằng: “Ta vốn là Phật, cần ǵ niệm Phật nữa? Tâm tịnh th́ cơi nước tịnh, cần ǵ phải cầu sanh Tịnh Độ?” Điều này thuộc về thói chấp Lư phế Sự. Thói tệ ấy dẫn tới thói bài bác, cho là không có nhân quả, hoại loạn Phật pháp, gây nghi ngờ lầm lạc cho chúng sanh. Người này ắt đọa địa ngục A Tỳ, vĩnh viễn không có thuở thoát khỏi! Do nhân lành mà chuốc phải quả ác, thật đáng thương thay!

2) Ngu si là cho rằng: “Ta là phàm phu, sao dám vọng tưởng liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh?” Chẳng biết: “Một niệm tâm tánh của chính ḿnh chẳng hai, chẳng khác với một niệm tâm tánh của chư Phật. Chỉ v́ phiền năo Hoặc nghiệp chướng lấp đến nỗi công đức của Phật tánh sẵn có trong tâm này chẳng thể hiển hiện được!” Ví như tấm gương đồng lớn quư báu bị bụi phủ cả kiếp, kẻ trí biết là gương báu, kẻ ngu cho là vật đáng vứt đi.

Phật thương chúng sanh mê muội tự tâm, dạy họ niệm Phật cầu sanh Tây Phương v́ rất quư tiếc Phật tánh sẵn có của chúng sanh, sợ họ vĩnh viễn mê mất, nên dạy họ sanh ḷng tin, phát nguyện, niệm Phật cầu sanh Tây Phương, ngơ hầu đích thân chứng được Phật tánh sẵn có ấy. Nếu chẳng cầu sanh Tây Phương, chỉ cầu “tiêu tai và chẳng mất thân người” th́ có khác nào đem bảo châu Ma Ni vô giá đổi lấy một thẻ đường để ăn. Kẻ ấy ngu si đáng thương, chẳng biết tốt - xấu thật là bậc nhất! Hăy nên đem ư này nói với mẹ ông, cụ sẽ chẳng nảy sanh cái tâm kém hèn như đă nói trên đây! (Tôi vốn tính nói với ông, nhưng v́ ngữ ư bất tiện nên Quang sẽ nói trực tiếp với mẹ ông vậy)

 

557. Thư trả lời mẹ cư sĩ Trí Chánh

Bà đă quy y Phật pháp niệm Phật th́ hăy nên y theo lời Phật dạy để hành. Phật dạy bà cầu sanh Tây Phương, nhưng bà thiên chấp, chẳng chịu cầu sanh Tây Phương, cứ khăng khăng muốn cầu [phước báo trong] đời sau! Nay bà đă sống được mấy chục năm rồi, chẳng biết đă trải qua bao nhiêu tai nạn: đao binh, lũ lụt, hạn hán, đói kém, tật dịch v.v… Nếu chưa gặp Phật pháp, chẳng biết phương cách thoát ĺa th́ sẽ chẳng có phương pháp ǵ, chỉ đành phó mặc luân hồi sau khi đă chết! Nay đă gặp được Phật pháp, lại c̣n quy y làm đệ tử Phật, mà vẫn cứ chấp nhặt chẳng tin lời Phật, mặc t́nh chấp vào ngu kiến của chính ḿnh, suy nghĩ lung tung, mong đời sau vẫn được làm người!

Bà phải hiểu: “Đời sau sẽ được làm người c̣n khó hơn lâm chung văng sanh!” V́ sao vậy? Những tội nghiệp đă tạo trong suốt một đời người chẳng biết là bao nhiêu! Khoan đừng nói bà có tạo những tội khác hay không, [chỉ riêng] cái tội ăn thịt giết hại sanh vật từ nhỏ đến lớn, quả thật đă nhiều khôn xiết kể rồi! Bà phải phát tâm đại từ bi, cầu sanh Tây Phương. Đợi sau khi thấy Phật đắc đạo sẽ độ thoát những chúng sanh ấy; cậy vào Phật từ lực để có thể chẳng phải đền trả món nợ ấy!

Nếu bà cầu [phước báo] đời sau th́ không có đại đạo tâm. Dẫu công phu tu hành tốt đẹp nhưng công đức hữu hạn; bởi đă dùng cái tâm phàm phu nhân ngă (tâm phân biệt ta - người) để tu tập, cho nên chẳng có công đức lớn lao! Huống chi, từ vô lượng kiếp đến nay, chẳng biết bà đă tạo bao nhiêu tội nghiệp? Nếu túc nghiệp phát hiện, nhất định khó trốn khỏi tam đồ, ác đạo. Mong lại được làm người sẽ thiên nan, vạn nan! Do vậy, nói: “Cầu sanh Tây Phương c̣n dễ hơn cầu đời sau lại được làm người!” Do cậy vào Phật lực gia bị, nên ác nghiệp đời trước dễ tiêu. Dẫu chưa thể tiêu hết, nhưng cậy vào Phật lực nên chẳng đến nỗi phải trả báo.

Phật nói: Trong thế gian có hai loại tội nhân. Một là phá giới, hai là phá kiến. Tội phá giới c̣n nhẹ, chứ tội phá kiến rất nặng”. Thế nào gọi là “phá kiến?” Chính là như bà đă nói: “Cầu đời sau, chứ chẳng cầu văng sanh!” Ấy chính là chấp trước tà vạy, tri kiến sai lầm; đấy chính là tà kiến phá hoại Phật pháp và dẫn dắt hết thảy mọi người khởi lên những chấp trước tà vạy, tri kiến lầm lạc. Tội ấy cực lớn, cực nặng, v́ tâm trái nghịch với Phật, lại c̣n gây lầm lẫn cho hết thảy mọi người!

Tôi nói những lời này, bà đừng nghĩ là tôi bịa chuyện gạt gẫm bà! Tôi muốn gạt bà th́ phải nhằm đạt được điều ǵ đó! [Đằng này], tôi chẳng v́ danh lợi, thế lực, lại khơi khơi gạt gẫm bà vốn là một bà lăo trọn chẳng biết ǵ, chỉ gặp mặt một lần, há tôi chẳng trở thành một gă si ngốc hay sao? Do bà tin tưởng tôi, coi tôi là thầy; con bà nói với bà, bà không tin, liền cậy tôi nói với bà, muốn cho bà được liễu sanh thoát tử ngay trong đời này, vĩnh viễn ĺa khỏi hết thảy các nỗi khổ trong thế gian, thường hưởng hết thảy sự vui trong Cực Lạc. Bà phải biết tốt - xấu! Tôi đă nói với bà như thế, nếu bà chẳng nghe, vẫn chiếu theo tâm tướng ngu si của chính ḿnh th́ là vong ân phụ nghĩa! Đừng nói bà đă cô phụ ân Phật độ chúng sanh, mà c̣n phụ bạc tôi một phen khổ tâm chẳng tiếc tinh thần nói với bà rất nhiều lời như thế này!

Bà phải nên phát khởi cái tâm quyết định cầu sanh Tây Phương. Lại phải dạy con cái, dâu, cháu, và thân thích, bằng hữu đều cùng phát tâm quyết định văng sanh Tây Phương ngay trong đời này; đem công đức dạy người ấy phụ trợ cho công đức tu tâm của chính ḿnh. Khi lâm chung, liền được A Di Đà Phật đích thân tiếp dẫn bà lên phẩm vị tối thượng nơi đài sen chín phẩm. Nếu tôi gạt bà tức là Phật gạt người. V́ sao vậy? Tôi nương theo ư Phật để nói với bà. Há có lẽ nào Phật lại gạt người ư? Bà hăy nên bỏ hết những tâm tri kiến kém hèn từ trước th́ chắc chắn sẽ được văng sanh Tây Phương!

 

558. Thư trả lời cư sĩ Từ Tử Hỗn

Đọc thư của các hạ, biết các hạ là một vị quân tử đức dầy. Điều đáng tiếc là chẳng phân tà - chánh! Thoạt đầu, lầm lẫn tưởng pháp được truyền bởi Đồng Thiện Xă là Phật pháp, chẳng biết đấy là pháp luyện đan vận khí để dưỡng thân thể nhằm mong sống lâu, tăng tuổi thọ, lầm lạc mong mỏi thành tiên! Họ nói đến “tịnh tọa, dụng công” đều là dùng công phu vận khí, trọn chẳng có hơi hướng Phật pháp, xằng bậy bảo đấy là Phật pháp! Ví như đem mắt cá coi là trân châu để rồi quư trọng, cho là kỳ trân (hiếm lạ, quư báu)! Đến khi các hạ đọc Văn Sao, tuy đă thật thà niệm Phật, rốt cuộc vẫn chẳng chịu bỏ cách luyện đan vận khí, vẫn tưởng đấy là Phật pháp! [Như vậy là] miệng tuy niệm Phật, trong tâm vẫn chú trọng ngoại đạo!

Ngoại đạo đều lấy những thứ cảnh giới thần kỳ, quỷ quái, để mê hoặc người khác! Nếu các hạ đă biết Phật pháp, tận t́nh vứt bỏ pháp luyện đan đă tu, th́ chánh niệm trong tâm sẽ rạng ngời như mặt trời rực rỡ giữa hư không; nào c̣n có chuyện lỵ - mị - vơng - lượng giở tṛ tác quái nữa! Tâm địa các hạ chánh đại quang minh th́ bọn yêu ma quỷ quái kia sẽ tự chẳng c̣n chỗ đứng! Do các hạ coi tà là chánh, luôn lầm lạc muốn đắc thần thông, mong có khả năng tiên tri, nên chiêu khởi ma quỷ hiện xằng tướng yêu ma nơi thân ông. Tuy ông tà - chánh chẳng phân, nhưng vẫn chưa hoàn toàn nghĩ những tướng yêu mị của ma quỷ là đúng cho nên vẫn c̣n cứu được! Nếu tưởng đấy là đắc đạo, đắc thần thông th́ muốn chẳng bị chết v́ ma cũng chẳng thể được! Nguy hiểm đến cùng cực!

Ông đă hỏi Quang th́ hăy nghe theo lời Quang. Từ nay trở đi, những công phu đă tập tành từ trước đều hoàn toàn vứt bỏ, tâm chẳng c̣n có một tơ tóc trân quư [những pháp ấy nữa]! Hăy chí thành, khẩn thiết sanh ḷng tin phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương, thân - khẩu - ư ba nghiệp hăy nên chuyên chú vào tu tŕ Tịnh nghiệp. Trong tâm ông đă không có tà kiến, lại c̣n có oai đức thần lực của danh hiệu Phật th́ lũ ma quỷ kia sẽ trốn chạy c̣n không kịp, nào dám lưu lại giây lát để gây chướng ngại cho ông ư?

Chúng nó gây chướng ngại là do tà tâm của ông cảm vời! Ví như chủ nhân dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa, lời lẽ lẫn hành vi đều hợp với đạo Thành - Minh th́ những gă ám muội tiểu nhân có hành vi phóng túng, tà vạy, xa xỉ, buông lung, không kiêng sợ làm sao dám lên điện đường của người ấy, dám vào trong nhà của người ấy cho được? Như dưới ánh sáng lớn lao, trọn chẳng có tối tăm; trong khi nắng gắt, trọn chẳng có băng, sương!

Ông đă hoàn toàn nương theo Tịnh Độ để tu tập th́ chẳng cần phải coi những điều mong mỏi [như đă nêu] trong phần trước là đúng, sẽ như vị chủ nhân sáng suốt, tỉnh ngộ, biết chúng là giặc th́ chúng sẽ tự tránh xa. Nếu tưởng chúng nó là người trong nhà của chính ḿnh th́ chúng nó sẽ thành chủ nhân, nhập vào tâm khiếu của ông, khiến cho ông bị ma dựa phát cuồng đến nỗi táng thân mất mạng! Bất luận chúng nó là hồ ly, là ma, hay là oán gia đời trước, chỉ nên phát Bồ Đề tâm, tŕ danh hiệu Phật, chúng sẽ bị tiêu diệt. Nếu như chẳng tiêu th́ trời đất sẽ đổi ngôi, mặt trời, mặt trăng sẽ xoay ngược!

Điều đáng lo là tâm ông chẳng nương theo chánh lư, vẫn giữ những tà tri tà kiến trước kia; đừng bảo lời Ấn Quang nói chẳng linh, dẫu là lời chư Phật nói cũng chẳng thể linh được! Bởi căn bản đă là tà th́ chánh không có cách nào thi thố được! Viết ra những điều này, mong ông hăy thấu hiểu rơ ràng th́ may mắn lắm thay!

Văn Sao đă nêu đủ pháp tắc tu tŕ, ở đây không viết cặn kẽ nữa! Phàm khi tịnh tọa, trong tâm chỉ nên thầm niệm Phật hiệu, ngoài ra chẳng thêm vào một công phu hay một ư niệm nào khác! Lâu ngày chầy tháng, toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm, tâm - Phật bất nhị, tâm - Phật như một. Hỏi xem có loại Thiền Định nào đạt được sự sâu mầu như thế hay chăng? Có công phu nào cao thượng như thế hay chăng? Nếu các hạ y theo đây để tu, đảm bảo nghiệp chướng tiêu diệt, phước huệ tăng trưởng, trong hiện đời khi c̣n sống liền dự vào bậc thánh hiền, lúc lâm chung lên thẳng cơi Cực Lạc!

 

559. Thư trả lời cư sĩ Duy Phật

Ông đă phát nguyện chân thật, thiết tha, nhưng cần phải “dè dặt, kinh sợ như vào vực sâu, bước trên băng mỏng” giống như Tăng Tử. Chưa đến lúc sắp về Tây, quyết chẳng dám buông tâm lỏng ư th́ mới được! Năm sáu năm trước, ông X… đă thư từ qua lại và gởi bài văn phát nguyện hết sức chân thành, thiết tha. Quang nghĩ ông ta ở ẩn khuất trong vùng núi non, lại c̣n nghèo hèn, bèn gởi rất nhiều kinh sách cho ông ta. Những người trong vùng ấy do được ông ta khuyên dạy mà niệm Phật khá đông, nhưng một hai năm gần đây, ông ta đúng là kém hèn chẳng thể kham nổi: Hút thuốc phiện, phạm tà dâm! Quang đă cảnh tỉnh, khuyên răn ông ta suốt nửa năm nhưng vẫn không thay đổi, hối hận. Đúng là hạng chuyên đợi vào địa ngục!

Ông nói: “Tùy thời, tùy chốn, hễ chết được liền chết”. [Câu nói ấy] vừa là căn bản để cầu văng sanh mà cũng là cội rễ để chiêu cảm ma! Cố nhiên, ai nấy đều phải chết, nhưng chớ nên có cái tâm chấp trước cầu chết, cầu mau văng sanh, chỉ nên nhất tâm niệm Phật! Nếu chẳng nhất tâm niệm Phật, chỉ cầu mau chết, ắt sẽ chiêu khởi oán gia từ vô lượng kiếp kéo đến, khiến cho ông bị chết ngang trái. Chẳng những không được văng sanh mà đến khi sắp chết, sức [thần thông do] ma [gia tŕ sẽ] rời đi, [khi ấy] sẽ khổ sở chẳng thể kể xiết, sẽ sanh tà kiến, ắt đến nỗi đọa lạc. Chớ nên có cái tâm chấp trước ấy! Hễ có th́ chính là bệnh, chớ nên không biết!

Nói đến chuyện sư Bảo Nhất và cư sĩ Vô Sanh th́ trong tâm mỗi người ấy đều có một phần ham danh. Nếu không, quyết chẳng chịu đem những cảnh giới ấy viết ra để khoe với mọi người! Huống chi [sư Bảo Nhất] c̣n phê [vào đầu cuốn Tự Tri Lục] đề cao [nội dung cuốn sách] đến tột cùng ư? Do vậy, có thể suy ra biết họ là hạng người như thế nào rồi! Nếu cuốn sách ấy được lưu hành rộng răi th́ kẻ chẳng hiểu tự tâm, chẳng thông giáo lư ắt sẽ phần nhiều bị ma dựa phát cuồng. Đinh Quế Tiều gởi đến, tôi xem qua liền gởi trả lại, chẳng giữ một cuốn nào. Do tôi thiết thực bảo ban điều họa hại nên ông ta không tái bản. Ông Vương Mưu Phụng ở Hàng Châu cũng muốn xin Quang nói lời quyết đoán; Quang cũng đem những lời đă bảo Quế Tiều để nói [với Mưu Phụng].

Những cảnh giới do người phụ nữ ấy kể đương nhiên có đôi phần, nhưng phô trương quá lố, rốt cuộc trở thành đem phàm lạm thánh! Nếu chân thật đạt được [cảnh giới] như vậy, há lẽ nào chẳng biết lời lẽ ấy sẽ khiến cho người khác bị lầm lạc ư? Bà ta đă không có kiến địa ấy th́ chỗ tương ứng như bà ta đă khoe [trong sách] chắc chắn chỉ là “vừa được chút phần đă khoe toáng thành nhiều” mà thôi! Nếu không, đă đạt đến Phật cảnh, há có chuyện chẳng hiểu rơ tri kiến phàm t́nh ư? Chúng ta chỉ nên thật thà niệm Phật, chỉ cầu lâm chung được văng sanh là được rồi; c̣n trong đời hiện tại như thế nào th́ cứ để như thế đấy, mặc cho “nước chảy thành suối, xuân đến hoa nở”. Nếu cứ mong tưởng sẵn, sẽ trở thành chướng ngại đấy! [Bởi lẽ, mong tưởng sẵn] sẽ giống như cắt đứt nguồn nước mà muốn [nước chảy] thành suối, đang trong lúc tiết Đông rét căm căm lại mong hoa nở. Nếu được như vậy sẽ là chuyện quái đản!

Một bộ sách Tứ Thư chính là rường cột cho Ngũ Kinh. Phàm đạo “cách vật, trí tri, thành ư, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ” không ǵ chẳng trọn đủ. Tiếc cho người đời toàn là đọc sách chứ không học đạo! Cho nên đến nỗi suốt đời đọc sách mà vẫn chẳng biết phải nên làm chuyện ǵ! Thoạt đầu chỉ biết lấy tập tành viết văn đề thơ làm căn cứ, nay th́ bỏ luôn, chỉ học theo sách giáo khoa. Ví như bỏ bảo châu Ma Ni để coi trọng mắt cá. Do vậy, thiên tai nhân họa ngày càng thấy liên tiếp [xảy ra]. Do cái gốc đạo đă bị chôn vùi, lập tức kiến giải bị rối loạn, mất mát!

Phàm chuyện ǵ cũng đều nên xét theo thời thế để luận. Quy củ thơm thảo thời đức Phật làm sao có thể áp dụng trong đời này được? Người đời nay lưu thông kinh tượng không phải là trọn chẳng có lợi ích ǵ, nhưng mỗi một chuyện đều chẳng thể nào đạt được công đức lớn lao như đức Phật đă dạy được! [Trong thời đức Phật tại thế], “kinh tượng chủ” chính là người phát tâm tạo kinh tượng. Nếu gọi là “người đứng ra thuê kẻ khác làm” tức là coi thường người ấy. Người thợ tạo kinh tượng cũng chớ nên tự khinh, v́ thế nói: “Đừng bảo là do khách [thuê mướn] mà làm!” [Người] tạo kinh tạc tượng nhận được những món vật [do vị kinh tượng chủ biếu tặng] nhằm đền đáp [công lao chép kinh, tạc tượng], nhưng do người kia (tức kinh tượng chủ) đă đem ḷng Thành dâng lên nên tâm của người này (tức người chép kinh tạc tượng) cũng đừng phân biệt nhiều - ít, cứ nhận lấy. [Như vậy] th́ sẽ chẳng giống như đi mua [tượng Phật, thuê chép kinh Phật]. Nếu [người thợ chép kinh tạc tượng] bàn tán về giá trị [của vật được biếu tặng có xứng với công lao chép kinh tạc tượng hay không] th́ chẳng khác ǵ [vị kinh tượng chủ] đă mua hay thuê làm vậy! Trong thời hiện tại, nếu chấp trước chuyện này [phải theo đúng quy cách như thế] th́ muốn kinh tượng chẳng bị diệt sẽ chẳng thể được đâu!

Ông học Phật nhưng chẳng biết đạo “nhân thời thế mà thích nghi”, chấp chết cứng vào quy củ đă được thành lập. Như vậy th́ có khác ǵ kẻ do chẳng thể hành đạo của Khổng - Mạnh bèn chẳng chấp thuận cho lưu hành sách của Khổng - Mạnh đâu? Chúng sanh đời Mạt Pháp, [đối với những điều đức Phật đă dạy] trong trăm ngàn vạn phần, dẫu chỉ đạt được một hai phần th́ cũng đủ để tự lợi, lợi tha. Chứ nếu cứ muốn hoàn toàn y theo như lời Phật đă dạy th́ dù đức Phật có hiện thân trong thời này, chắc chắn cũng chẳng thể làm được!

Tu Tịnh Độ chỉ luận Tín - Nguyện - Hạnh; bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) có đúng pháp hay không, đâu có liên quan tới Thiền Đường? Những kẻ chỉ noi theo khuôn sáo rỗng tuếch của Thiền Đường rồi thực hiện công phu trong Thiền môn, kiến địa giống như vậy th́ nào đáng để bàn Thiền - Tịnh với họ nữa ư? Vậy mà ông cứ dựa theo đấy để rồi sanh ḷng nghi! Hằng ngày đọc tụng ngôn luận của cổ nhân nhưng đều chẳng sanh ḷng tin sâu xa, chỉ lấy [những hành vi, cách cư xử] người đời nay [làm khuôn mẫu] để phỏng theo, há chẳng phải là phường “chấp vào đức nhưng chưa thể thực hiện rộng răi, tin đạo nhưng chẳng chuyên dốc” hay sao? Người học đạo ai nấy đều phải tùy theo khả năng của chính ḿnh mà tu tŕ, sao lại lập ra một quy củ hẹp ḥi để buộc hết thảy mọi người phải lầm lạc vâng giữ vậy? “Lương dă chi tử, tất học vi cầu, lương cung chi tử, tất học vi cơ” (Đứa con của người thợ kim hoàn giỏi, trước hết phải học may bao da. Đứa con của người thợ làm cung giỏi, trước hết phải học đan sọt), là v́ [những việc tập luyện ấy] gần gũi [với cái nghề khéo sẽ học] vậy. Người thợ kim hoàn quán Bất Tịnh, người thợ giặt quán Sổ Tức, đều chẳng được lợi ích! Thay đổi phương pháp th́ người nào cũng đều được lợi ích v́ giáo pháp phù hợp với căn cơ vậy.

Đang trong thời thế này, dẫu là bậc thánh nhân thần thông muốn cứu nước cứu dân mà bỏ nhân quả báo ứng, sanh tử, luân hồi và tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương sẽ đều chẳng thành công. Kẻ nói lan man những lời lẽ của một hai vị tri thức thuộc tông khác mà hắn tôn sùng vẫn chẳng thể lay động, biến chuyển tâm ta được! Dẫu cho đức Như Lai hiện thân trọn hư không khắp pháp giới nói các thứ diệu pháp rất sâu khác, cũng chẳng thể lay động, biến chuyển tâm ta được! V́ sao vậy? Do lư sự quyết định không nghi! Ông đă nêu câu hỏi như vậy th́ c̣n đáng gọi là “đă có ḷng tin quyết định” hay chăng? Triệt tổ (tổ Triệt Ngộ), Tỉnh tổ (tổ Tỉnh Thường) trước tác ít, nhưng cũng đủ để khiến cho người khác dấy ḷng phát nguyện. Cố nhiên, chẳng thể lấy trước tác nhiều hay ít để phán định đạo đức hơn - kém được! Xưa nay có nhiều vị Pháp Thân thị hiện, chỉ nói vài câu ít ỏi, không để lại trước tác ǵ, [những vị như vậy] nhiều lắm! Há có nên sanh ḷng nghi nơi chỗ này?

Cần biết rằng: Chúng ta muốn liễu sanh tử, quả thật chẳng cần nhiều; chỉ cần một điều là “ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, niệm Phật cầu sanh Tây Phương” là đủ rồi! Dẫu đọc hiểu trọn hết Đại Tạng cũng chẳng qua là nhằm thành tựu chuyện này mà thôi! Như vậy th́ “nhiều cũng quy về ít, ít cũng thuộc về nhiều”. Nhiều hay ít đều cùng nhằm thành tựu chuyện này mà thôi! Như vậy là “nhiều chẳng phải là nhiều, ít chẳng phải là ít”.

Chuyện phóng sanh cố nhiên công đức không chi lớn bằng, nhưng cần phải giữ tấm ḷng phóng sanh, siêng năng khẩn thiết khuyên lơn kẻ hữu duyên kiêng giết, phóng sanh, ăn chay, niệm Phật th́ sẽ phóng (thả) được nhiều mà chẳng tốn kém tài lực. Hai điều ấy cùng hành sẽ là hữu ích nhất.

Dán Phật hiệu trên tường vừa hữu ích vừa mắc tội lỗi. Nếu dán th́ cũng phải nên dán như thế nào cho nó được tồn tại lâu dài. Nếu dán ở nơi đất trống mà chẳng dùng loại keo dán tốt th́ hai ba ngày sẽ bị rớt trong bùn lầy, hoặc bị những tờ cáo thị của người khác dán chồng lên. Chuyện này cũng chớ nên làm cẩu thả. Ba vị sư khổ hạnh khiến cho người ta khâm phục, v́ thế lúc lâm chung vị nào cũng được lợi ích thật sự. Do vậy, người tu hành phải giấu kín tài năng vậy!

 

560. Thư trả lời cư sĩ Giang Hữu Truyền

Nhận được thư, biết ông đă có thiện căn Tịnh Độ từ đời trước, cho nên vừa nghe liền tin nhận. Tu tập Tịnh Độ tùy phần tùy sức, há cứ phải bỏ sạch muôn duyên th́ mới tu tŕ được ư? Ví như đứa con hiếu nghĩ đến mẹ hiền, gă dâm mơ tưởng gái đẹp, tuy hằng ngày bận bịu trăm bề, một niệm ấy chẳng lúc nào quên bẵng. Người tu Tịnh Độ cũng phải giống như thế, mặc cho hằng ngày công việc bận bịu tơi bời, quyết chẳng để tâm quên lăng niệm Phật th́ sẽ đạt được yếu quyết. Nói đến ông X… th́ ông ta là phường luyện đan vận khí. Đă nói “quy y Tam Bảo” cố nhiên nên vứt bỏ những thứ công phu ấy ra ngoài. Không phải là người niệm Phật không được tịnh tọa, nhưng khi tịnh tọa vẫn niệm Phật. Ông ta khoe công phu tịnh tọa hữu hiệu th́ đấy là nói về sự hữu hiệu do luyện đan vận khí! Ông chẳng biết công phu tịnh tọa như hắn ta đă nói là công phu ǵ cho nên vẫn tiếp tục tập luyện.

Nếu tuân theo chánh lư, đă tu Tịnh nghiệp th́ phải nương theo lời Phật dạy! Nếu kiêm tu [pháp luyện đan vận khí] th́ tà - chánh xen tạp, chắc sẽ đến nỗi có các ma sự. Bởi lẽ, ngoại đạo luyện đan để mong xuất hồn. Nếu vẫn giữ ư niệm ấy sẽ có hại chẳng nhỏ! Nếu luận về luyện đan th́ pháp ấy cũng chẳng phải là vô ích, nhưng tông chỉ của nó hoàn toàn trái nghịch với Phật pháp. Phật dạy con người thấy thấu suốt cái thân huyễn vọng này, bọn họ dạy con người giữ ǵn thân tâm huyễn vọng này (Xuất hồn chính là huyễn tướng do vọng tâm kết thành). Ông ta đă tín nguyện niệm Phật, hăy nên tuân theo tông chỉ Tịnh Độ; nếu ông ta chú trọng luyện đan, cần ǵ phải mạo danh Tịnh Độ?

Những sách vở ông đă nói đến hiện thời không c̣n, đợi đến tháng Mười Một hoặc tháng Mười Hai sẽ có bản in mới của Văn Sao và Thọ Khang Bảo Giám, sẽ gởi đến cho ông. Tháng Giêng hay tháng Hai trong mùa Xuân năm sau, sẽ có Gia Ngôn Lục, Di Đà Bạch Thoại Chú v.v… được gởi đến. Xin đừng lo. Hăy nên đem lời Quang nói với ông X… th́ may mắn lắm thay!

 

561. Thư trả lời Phước Châu Phật Học Xă

Hôm mồng Sáu tôi nhận được thư của ông Trần Sĩ Mục gởi đến, trong ấy có thư xin quy y của các vị. Ngoài ra c̣n có hai cuốn sách ghi chép những chuyện chánh yếu và tông chỉ hành tŕ đại cương [của Phật Học Xă]. Tôi biết quư vị đều có tâm chánh tín, thực sự tu tŕ, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Nhưng Quang vốn là một Tăng sĩ b́nh thường chỉ biết cơm cháo, chỉ biết học đ̣i ngu phu ngu phụ thật thà niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Nếu tưởng là Quang có kiến địa lẫn hành tŕ cao siêu huyền diệu người khác chẳng mong sánh bằng th́ quư vị đă hiểu lầm mất rồi! Xem thư quư vị gởi đến và chương tŕnh đă lập, tựa hồ gần giống như mức nhận lănh tâm tướng của Quang. Quang tự biết ḿnh kém hèn, nông cạn, trọn chẳng muốn làm thầy người khác, nhưng người ta đă từ xa gởi thư đến cầu xin, cũng chỉ đành đem lầm đáp lạc!

Hiện nay đang nhằm thời Mạt Pháp. Muốn đẩy lùi con sóng cuồng loạn cực lớn, cực nguy hiểm này, ắt phải chú trọng luân thường, tận tụy thực hành th́ mới đạt hiệu quả được. Nếu chẳng dốc sức vào giáo dục gia đ́nh, nhân quả, báo ứng, giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận, đừng nói kẻ chẳng biết Phật pháp sẽ không thể do đâu đạt được lợi ích; dẫu là kẻ biết Phật pháp chắc cũng mắc thói tệ “nói một đằng, làm một nẻo!” Con người như thế tuy bảo là học Phật, nhưng thật ra là oan gia của Phật, bởi dùng thân để báng pháp vậy!

Phàm ai dự vào liên xă, ắt phải dạy họ hành hiếu, hành đễ, cũng như thực hiện hết thảy những chuyện đáng làm, trong tâm ắt phải dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa, dè dặt, cẩn thận ngay cả khi không có ai trông thấy, sợ hăi ngay khi cả chẳng có ai nghe thấy. Người làm được như thế th́ mới là thiện nhân trong thế gian, mới có thể học pháp xuất thế. Ví như nền đất vững vàng th́ tùy ư xây dựng lầu cao muôn trượng, chẳng lo nghiêng ngửa, sụp đổ. Từ đấy, phát tâm chí thành tu tŕ Tịnh nghiệp. Ắt phải quyết định cầu sanh Tây Phương, trọn chẳng cầu phước báo trời người trong đời sau.

Lợi ích thật sự trong Phật pháp ắt phải dùng chí thành để đạt! Bất luận niệm Phật hay xem kinh đều phải chí thành, cung kính. Đừng nên học theo kẻ viên dung không chấp trước! Nếu không, sẽ v́ phóng túng không kiêng dè mà trở thành phường cuồng vọng, ma mị.

Hơn nữa, ở quư địa có kẻ đề xướng thuyết “năm bộ sáu sách, đấy chính là do kẻ tà kiến dựa hơi Phật pháp để truyền bá pháp luyện đan. Chư vị đừng hăm vào trong ấy! Dẫu trước kia đă từng theo, nay đă học Phật, hăy nên vứt bỏ hoàn toàn! Nếu vẫn cứ hàm hồ coi đấy là Phật pháp th́ tội ấy chẳng nhỏ đâu!

Hiện thời, bất luận căn tánh nào đều phải lấy pháp môn Tịnh Độ làm chủ, bởi lẽ pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn thành tựu lúc ban đầu lẫn thành tựu lúc cuối cùng để tam thế chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh. Hễ nói nông cạn, gần gũi th́ đứa trẻ lên ba cũng có thể tu được; nhưng nói sâu xa th́ chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu hiểu rốt ráo. Tịnh Độ là pháp để cho phàm phu y theo đó ḥng liễu sanh tử ngay trong đời này, nhưng bỏ mặc không xét tới. Dẫu hết thảy các pháp môn đều nghiên cứu rốt ráo đến mức mười phần thông triệt đi nữa, ai có thể ngay trong đời này đoạn sạch phiền năo không c̣n sót ǵ để đạt đến địa vị “tự lực liễu sanh tử” đây? Kẻ cậy vào tự lực đă chẳng thể làm được, nhưng người cậy vào Phật lực do chẳng biết nên không chú ư. V́ vậy, học Phật pháp đều chỉ nhằm chống giữ thể diện trong hiện tại, gieo thiện căn trong tương lai mà thôi! Muốn được lợi ích liễu sanh tử chân thật sẽ là sự khó nhất trong các sự khó!

Phụ nữ càng phải nên chú trọng nhân quả, luân thường. Phàm An Sĩ Toàn Thư, Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, Ấn Quang Văn Sao, hễ có ai thông văn nghĩa đều nên tặng cho mỗi người một bộ. Đi theo con đường ấy, bậc thượng chắc sẽ thấu hiểu được những điều này. Nếu không, chỉ biết viên dung không chấp trước, miệng luôn nói không, bước bước làm có, gây họa hoạn cho gia đ́nh, mà cũng là kẻ giặc dữ dằn trong Phật pháp.

Nếu bàn đến quyền giáo dục th́ nữ nhân [nắm giữ quyền ấy] to lớn hơn nam giới. Do họ giúp chồng dạy con nên đă âm thầm nắm sẵn quyền thao túng. Thế đạo nhân tâm hiện thời suy hăm, ch́m đắm, nói chung là do chẳng đề xướng giáo dục nữ giới mà ra! Nếu khi c̣n là con gái đă biết “nữ nhân lấy việc giúp chồng dạy con làm thiên chức” th́ mai kia làm vợ người ta, làm mẹ người ta, ắt sẽ un đúc, nuôi dạy, khiến cho chồng con đều thành hiền thiện. Nếu nữ nhân ai nấy đều được như thế th́ lẽ đâu thiên hạ chẳng thái b́nh? Dẫu cho chẳng thể nào ai nấy đều được như thế, nhưng hễ có một người được như vậy th́ chồng con người ấy cũng đă có thể trở thành [hiền thiện] như thế rồi! Do vậy mà truyền sang đời sau cũng lại nối tiếp nhau noi dấu lương thiện, ngày càng đông nhiều.

Thôi hăy gác lại những điều Quang đă nói dài ḍng. Nay gởi cho các vị bốn gói Quán Âm Tụng, tổng cộng là hai mươi bộ, mỗi người một bộ. Sách này cũng nhằm tạo chỗ nương tựa lớn lao trong thời thế không nơi nương tựa trong hiện tại. Quư vị đă từng đọc Văn Sao của Quang rồi; trong năm ngoái tôi lại xếp đặt một bản khác, hiện thời sắp hoàn thành, trong khoảng tháng Ba, tháng Tư sẽ ra sách, đặt tên là Tân Ấn Tăng Quảng Ấn Quang Văn Sao.

So với bản in trước, [bản in mới này] tăng thêm một trăm mười hay một trăm hai chục trang nữa! Nếu muốn lợi người, hăy nên chịu trách nhiệm in chừng đó bộ để biếu tặng, hoặc chiếu theo giá vốn bán ra. Nếu đứng in lần này, so ra sẽ rẻ hơn in trong mai sau, bởi lẽ sau này Trung Hoa Thư Cục sẽ tự bán, c̣n lần khắc in này là do Quang định giá. Hiện thời do số trang và giấy in đều chưa định được, nên chưa thể định giá [chánh xác cho mỗi bộ] được. Ước chừng mỗi bộ phải trên dưới bảy tám cắc do sách dày hơn bốn trăm trang.

Bộ Quán Âm Tụng đă in trong năm trước chỉ có hai trăm lẻ mười trang mà [giá thành mỗi cuốn] đă tới ba cắc bốn xu. C̣n sách này dày bốn trăm mười hay bốn trăm hai mươi trang, giấy lại đắt gấp bội. Huống chi trong một hai năm qua chiến sự nhiều lượt nổ ra, nguồn giấy không thông, nay th́ giá giấy so với những năm trước lại đắt hơn rất nhiều, cho nên sẽ phải trên dưới tám cắc. Gần đây, tôi cũng muốn in An Sĩ Toàn Thư.

Lại c̣n có Thọ Khang Bảo Giám đă giao cho thợ sắp chữ. Đợi khi sắp chữ xong, sẽ cho in cùng lúc với Văn Sao. Sách này chính là bản tăng đính (mở rộng, sửa chữa) cuốn Bất Khả Lục rồi đổi tên. Bọn thiếu niên hiện thời thường chẳng biết cách giữ ǵn thân thể, mặc sức theo đuổi sắc dục; do vậy mà chết chừng bốn phần. Do ham sắc dục mà bị các thứ bệnh khác rồi chết cũng chiếm đến bốn phần. Người trong cả cơi đời, trong mười phần có đến tám phần là do bị chết trực tiếp hay gián tiếp bởi nữ sắc, cũng đáng thảm lắm!

Đừng nói chi kẻ buông lung t́m hoa kiếm liễu, ngay như trong t́nh vợ chồng, những kẻ v́ chẳng biết kiêng kỵ mà bị tử vong cũng chẳng biết đến mấy vạn! Trong tháng Mười năm ngoái, do một đệ tử của Quang v́ bị bệnh đă lâu, người thiếp bèn cầu Phật, nguyện ăn chay suốt đời, ông ta không uống thuốc mà được lành. Khí sắc của ông ta thuần tịnh rạng rỡ ít có ai bằng. Chưa được hơn một tháng, do phạm pḥng sự (ăn nằm) liền chết! V́ thế, tôi phát tâm in cuốn sách này để cứu những kẻ chẳng biết kiêng kỵ khỏi phải bị chết.

Tánh t́nh Quang chẳng thích phô trương, Quang dạy người khác hăy tùy theo nghề nghiệp, bổn phận của chính ḿnh để tu tŕ, trọn chẳng lập ra lề lối khác. Chương tŕnh do quư vị đă lập rất hay, nhưng phải làm sao cho mọi người đều tận tụy thực hiện được th́ may mắn chi hơn? Nếu không, sẽ trở thành sáo rỗng, cái danh to đùng, thực chất bé tẹo!

Các thứ ngoại đạo trong hiện thời không loại nào chẳng lấy bí truyền để thu hút những kẻ vô tri theo đạo của chúng, Lúc sắp phát nguyện nhập đạo, ắt phải thề thốt: “Nếu sau này phản giáo sẽ bị ác báo như thế nọ, như thế kia”, thật ra phần nhiều là cách để gạt gẫm người khác! Do đă thề thốt, nên dẫu biết chúng sai trái, [người lỡ theo đạo] cũng chẳng dám chống trái hoặc phơi bày [lỗi ấy] rơ rệt. Cách bí truyền, thề thốt của ngoại đạo mê hoặc con người sâu đậm, trói buộc con người chắc chắn thay! Nhà Phật chúng ta chẳng bí truyền, đối với một người nói như thế nào th́ đối với vạn người cũng nói như thế ấy. Đóng cửa, gài song, bên ngoài cắt người tuần hành, chỉ cho một người được vào, lại c̣n nói ŕ rầm chẳng để cho người ngoài nghe tiếng; đạo ấy nào phải là chuyện quang minh chánh đại! Tôi mong chư vị đều hiểu rơ thói tệ ấy nên mới thuật đại lược.

Những pháp danh đă đặt th́ đặt theo tên chánh hoặc đặt theo tên Tự, thêm vào chữ Trí th́ ư nghĩa sẽ chẳng c̣n [hạn hẹp] như trong [ư nghĩa gốc của] cái tên chánh hay tên Tự sẵn có nữa. Ấy chính là “Đại Học chi đạo, tại minh Minh Đức” (Đạo Đại Học ở chỗ làm sáng tỏ Minh Đức). Do cái lư sẵn có trong tâm hết thảy mọi người chưa có trí huệ nên chưa thể đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa, trừ khử vật dục (cách vật) để đạt đến thấu biết tột cùng (trí tri), ngơ hầu lương tri sẵn có sẽ được phát hiện toàn thể! V́ thế, nay tôi theo dựa theo ư nghĩa của tên thật hay tên Tự của từng vị mà thêm chữ Trí vào. Ví như vẽ rồng điểm nhăn để mong cho quư vị ai nấy đều thọ dụng Minh Đức sẵn có nơi chính ḿnh th́ món vật “nhân dục” quyến rũ con người sẽ bị tiêu diệt không c̣n tồn tại nữa.

Xét về đạo thể, Nho - Thích vốn không hai, nhưng xét tới chỗ nêu tỏ lư thể và công phu tu tŕ th́ sẽ hết sức khác biệt vời vợi! Kẻ chẳng biết, tưởng là giống hệt nhau, chắc sẽ đến nỗi nghĩ “một tấc gỗ giống như lầu cao ngất ngưởng”. Kẻ nghĩ là khác, chắc sẽ tưởng “b́nh, mâm ở ngoài chất vàng!” Người như thế đều là tội nhân trong hai giáo Nho - Thích! Thuở thiếu thời, Quang lậm phải chất độc của Châu - Tŕnh - Hàn - Âu, tạo các khẩu nghiệp; may do thiện căn đời trước tự được tỉnh ngộ. Sợ các vị đối với chỗ giống nhau - khác nhau này chưa phân biệt hiểu rơ, nên mới thuật đại lược. Trong Ấn Quang Văn Sao bản mới có bài tựa cho sách Nho Thích Nhất Quán của ông Dương Lệ Đường (sách ấy c̣n chưa in ra) và lá thư gởi cho ông Thang Hoằng Xương luận về chỗ giống nhau - khác nhau giữa Nho và Thích, hăy xem th́ sẽ biết rơ. Quang bận bịu đến tột cùng, xin ai nấy hăy nỗ lực tu tŕ.

 

562. Thư trả lời cư sĩ Vưu Tuyết Hạnh

Đă lâu chưa gặp gỡ, chợt nhận được thư, [cảm thấy] an ủi lắm. Lệnh thân là Trầm Cố Thị đă muốn quy y, hăy nên khuyên cụ phải quyết định cầu sanh Tây Phương, đừng nên cầu phước báo trời người trong đời sau đến nỗi giống như những kẻ có quyền lực trong hiện thời th́ đáng buồn lắm! Nay đặt pháp danh cho cụ là Kư Tây, nghĩa là tín nguyện niệm Phật, mong mỏi văng sanh Tây Phương. Xin hăy tùy tiện dùng năm đồng hương kính để làm công đức là được rồi [đừng gởi cho Quang nữa].

Nghe nói Mă Khế Tây cũng sống trong [Cư Sĩ] Lâm. Trong khoảng mùa Xuân Quang thấy Ấn Quang Truyện do ông ta viết, Quang liền xé đi, thiết tha răn dạy vĩnh viễn không được lưu truyền nữa. Đến mùa Thu lại thấy ông ta đưa cho ḥa thượng Tuyết Đậu, Quang lại xé đi, thống trách: “Nếu vẫn c̣n lưu truyền, sẽ đuổi ra khỏi Cư Sĩ Lâm để khỏi quấy nhiễu đại chúng trong [Cư Sĩ] Lâm! Ấn Quang mắc tội ǵ mà lại có thứ đồ đệ quy y bịa chuyện như thế đến nỗi người thấy kẻ nghe đều thóa mạ?” Các hạ và Quang tâm giao nhiều năm; do ông ta đă khâm phục, ngưỡng mộ đạo đức các hạ th́ các hạ hăy nên răn nhắc ông chú trọng thực tiễn, đừng dùng miệng lưỡi phô trương hư danh kẻo vĩnh viễn mang nhục và mắc tội lỗi vậy!

 

563. Thư trả lời cư sĩ X…

Nói đến bệnh lạ th́ ấy chính là oán nghiệp đời trước (Cơi đời thường viết sai chữ Oán () thành Oan (). Oan () là oan khuất, c̣n Oán () là thù). Bệnh do oán nghiệp th́ đừng nói thầy thuốc trong cơi đời chẳng thể chữa trị được, dẫu thần tiên cũng không cách nào cứu vớt được! Nếu ông có thể sanh ḷng hổ thẹn lớn lao, sửa lỗi trước, từ nay hăy tu tập, dùng tâm chí thành khẩn thiết để xưng niệm thánh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” th́ trước hết những oán nghiệp trong đời trước ấy sẽ do Phật hiệu mà mau chóng tránh xa, kế đến họ được nương vào Phật lực thoát khổ siêu sanh, chắc chắn chẳng đến nỗi [oan khiên] vẫn ràng buộc y như cũ. Nhưng nếu tâm chẳng chí thành và sanh ḷng sửa lỗi cũ, từ nay tu tập, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, th́ tâm của chính ḿnh sẽ gần gũi với tâm của quỷ, trái nghịch với tâm của Phật. Dẫu niệm Phật đôi chút vẫn khó thể cảm ứng được! Ấy là v́ tâm chính ḿnh chẳng thành, chẳng chánh, chứ không phải là do Phật không linh, không hiệu nghiệm!

Ông đă phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, tu học Lục Độ, th́ trước hết phải thực hiện từ nơi bản thân và trong gia đ́nh. Tự thân th́: Cảnh phi lễ đừng nh́n, lời phi lễ đừng nghe, tiếng phi lễ đừng nói, chuyện phi lễ đừng làm, ngăn ḷng giận, chặn ḷng dục, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa, thấy người hiền mong được bằng, thấy kẻ khác chẳng hiền trong ḷng tự phản tỉnh; trong gia đ́nh th́ trọn hết t́nh nghĩa, trọn hết bổn phận, như hiếu thảo với cha mẹ, kính anh, nhường em. Phàm trong là người nhà, ngoài là làng nước, đều đối đăi bằng ḷng chân thành, trọn chớ nên mang ư niệm khinh khi, dối gạt, lăng nhục. Lại hăy nên thương xót người đời ngu si, dùng nhiều cách khuyên dụ để họ đừng giết hại sanh mạng để khỏi phải chịu khổ giết hại lẫn nhau [để báo thù] trong vị lai. Lại khuyên họ thường niệm Phật hiệu cầu sanh Tây Phương, sẽ chẳng đến nỗi lại sanh trong thế giới Sa Bà khổ năo này để [tiếp tục] luân hồi lục đạo, trọn chẳng có thuở ngoi đầu ra được!

Nay gởi cho ông một gói Văn Sao gồm ba bộ, một bộ tự giữ, hai bộ kia tặng cho kẻ có tín tâm, biết cung kính, thông văn lư. Pháp tắc tu tŕ đă nói rơ trong ấy. Nếu muốn dễ hiểu rơ, xin hăy đọc trước lá thư Quang gởi cho bà Từ [Phước Hiền]. Tiếp đó xem thư Quang gởi cho ông Cao Thiệu Lân, Trần Tích Châu. Cuối cùng mới đọc hai mươi mấy lá thư Quang gởi cho cư sĩ X… ở Vĩnh Gia sẽ tự biết đầy đủ. Văn tuy chất phác, kém cỏi, nhưng ư vốn lấy từ kinh luận của Phật, của Tổ rồi dùng những lời lẽ rơ ràng, nông cạn để giảng rơ, chứ trọn chẳng có lời nào bịa đặt. Nếu có thể y theo đó tu tŕ th́ thân tâm sẽ thanh tịnh, nghiệp chướng tiêu trừ, đến khi lâm chung văng sanh Tịnh Độ siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, th́ những oán gia trong đời trước ấy quả thật là bậc đại đạo sư [hướng dẫn] ông thoát ra biển khổ. Họ cũng sẽ nương theo sức tu tŕ của ông mà ĺa khổ được vui. Ấy gọi là “lấy bệnh làm thuốc, biến oán thành ân”. Nếu chẳng phát tâm chân thật, sợ rằng sự báo oán sẽ chẳng phải chỉ có như vậy mà thôi đâu!

 

564. Thư trả lời cư sĩ Trịnh Huệ Hoàn (Thư thứ nhất)

Nhận được thư đầy đủ. Nói đến Văn Sao th́ đă bảo gởi hai gói, mỗi gói ba bộ; một gói An Sĩ Toàn Thư, mỗi gói bốn bộ. Lại c̣n gởi một gói Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú (mười ba cuốn), một gói Gia Ngôn Lục (mười một cuốn), một gói Học Phật Thiển Thuyết (năm mươi cuốn) xin hăy thâu nhận. Đại Trung Thư Cục ở Thượng Hải in sáu ngàn bộ Văn Sao, mỗi bộ là bảy cắc; bảy ngàn bộ An Sĩ Toàn Thư, mỗi bộ năm cắc chín xu. Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú in tại [xưởng in thuộc] nhà tù Tào Hà Kính, mỗi bộ một cắc năm xu sáu chinh. Gia Ngôn Lục cũng in ở cùng một chỗ, mỗi bộ một cắc bảy xu năm chinh (mỗi gói tính thêm hai xu bưu phí). Học Phật Thiển Thuyết in tại Quốc Quang Thư Cục, giá đề phía sau sách. Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú, Gia Ngôn Lục mỗi loại in hai vạn cuốn, hiện thời đă phát ra một vạn cuốn mà vẫn chẳng đủ để phân phát. Nếu quư hội muốn thỉnh, phải đợi đến khi in xong một vạn cuốn lần thứ hai th́ mới có thể bảo họ gởi đúng số lượng cho quư vị được.

Đối với những sách muốn thỉnh, hăy chiếu theo giá là bao nhiêu đó, gởi tiền và thư cho thầy Minh Đạo là Đương Gia chùa Thái B́nh tại bến Trần Gia, Thượng Hải. Thầy ấy nhận được ắt sẽ thâu giữ, trước hết gởi biên nhận, đợi khi sách được in ra sẽ gởi tới. Văn Sao, An Sĩ Toàn Thư, Thọ Khang Bảo Giám (mỗi cuốn tám xu, bưu phí tính riêng) có thể gởi ngay bây giờ được, những thứ khác phải đợi một hai tháng nữa mới gởi được.

Thọ Khang Bảo Giám là sách trọng yếu để cứu bọn thanh niên đắm ch́m trong sắc dục đến nỗi mất mạng. Năm ngoái in năm ngàn cuốn ở Thượng Hải (mỗi cuốn một cắc một xu), in ba vạn cuốn ở Hàng Châu. Họ đă giao một vạn năm ngàn cuốn, [đối với số sách c̣n lại] họ giở tṛ ma mănh viện cớ đă bị cháy sạch. Năm nay, tôi dùng khoản tiền họ bồi thường để in hai vạn cuốn, mấy hôm nữa sẽ có thể gởi sang Thượng Hải. Nhưng từ Hàng Châu chuyển tới Thượng Hải, rồi từ Thượng Hải lại chở đi, tuy [giá in] rẻ hơn ở Thượng Hải, nhưng tiền chuyên chở lại cao hơn nhiều!

Lại có Cảm Ứng Thiên Trực Giảng bây giờ mới cho sắp chữ, ước chừng năm mươi trang, giá cũng chừng khoảng trên dưới một cắc. Sách gởi tổng cộng là năm gói, nếu tự gởi th́ [cước phí] mỗi gói là một cắc năm xu. Nếu bảo thư cục gởi th́ phải gởi theo lối bảo đảm, mỗi gói tốn hai cắc. Do thư cục thường phái người đi giao, nếu không gởi bảo đảm chắc người giao sách sẽ giở tṛ bán sách. Nếu có người nào đáng tin cậy đem đi sẽ chẳng đến nỗi tốn tiền bưu phí. Xin hăy xét cặn kẽ.

Trong cơi đời hiện thời, muốn văn hồi thế đạo nhân tâm, ắt phải lấy “giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, biết nhân, rơ quả, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương” làm chủ yếu. Đối với chuyện bàn nói điều huyền lẽ diệu, tuy dường như cao siêu, nhưng nếu chẳng tận tụy thực hành [những điều vừa nói trên đây] th́ sẽ thành dùng thân báng pháp!

Cổ nhân nói: “Thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm”. Thất phu làm thế nào để có thể khiến cho thiên hạ b́nh trị được? Cần biết rằng: Cái gốc của thiên hạ là gia đ́nh, cái gốc của gia đ́nh là thân. Nếu ai nấy đều đề xướng nhân quả, báo ứng và giáo dục trong gia đ́nh th́ hiền tài sẽ dấy lên đông đảo, hết thảy những kẻ nhiễu loạn và thổ phỉ, giặc cướp sẽ chẳng c̣n nảy sanh nữa! Ngay cả những kẻ đă thành phường bại hoại như thế cũng sẽ nh́n theo ta mà bị cảm hóa! Trong Văn Sao, Quang đă nhiều lần nhắc đến, ở đây không viết cặn kẽ nữa. Ước chừng nửa tháng sau, Quang sẽ trở về núi. Tháng Bảy, tháng Tám lại sang Thượng Hải để lo cho xong chuyện in sách.

 

565. Thư trả lời cư sĩ Trịnh Huệ Hoàn (Thư thứ hai)

Nhận được thư đầy đủ. Lệnh hữu là ông Lưu mang chí lợi người, khôn ngăn khâm phục! Ông thỉnh bốn loại sách mỗi thứ năm trăm bộ th́ chỉ có Thọ Khang Bảo Giám và Học Phật Thiển Thuyết là không lâu nữa sẽ được gởi tới; c̣n Gia Ngôn Lục, Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú phải đợi một hai tháng nữa mới có. Ông nói đối với mỗi loại sách phải đặt thêm lời tựa th́ chuyện này quyết chẳng thể làm được, do mỗi loại sách Quang đứng ra in đều lấy một vạn cuốn làm chuẩn; sao lại có thể in riêng lời tựa cho năm trăm cuốn được? Nếu ông muốn cứ thêm vào, hăy nên tự khắc. Đợi đến khi tặng sách cho người khác, sẽ kẹp thêm [những trang in lời tựa] vào trong ấy th́ sẽ thuận tiện cho cả đôi bên. Nay đem lời tựa gởi kèm theo thư trả lại.

C̣n như ông nói “đă gởi số tiền như ấn định trước là hai mươi đồng”, tôi đă nhận được bưu phiếu ấy. Ông nói như vậy không khỏi coi Quang như gă bán sách, nực cười đến tột bậc! Nếu như lệnh hữu quyết định thỉnh th́ Quang sẽ chiếu theo số lượng ấy, đợi khi sách in ra sẽ gởi đi. Nếu cứ bắt buộc phải thêm lời tựa vào đầu sách th́ tôi không có tinh thần để lo liệu được, xin đừng bàn nữa! Chỉ gởi số sách đúng hai mươi đồng cho xong chuyện. Xin hăy sáng suốt suy xét.

Lệnh hữu rộng lượng muốn quy y, nay đặt pháp danh cho ông ta là Huệ Trác. Nhưng muốn quy y Phật pháp, chớ nên vẫn chú trọng nơi pháp luyện đan vận khí của ngoại đạo, ắt phải giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, phóng sanh, trừ sạch rượu thịt, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Dùng điều này để tự hành, lại c̣n đem những điều ấy dạy người khác, trong là gia đ́nh, ngoài là làng nước, thảy đều dựa theo Văn Sao, An Sĩ Toàn Thư để khuyên dạy, sẽ đáng gọi là đệ tử thật sự của đức Phật! Như thế th́ sống sẽ dự vào bậc hiền thánh, mất sẽ lên cơi Cực Lạc, ngơ hầu chẳng uổng cuộc sống này và chẳng phí dịp gặp gỡ này. Như vậy th́ trí huệ cao trỗi, chót vót, Danh hợp với Thật. Nếu không, chỉ là danh xuông mà thôi, có lợi ích ǵ đâu? Xin hăy nói với ông ta.

 

566. Thư trả lời cư sĩ Trịnh Huệ Hoàn (thư thứ ba)

Nhận được thư (ước chừng cuối tháng Mười, Quang sẽ về núi. Sau này việc gởi sách sẽ do thầy Minh Đạo lo liệu thay) và món tiền một trăm tám mươi đồng cùng với hai mươi đồng lần trước, tổng cộng là hai trăm đồng, không sai lạc. Gia Ngôn Lục vẫn chưa in (ước chừng tháng Mười Một, Mười Hai mới có thể gởi tới được). Di Đà Kinh Chú vẫn chưa đóng b́a xong, đợi khi hoàn thành sẽ theo đúng thời lần lượt gởi đến. Nay gởi cho ông năm trăm cuốn Học Phật Thiển Thuyết, năm trăm cuốn Thọ Khang Bảo Giám, giá sách lẫn bưu phí đều ghi thành một tờ riêng, xin hăy xem xét. Văn Sao hiện thời chẳng c̣n nhiều, chỉ gởi bốn gói, tổng cộng là mười hai bộ. Lại gởi một gói Cảm Ứng Thiên Trực Giảng (lại gởi thêm năm gói Học Phật Thiển Thuyết để những người nghèo cùng được xem đọc. Đấy cũng là sách để kết duyên, chẳng tính vào tiền thỉnh sách). Năm gói này chẳng tính chi phí.

Lời lệnh hữu đă nói trước đây vốn là biện pháp in theo lối khắc ván, nhưng Quang không nghĩ như vậy là đúng. Do sắp chữ in mỗi lần một vạn cuốn, nếu ngay từ đầu đă in kèm tên [người ấn tống] vào đấy th́ với số lượng nhỏ cũng chẳng phải là không làm được. Chứ nếu sau này mới đưa vào th́ không cách ǵ thực hiện được! Nhưng người làm công đức chỉ cần có ích cho đời, cho người, cần ǵ phải so đo là có đề tên hay không? Dẫu có tên đi nữa th́ chắc ǵ người ta đều biết rơ [người đứng bỏ tiền ấn tống là ai]? Nếu có ích cho người th́ trời đất quỷ thần đều biết. Các hạ tính kế cho dân nghèo cũng đáng gọi là “đại từ che chở khắp”, nhưng cần phải nói với họ về nhân quả, tội phước, để họ đều cùng chẳng phải hổ thẹn v́ đă thiếu sót đạo làm người, tương lai thành gia lập nghiệp, chắc chắn sẽ cùng con cái đều thành hiền thiện th́ sự cứu vớt ấy cũng lớn lao thay! (ngày Mười Một tháng Mười, viết dưới đèn).

 

567. Thư trả lời cư sĩ Trịnh Huệ Hồng (Thư thứ nhất )

Nhận được thư đầy đủ, chúng sanh đời Mạt Pháp đáng thương đến cùng cực, chẳng biết thơm - thối, chẳng biết tà - chánh, đă không có chánh pháp đến nỗi ai nấy đều theo đạo luyện đan vận khí, lại c̣n bịa đặt đồn thổi để tự khoe khoang, tự phụ. Ông chưa biết Phật pháp, vừa thấy Văn Sao liền sanh chánh tín, đáng gọi là “đă có thiện căn từ đời trước!” Nay gởi cho ông hai gói Văn Sao, bản ông đă đọc chắc là bản in lần trước, có ít bài hơn bản này. Hai gói An Sĩ Toàn Thư, một gói Gia Ngôn Lục, một gói Niệm Phật Trực Chỉ, một gói Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú, một gói Thọ Khang Bảo Giám, một gói Quán Âm Tụng, tổng cộng chín gói, gởi bằng thư bảo đảm. Trước hết, hăy nên đọc kĩ Gia Ngôn Lục th́ hết thảy ngờ vực đều bị phá trừ.

Ông nói đến chuyện [yêu cầu Quang] soạn luận để đả phá [những lập luận thiên chấp của] bọn triết học và Lư học; chỉ cần ông có thể chân thật tu tŕ và hiểu thấu những nghĩa lư trong các sách [nói trên], sẽ tự chẳng bị mê hoặc bởi những tà thuyết của bọn chúng. Nếu công kích họ th́ cũng phải có chỗ nương cậy, [bởi lẽ] chẳng những Quang không rảnh rỗi để soạn luận, mà ngay cả phúc đáp thư từ cũng chẳng rảnh rang cho lắm! Năm nay, kết liễu mọi việc xong xuôi sẽ rời khỏi Phổ Đà, không ở chỗ nào nhất định để khỏi phải nhọc nhằn thù tiếp thư từ ḥng chuyên tu Tịnh nghiệp. Hiện thời vẫn c̣n có những sách chưa được in ra, chẳng thể gởi ngay đuợc. Đợi khi sách được in ra, sẽ gởi cho ông mỗi thứ một hai gói để làm căn cứ tự lợi, lợi người.

Ông muốn đến Phổ Đà, xin hăy bỏ tâm niệm ấy đi; chỉ nên lắng ḷng nghiên cứu những kinh sách Quang đă gởi, ắt sẽ được lợi ích lớn lao! Ông muốn quy y, chẳng ngại ǵ đặt pháp danh cho ông từ xa. Ông hăy lễ Phật kiền thành nhận lănh! Nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Hồng, nghĩa là: Dùng pháp môn Tịnh Độ là ḷ luyện trí huệ lớn lao để mong cùng lên được bờ giác. Nhưng người học Phật ắt phải giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận của chính ḿnh, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đánh đổ ham muốn xằng bậy của chính ḿnh để khôi phục lễ nghĩa, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, trừ sạch rượu thịt, lại c̣n sanh ḷng tin phát nguyện niệm danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương. Dùng những điều ấy để tự hành, lại c̣n đem dạy người khác. Trong là cha mẹ, anh em trai, chị em gái, vợ con, ngoài là thân thích, xóm giềng, những người quen biết, đều nên đem những chuyện trên đây để bảo với họ.

Lại c̣n phải cực lực đề xướng nhân quả báo ứng và giáo dục trong gia đ́nh, nhưng đối với giáo dục gia đ́nh lại cần phải chú trọng nhân quả báo ứng. Lại hăy nên chú trọng dạy dỗ con gái. Muốn văn hồi thế đạo nhân tâm mà bỏ hai đường lối này, dẫu Phật, Bồ Tát, thánh hiền đều cùng xuất hiện trong cơi đời cũng chẳng biết làm sao! Ông chỉ nên chí thành khẩn thiết niệm Phật th́ lợi ích ấy sẽ chẳng thể nào suy lường bằng phàm t́nh được! Khi chín gói sách ấy được gởi đến, xin hăy gởi một mảnh thư [báo đă nhận được]. Ngoài ra, chẳng cần phải gởi thư [ǵ khác] nữa để đôi bên khỏi phải nhọc ḷng!

 

568. Thư trả lời cư sĩ Trịnh Huệ Hồng (Thư thứ hai)

Hôm qua viết một lá thư, chắc ông đă nhận được chín gói kinh sách rồi. Quang nghĩ: Phật pháp chẳng dễ lưu thông ở quư xứ; do vậy hôm nay thỉnh cho ông mười mấy thứ kinh sách, đem gởi bằng thư bảo đảm. Chỉ mong ông phát tâm chân thật, tự hành, dạy người. Dẫu Quang phải bỏ tiền hương kính do mọi người cúng dường ra [để làm chi phí gởi sách cho ông] cũng vẫn vui vẻ làm. Nếu ông hờ hững bỏ xó th́ chẳng những đă phụ ḷng Quang mà sợ rằng c̣n phụ ḷng những người đă biếu tiền hương kính cho Quang vậy!

Ông đừng dấy lên ư nghĩ đến Phổ Đà gặp Quang và muốn xuất gia trong tương lai, do Quang đă quyết định trong năm sau sẽ vân du Nam - Bắc, không ở chỗ nào nhất định. Nhưng trong hiện thời Tăng chúng gặp nguy hiểm muôn vàn, hai giới chánh khách và giáo dục chuyên muốn đuổi Tăng, chiếm đoạt tài sản để lèn cho đầy túi. Nếu xuất gia tức là đă bỏ con đường sống để t́m đường chết! Nếu ông có thể dựa theo những điều Văn Sao đă nói để tu tŕ th́ ngay trong thương trường cũng rất dễ tu hành. Tùy phần, tùy sức hóa độ hết thảy, quả thật là chuyện hữu ích nhất. Nếu muốn bỏ buôn bán để chuyên tu th́ sẽ thiếu sót lớn lao nơi những chuyện luân thường như thờ cha mẹ, dạy con cái v.v…

 

 

569. Thư trả lời cư sĩ Trịnh Huệ Hồng (Thư thứ ba)

Hai lá thư gởi vào mùa Đông năm ngoái và mùa Xuân năm nay đều nhận được. Những chuyện ông đă nói trong lá thư mùa Đông năm ngoái đều không sai, nhưng chỉnh đốn Tăng Già, khôi phục lệ thi cử để tuyển Tăng, vàn muôn phần chẳng thể làm được! Bọn ngoại đạo đều giả mượn cái danh Phật pháp, nhưng đều hèn kém chẳng kham. Nếu đúng là người được gặp gỡ Phật pháp, hiểu rơ đại ư, há bọn chúng có thể dẫn dụ được ư? Những kẻ bị [bọn ngoại đạo] dẫn dụ đều là hạng vô tri vô thức! Cha ông dụng tâm nghiên cứu kinh điển Nho gia nhiều năm, tiếc là chưa gặp được Phật pháp, vẫn bị nhốt chặt bởi Tŕnh - Châu, nay cụ đă không coi lời Quang là sai, đă thoát ra khỏi chỗ nhốt kín để có thể làm sứ giả cho Nho - Thích nhị thánh.

Ngoại đạo đều coi luyện đan vận khí là đạo, chương tŕnh truyền đạo do bọn chúng lập ra đă hoàn toàn phô bày hết những sự hèn tệ của đạo ấy! Tiếc cho người đời vô tri cứ ngược ngạo v́ lẽ ấy mà tranh nhau nhập đạo giống như ruồi bu theo mùi tanh, như con thiêu thân đâm đầu vào lửa, thật đáng buồn xót! (Nói “phô bày hết những thói hèn tệ” chính là nói bọn chúng đều giữ cách bí truyền và đạo “sáu tai chẳng truyền”. Muốn vào đạo của chúng trước hết phải thề thốt “hễ phản đạo sẽ phải hứng chịu những ác báo” v.v…) Những thứ tà giáo ấy trọn khắp thế giới. Chân pháp đă sáng tỏ th́ bọn chúng sẽ tự chẳng có thế lực lớn lao, chẳng c̣n lừng lẫy được nữa!

Pháp Niệm Phật hết sức ổn thỏa, thích đáng, hạng trí huệ nhỏ nhoi thường bỏ Phật lực để tu pháp cậy vào tự lực; nếu chẳng ngu th́ cũng là cuồng, không cách nào cứu văn được! Chúng ta chỉ nên tin sâu Phật pháp, giữ vững tông chỉ Tịnh tông th́ sẽ chẳng đến nỗi bị lôi cuốn gia nhập ngoại đạo và tưởng những ǵ ư ḿnh hiểu biết rơ ràng là đích thân chứng đắc. Gần đây, có những kẻ cao minh dụng công chân thật thiết tha nhưng lại ngả theo những tri kiến lệch lạc, lầm lẫn, kiêu căng, ngạo mạn, coi thường kẻ niệm Phật cũng chẳng ít. Bọn họ đều do chẳng tự lượng, lầm lạc coi những ǵ chính ḿnh có thể hiểu được là chứng đắc. Họ đâu biết: Chén bát chưa nung, gặp mưa liền hóa thành bụi đất!

Trong khoảng tháng Tám, tháng Chín năm nay, in sách xong xuôi, Quang sẽ diệt tung tích, ẩn náu lâu dài. Thời khắc này không nói th́ sau này làm sao nói được? Cha ông muốn một hai năm nữa tới Chiết Giang gặp Quang, xin cụ hăy nương theo Văn Sao, Gia Ngôn Lục để tu tŕ, lại c̣n nương theo đó để đề xướng, ngơ hầu người nơi quư địa đều cùng được nhuần gội sự giáo hóa của Phật th́ sẽ là đệ tử đức Di Đà, là bạn lành của Đại Sĩ. Quang là một ông Tăng chỉ biết cơm cháo, chẳng gặp mặt đâu phải áy náy ǵ? Dẫu Quang chẳng diệt tung tích th́ trong thời cuộc chẳng yên ổn này, sao lại phí nhiều tiền tàu xe, nếm chịu đau khổ vô ích để chỉ gặp mặt Quang ư?

Lệnh biểu huynh là Đỉnh Tài đă muốn quy y th́ sẽ đặt pháp danh cho ông ta. Lại gởi cho ông ta một lá thư, xin hăy chuyển giùm. Nay gởi cho ông Văn Sao, Gia Ngôn Lục, Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú, Hiện Báo Lục, Quán Âm Tụng, Âm Chất Văn Chú Chứng, Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, Kim Cang Kinh (ảnh chụp được kẹp trong ấy), mỗi thứ một gói. Xin hăy chia ra tặng. Lời tựa “ngầm tiêu kiếp vận” đă được thấy trong bài tựa rộng nêu đại ư, không cần phải gởi nữa. Do chuyện in sách, hằng ngày Quang chẳng được rảnh rỗi, huống chi lại muốn trong nửa năm nay sẽ hoàn tất hết thảy thủ tục [ấn loát]. Nếu không, trong tháng Chín sẽ chẳng thể giải quyết xong xuôi được!

 

[Trong những tác phẩm giảng về] những ư chánh yếu của kinh Lăng Nghiêm th́ nên coi sách Lăng Nghiêm Văn Cú là bậc nhất, c̣n giải thích kinh văn th́ nên coi sách Lăng Nghiêm Chỉ Chưởng là bậc nhất. Giải thích ư nghĩa chánh yếu của kinh Pháp Hoa th́ sách [Pháp Hoa] Hội Nghĩa hay nhất, giải thích kinh văn bậc nhất th́ cũng là [Pháp Hoa] Chỉ Chưởng. Bốn bộ này đều phải tốn đến mười mấy đồng, viết ra ở đây để sau này ông muốn thỉnh sẽ biết rơ. Hiện thời cần phải chuyên tu Tịnh nghiệp bởi thời cuộc chẳng yên, không cậy vào sức niệm Phật, niệm Quán Âm, quyết khó thể có được chỗ để nương tựa! Hăy nên đem lời này thưa với cha và biểu huynh của ông cũng như hết thảy mọi người.

 

570. Thư trả lời cư sĩ Trịnh Huệ Hồng (Thư thứ tư)

Thư ông gởi trong tháng Bảy do không có chuyện ǵ quan trọng nên tôi chẳng trả lời ngay. Người học đạo hăy nên dựa theo Lư để phán đoán, há cần phải mỗi một điều đều đem hỏi người khác rồi mới nên làm hay chăng? Quang ẩn dật lâu dài là v́ tinh thần chẳng đủ. Nói đến chuyện chỉ dạy th́ tôi vẫn tự có phương cách. Cách gần gũi nhất là đem các bản in sách giao cho Thế Giới Cư Sĩ Lâm, bảo họ lưu thông để làm kế lâu dài.

Huệ Ḥa tin tưởng ngoại đạo, tiếc cho ông ta túc nghiệp sâu nặng đến nỗi tà - chánh chẳng phân, vàng - thau không biết chọn, quư mắt cá như minh châu, muốn coi nó như của báu muôn đời chẳng đổi, chẳng biết nó chẳng đáng một đồng! Sở đắc của bọn ngoại đạo là trộm cắp những lời trong tam giáo Nho - Thích - Đạo, bịa đặt dựng chuyện để làm cội nguồn cho đạo giáo của chúng [rồi tự phụ] “đạo do chính ta sở đắc”, chẳng đáng buồn ư?

Niệm Phật lúc đầu thân thiết như người nghèo được ăn vị ngon, chẳng biết thơm ngon đến ngần nào; tới chừng ăn đă lâu rồi cũng cảm thấy b́nh thường không có ǵ lạ lùng cả, nhưng chẳng coi vị b́nh thường, đạm bạc ấy là sai th́ lâu ngày ắt sẽ có lợi ích tăng tấn. V́ thế không cần phải cảm thấy thiếu sót do lẽ ấy.

Mừng - giận, buồn - vui chưa phát, chẳng nghĩ lành, chẳng nghĩ ác tựa hồ giống hệt như nhau, nhưng Lục Tổ nói: “Đúng ngay trong lúc ấy, thế nào là bản lai diện mục của Thượng Tọa?” Sao ông chẳng chú ư vào chỗ này? Do có câu nói ấy [của Lục Tổ] nên có sự khác biệt lớn với ư nghĩa của Trung Dung được nói xuông trong sách Trung Dung. Sách ấy (tức Trung Dung) chỉ có thể khiến cho người ta biết được đạo lư, c̣n câu nói này của Lục Tổ khiến cho con người đích thân thấy được cái sẵn có. Ông đừng chăm chú nơi “niệm mà chẳng niệm, không niệm mà niệm”! Cảnh ấy chính là chỗ thực hiện của bậc đă đạt đến cảnh giới cùng cực. Nếu chưa đạt đến cảnh giới cùng cực [mà cứ bám vào “niệm mà chẳng niệm, không niệm mà niệm”], ắt sẽ trở thành lười nhác! Tham cứu câu “niệm Phật là ai” vừa có lợi ích mà cũng có khuyết điểm! Chỗ hăy nên dốc sức chính là thành thật, chuyên nhất, dốc ḷng.

Nếu xen tạp Thiền cơ, hễ hơi có kiến xứ th́ do căn cơ nông cạn, chúng sanh sẽ coi pháp [Tịnh Độ] này là hèn kém nhất, coi pháp kia (Thiền) là tối thắng. Mùa Xuân năm Dân Quốc 13 (1924), vợ ông Địch Sở Thanh mắc phải thói tệ này. Măi cho đến ngày nay, Sở Thanh vẫn giữ thuyết ấy, chẳng chịu sửa đổi chút nào. Một đệ tử ở Giang Tây là Long Tùng Sanh đối với Thiền có chỗ hơi hiểu, ngộ [rồi cũng miệt thị Tịnh Độ], Quang cực lực quở trách, nhưng ông ta vẫn chẳng chịu nghe. Xem sắc diện chừng như ông ta bị ma dựa. Nghe lời ông ta nói, đúng là “muốn nối tiếp huệ mạng của chư Tổ”.

Ông ở nhằm nơi ngoại đạo lừng lẫy; nếu chẳng dựa theo sự thật để tu tập, chắc cũng sẽ trở thành cái cớ cho bọn tà ma, ngoại đạo bêu riếu. Ông muốn khai ngộ, há cần phải dùng đến công phu tham cứu? Chỉ cần niệm đến chỗ “niệm cực, t́nh vong”, sẽ tự được khai ngộ. Nếu không ngộ, cũng chẳng trở ngại ǵ. Cần biết rằng: Hễ có tín nguyện th́ chẳng ngộ vẫn được văng sanh. Đắc ngộ mà không có tín nguyện th́ vẫn luân hồi trong lục đạo! Ông muốn bỏ con đường bằng phẳng để đi theo đường hiểm trở mà vẫn mong được gọi “người hiểu biết pháp môn Tịnh Độ” ư?

Quang hiện thời đang sắp chữ bộ Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ do ông Hứa Chỉ Tịnh biên tập; đợi khi sắp chữ xong sẽ ẩn dật. Nếu sách ấy in ra sẽ bảo thầy Minh Đạo thay tôi gởi cho ông một hai gói. Sách ấy có quan hệ lớn lao đối với thế đạo nhân tâm. Tôi sẽ sắp chữ thành hai loại: Một là sách in với cỡ chữ Tam Hiệu Tự, bản thứ hai với cỡ chữ Tứ Hiệu Tự dùng giấy báo để in. Hiện thời bản thứ nhất đă sắp chữ xong, cho in ngay hai vạn bộ. Sau này, có người phát tâm th́ sẽ có thể cuồn cuộn in tặng và gởi bán vậy.

 

571. Thư trả lời cư sĩ Trịnh Huệ Hồng (Thư thứ năm)

Thư của ông và thư của thầy Minh Đạo tôi đều đă đọc rồi. Thư gởi cho vị Tăng ở Tự Châu hay lắm. Pháp sư Ngọc Phong thiên chấp quá sức! Cuốn [Niệm Phật] Tứ Đại Yếu Quyết của Sư quả thật là lầm lẫn, nhưng nhiều người coi đó là quan trọng, hay tuyệt, cũng do v́ thô tâm mà ra. Nếu chẳng quán tưởng th́ chẳng tham tịnh cảnh, chẳng cầu nhất tâm; chẳng tham cứu câu “[người niệm Phật] là ai?” cứ thẳng thừng mà niệm th́ quả thật là nhiệm vụ trọng yếu! Nhưng chớ nên nói: Những thứ ấy đều là tà! Sư coi cầu nhất tâm là tà, nhưng Sư suốt đời dùng công phu Thập Niệm vào buổi sáng. Trong pháp Thập Niệm có thuyết “nhờ vào hơi thở để ràng buộc tâm khiến cho tâm quy nhất”. Sư tự hành lại tự bài xích, đúng là điều đáng tiếc nuối lớn lao! Do vậy, Quang trọn chẳng nhắc đến Sư v́ sợ người khác cũng sẽ bị bệnh thiên chấp ấy.

C̣n như “vừa khởi thoại đầu liền rớt vào thoại vĩ”, cũng là gia phong của nhà Thiền. Chúng ta tu Tịnh Độ chỉ nên giữ vững tín nguyện tŕ danh, cầu sanh Tây Phương; chẳng cần phải so sánh với họ rồi hỏi ngược lại. Chỉ nên dùng ḷng chí thành, cung kính khiến cho tâm này không ràng buộc nơi niệm nào khác. Đấy chính là nghĩa trọng yếu. Có đọc hay không đọc Đại Tạng Kinh đều chẳng có ǵ là không được! Bởi lẽ, tu pháp môn đỡ tốn sức này sẽ chẳng đến nỗi phải than thở xuông “muốn liễu sanh tử nhưng không t́m được pháp nào!” Ông nay trên có cha mẹ, dưới có vợ con, lại c̣n đang buôn bán, là chỗ nương cậy cho cả nhà; há nên lầm lạc mong bế quan?

Vợ ông là Tú Anh đă phát tín tâm, muốn xin quy y, nay đặt pháp danh cho cô ta là Huệ Anh, nghĩa là: Chuyên dốc chí tu tŕ sẽ trở thành bậc anh thư mạnh mẽ trong nữ giới. Xin hăy nói với cô ta về đạo “hiếu thảo với cha mẹ, giúp chồng chăm sóc gia đ́nh, dạy dỗ con để tất cả con cái đều được un đúc, giáo huấn, trở thành hiền thiện”; đấy thật sự là đạo căn bản để gia đ́nh hưng thịnh, nước nhà b́nh trị vậy! Hơn nữa, bất luận Quang ở tại chỗ nào đều chẳng cần phải gởi thư, bởi đă có các sách như Văn Sao, Gia Ngôn Lục v.v… th́ chẳng cần phải hỏi han phương pháp tu tŕ nữa! Nếu muốn làm một vị đại thông gia th́ hằng ngày thưa hỏi vẫn chẳng thấm vào đâu! Ông đă một mực chẳng muốn làm một vị đại thông gia th́ tôi trộm cho rằng “chẳng c̣n ǵ phải tiếc nuối, băn khoăn cả!”

Trần Vinh Quang gần đây cũng có gởi thư đến, nhưng do bận bịu, không rảnh rỗi để phúc đáp. Ông ta đă phát tâm, nay đặt pháp danh cho ông ta là Huệ Chương, nghĩa là: Nếu không có trí huệ sẽ lơa lồ, hèn hạ khó chịu đựng nổi. Nếu có trí huệ, sẽ như khoác long bào, có oai đáng nể, có vẻ nghiêm nghị đáng trọng. Cùng là một người mà khác biệt một trời một vực. Do vậy, người biết Phật pháp sẽ đáng tôn đáng quư, huống là [hiểu biết, tu tập] pháp môn Tịnh Độ ư? Cha ông tuổi đă cao, hăy nên khuyên cụ tận lực tu tŕ th́ may mắn lắm thay! (ngày mồng Mười tháng Chạp)

 

572. Thư trả lời cư sĩ Giang Đức Mậu

Đọc thư của anh ông, biết ông ta học Phật là v́ muốn thành một vị đại thông gia, chứ chẳng phải v́ muốn t́m kế liễu sanh tử! V́ sao biết? Nếu v́ liễu sanh tử th́ mẹ ruột vốn là người một ḷng tin tưởng niệm Phật, tuổi đă sắp tàn, sao chẳng đem pháp này khuyên cụ? Đến khi cụ lâm chung, vẫn chỉ cầu Bồ Tát chứ chẳng chịu thỉnh người trợ niệm, cho rằng [làm như vậy] sẽ khiến người đời kinh hăi! Ư niệm ấy thật đáng nực cười! Nếu sợ thỉnh Tăng [trợ niệm] sẽ khiến cho kẻ phàm tục kinh hăi, sao chính ḿnh chẳng cùng với gia quyến đều niệm? May mắn là ông ta có tấm ḷng chân hiếu; [bà cụ] được Bồ Tát gia bị, tỉnh táo muốn ngồi dậy, được thấy Bồ Tát. Lúc ấy ông ta vẫn chẳng biết bảo các quyến thuộc trợ niệm. Đến khi bảo cụ niệm A Di Đà Phật, cụ liền niệm rơ ràng một chữ A th́ chính ông ta mới niệm Phật. [Ông ta] chẳng biết lợi ích của trợ niệm đến mức như thế đấy!

May mắn là ông ta nhờ có hiếu tâm thuần thành, chuyên dốc, nên cụ vẫn c̣n niệm được hơn một trăm chữ A rồi mới tắt hơi. Như vậy là trong tâm cụ chỉ có một niệm A Di Đà Phật, những niệm khác đều chẳng hiện tiền; cho nên cụ được nương theo Phật lực văng sanh Tây Phương. V́ thế, chỉ riêng trán cụ c̣n nóng, cánh tay vẫn mềm mại. Có các hiện tượng trước - sau như thế th́ cụ được văng sanh. Do Như Lai thệ nguyện rộng sâu, bà mẹ ông ta sẵn ḷng tin tưởng, lại được anh ông một niềm thuần chân, nên mới có được hiệu quả như vậy. Điều đáng tiếc là lúc b́nh thường trọn chẳng đề xướng, khi lâm chung vẫn chẳng biết trợ niệm, cảnh tượng [cụ mất tốt đẹp như thế] là do may mắn mà đạt được! Nếu vạn nhất chẳng đạt được th́ tương lai sẽ luân hồi trong lục đạo, chẳng biết cảnh tượng sẽ ra sao?

Làm phận con, phải nên dùng pháp này để tự hành, lại c̣n đem pháp này khuyên lơn cha mẹ như thế nào, cũng như đem pháp này khuyên hết thảy mọi người để hết thảy mọi người đều cùng được hưởng lợi ích này. Dùng điều này để giúp cho cha mẹ ta hễ chưa được văng sanh liền được văng sanh, đă văng sanh sẽ tăng cao phẩm sen. Nhưng muốn cho cha mẹ và chính ḿnh cùng sanh về Tây Phương th́ hành vi ắt phải chẳng trái nghịch Phật pháp, như giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, hiểu nhân rơ quả. Kẻ làm được như thế th́ sống sẽ là học tṛ của thánh hiền, chết lên bờ cơi Như Lai. Tuy nói “hăi thế kinh nhân” (khiến cho con người trong cả cơi đời kinh hăi), nhưng quả thật chỉ là chứng được cái ta vốn sẵn có! Hăy nên đem lời này nói với anh ông.

Người học Phật tâm thật, hạnh thẳng, hễ trong ḷng có ư niệm sợ bị kẻ khác chê cười th́ chưa phải là kẻ thật sự tin tưởng Phật pháp (Tôi không nhớ ông đă có đọc bài Khuyến Tu Tịnh Độ Văn rồi hay không?) Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ ước chừng giữa tháng Mười sẽ sắp chữ xong, cuối tháng Mười Một sẽ có thể in ra ba ngàn mấy bộ. Trong một lúc th́ không thể hoàn tất một vạn bộ được! In xong một vạn bộ đầu tiên, sẽ in tiếp một vạn bộ nữa, tổng cộng là in hai vạn bộ. Lại c̣n phải sắp chữ một bản chữ nhỏ theo cỡ Tứ Hiệu Tự in bằng giấy báo để tiện cho các học sinh trong nhà trường có thể mua về đọc. Sách này tập hợp những sự tích cảm ứng trong hai mươi bốn bộ sử, kèm theo lời b́nh luận của ông Hứa Chỉ Tịnh, đáng để văn hồi thế đạo nhân tâm. V́ thế, Quang chắc tiếc tinh thần sức lực t́m cách truyền bá. Nếu ông muốn có bộ sách ấy, vào đầu tháng Chạp hăy sang chùa Thái B́nh hỏi thầy Minh Đạo. Lúc ấy Quang đă diệt tung tích rồi! (Ngày Hai Mươi Bảy, viết dưới đèn)

 

573. Thư trả lời cư sĩ Chương Đạo Sanh (Thư thứ nhất)

Nhận được thư, biết ông phát tâm dũng mănh, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Chỉ nên chuyên chú lấy “suốt đời ăn chay, nhất tâm niệm Phật” làm hành vi duy nhất không hai, quyết chẳng c̣n sửa đổi. Không ăn dầu muối ư? Bất tất phải như thế! Trong những cấm chế do đức Phật lập ra, không nói đến chuyện này, c̣n ngoại đạo chắc có. Chỉ tùy duyên là được rồi, mặn - nhạt trọn chẳng phân biệt. Chẳng “v́ nhạt mà sanh ḷng hiềm, hễ mặn lại đâm ghét” th́ chính là pháp môn giải thoát.

Niệm Phật phải phát chí thành tâm, thâm tín tâm, hồi hướng phát nguyện tâm (nghĩa là đem công đức niệm Phật của chính ḿnh hồi hướng cho hết thảy chúng sanh trong pháp giới đều cùng được văng sanh Tây Phương). Nếu có những tâm ấy, công đức sẽ vô lượng. Nếu chỉ v́ một người mà niệm th́ tâm lượng nhỏ hẹp, công đức cũng nhỏ hẹp! Ví như [thắp] một ngọn đèn th́ chỉ có ánh sáng của một ngọn đèn. Nếu chịu xoay vần thắp cho những ngọn đèn khác th́ ánh sáng của trăm ngàn vạn ức vô lượng vô số ngọn đèn sẽ chẳng thể nào thí dụ được; thế nhưng ánh sáng của ngọn đèn ban đầu cố nhiên chẳng bị hao tổn ǵ! Người đời chẳng biết nghĩa này nên chỉ biết tự tư tự lợi, chẳng muốn cho người khác hưởng lợi ích ấy.

Lao ngục chính là đạo tràng ép người thoát khổ. Nếu ông không vào nhà tù ấy, sợ rằng hằng ngày sẽ theo đuổi thanh, sắc, vật chất, lợi lộc, c̣n tâm tánh sẵn có của chính ḿnh lại bỏ mặc, chẳng buồn hỏi tới! Nay ông may mắn có được khoảng thời gian mười bốn năm dài chẳng phải dính líu đến hết thảy chuyện nhà hay chuyện trong xă hội, chuyên nhất tu đạo. Đến khi hết kỳ hạn, ra khỏi nhà tù th́ tuy [bề ngoài] vẫn là con người cũ nhưng [thực chất] đă không phải là con người cũ nữa, sẽ có thể thực hiện sự chỉ dạy rộng lớn, khiến cho quyến thuộc của chính ḿnh và thân thích, bằng hữu đều cùng được gội pháp trạch, quả thật là may mắn không chi lớn bằng!

Ở trong ngục cũng chẳng cần phải xem nhiều. Hăy đọc kĩ càng những sách do Quang đă gởi hai lần trong năm ngoái và gởi một lần trong năm nay, y theo đó để hành th́ đă dư thừa lắm rồi! Nếu nhiều sách, tâm sẽ chia thành ngơ rẽ, đến nỗi chẳng được lợi ích. Hiểu nhân, rơ quả, ăn chay, niệm Phật chính là nghĩa trọng yếu để tự lợi, lợi tha. Cần phải hành xử theo đúng địa vị, chẳng oán, chẳng hờn, th́ mới thật sự đạt được lợi ích nơi Phật pháp. Xin hăy thường gắng sức th́ may mắn lắm thay!

Người đời bệnh khổ phần nhiều do sát nghiệp trong đời trước cảm vời. Bất luận là bệnh ǵ, nếu có thể khẩn thiết, chí thành niệm Nam Mô A Di Đà Phật và thánh hiệu Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, chắc chắn sẽ tiêu trừ túc nghiệp, tăng trưởng thiện căn, bệnh sẽ tự lành. Dẫu đă hết tuổi thọ th́ chết đi sẽ sanh trong đường lành, chẳng đến nỗi đọa lạc. Nếu biết pháp môn Tịnh Độ, có chân tín nguyện th́ c̣n có thể văng sanh Tây Phương liễu sanh thoát tử; nhưng người đời chẳng biết lư sâu, hăy nên dùng những chuyện thật để bảo ban trước!

Con ông Phương Văn Niên ở Cữu Thự Phương (địa danh) thuộc huyện Trấn Hải, tên là Tử Trọng, vào năm trước, tṛn mười chín tuổi, bị ung nhọt trong ruột, [thầy lang] Trung Y không trị được, [bác sĩ] Tây Y nói: “Nếu không mổ sẽ chẳng trị được!” Cha mẹ anh ta không chịu, liền chẳng trị. Bà mẹ là người thông văn lư, do đọc Ấn Quang Văn Sao liền ăn chay niệm Phật, cả nhà lớn nhỏ kể cả đầy tớ đều thường ăn chay; chỉ có Văn Niên là vẫn chưa hoàn toàn ăn chay, nhưng đă giảm bớt ăn mặn rất nhiều. Bà mẹ cùng một u già (bà này cực hiền, sống trong nhà họ Phương đă mấy chục năm, con bà cũng khá giả. Có đứa cháu mời về nhà sống, bà bảo ‘muốn cùng với bà chủ tu hành’, chẳng chịu trở về. Bà chủ cũng chẳng coi bà này như u già mà xem như bạn bè) liều mạng niệm Phật, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát và niệm kinh Kim Cang. Ba ngày sau [khối ung trong ruột Tử Trọng] tự vỡ, máu mủ theo đại tiện thoát hết ra ngoài, năm ngày sau hoàn toàn lành mạnh. Chí thành niệm Phật tụng kinh tiêu trừ túc nghiệp, có chuyện như vậy đó! Người đời chỉ biết tạo nghiệp, chẳng biết cách tiêu nghiệp, đáng thương quá!

Thêm nữa, ông Từ Úy Như quê ở Hải Diêm (ông này luôn sống ở kinh đô) do [dụng công] học rộng nên trong người bị hao tổn, bị bệnh thoát giang đă hai năm mấy. Thường sau khi đại tiện phải nằm một khắc, đợi cho nó tự rút lên th́ mới dám cử động. Tháng Giêng năm Dân Quốc thứ tám (1919), sau khi đại tiện, có chuyện cần thiết chẳng thể tŕ hoăn được, liền ngồi xe ra khỏi cửa; do bị ma sát, đoạn ruột ấy vĩnh viễn không rút lên được nữa. Suốt bảy ngày đêm đau đớn như kim đâm, không một khắc nào tạm ngừng. Suốt bảy ngày đêm không chợp mắt được. Ông ta trước kia tuy niệm Phật nhưng vẫn chẳng giảm nhẹ, bèn phát đại Bồ Đề tâm, nói: “Bệnh này khổ cùng cực, con xin chịu nhiều hơn để nguyện cho tất cả mọi người trong thế gian đừng mắc phải bệnh này” rồi bèn chí thành niệm Phật. Không lâu sau ngủ thiếp đi, tỉnh dậy bệnh đă lành. Từ đấy bệnh hết tận gốc. Ông ta gởi thư báo tin, Quang bảo: “Bệnh ấy vốn do túc nghiệp, do các hạ dùng tâm đại Bồ Đề để tiêu trừ túc nghiệp đó nên bệnh liền dứt tận gốc!”

Nếu biểu huynh của ông biết nghĩa này th́ chẳng những bệnh trĩ được lành mà bệnh sanh tử cũng được lành. Nếu không, sẽ sống yên trong nhà hưởng phước, sống say, chết mộng, chẳng bằng ông ngồi tù lại được đại lợi ích. Cảnh không có tự tánh, tổn hại hay lợi ích do con người. Ông tin được lời tôi nói th́ lợi ích sẽ khó thể tuyên nói được!

Họa - phước trong thế gian dựa dẫm lẫn nhau, chỉ do con người có khéo dụng tâm hay không mà thôi! Ông do bị tù mà được nghe Phật pháp, đấy chính là may mắn lớn lao trong khi bất hạnh. Hăy nên coi đấy là [cơ hội được] hướng dẫn tốt lành th́ tâm càng được thanh tịnh.

Ông vẫn chưa thấu hiểu những điều kinh Kim Cang đă dạy. Kinh dạy: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ tŕ kinh này (đây chính là sự lành trong hiện tại) bị người khác khinh rẻ là v́ tội nghiệp trong đời trước của người ấy đáng lẽ phải đọa trong ác đạo, nhưng do đời này bị người đời khinh rẻ (nghiệp chuyển theo thiện, cũng thuộc trong đời hiện tại) nên những tội nghiệp trong đời trước liền bị tiêu diệt, sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (đây là chuyện trong vị lai, nghĩa là do đây mà được, đừng tưởng là ngay trong hiện tại sẽ liền được như thế)”. Thiện nam nữ thọ tŕ kinh này, đấy chính là điều lành trong đời này. Bị người khác khinh rẻ là do nghiệp trong đời trước. Nhưng do bị người khác khinh rẻ mà tiêu diệt được những ác nghiệp trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, lại c̣n sẽ đắc Phật Quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ấy chính là dùng thiện nghiệp để chuyển ác nghiệp, khiến cho quả báo trong đời sau biến thành quả báo trong đời này, báo nặng chuyển thành báo nhẹ.

Ông tưởng nhà tù là ác đạo th́ sai mất rồi! Nhà tù thuở xưa khổ sở chẳng thể nói nổi, nhà tù ngày nay giống như bế quan, đâu có khổ sở ǵ! Những kẻ không ở trong tù phải bôn ba, bận bịu, những kẻ mưu cầu cơm áo nhưng chẳng được, chẳng biết là bao nhiêu! Nếu tri túc th́ nhà giam là ṭa nhà hưởng phước (phước đường). Nếu không tri túc, dẫu giàu có vàn muôn, sang quư tột bậc th́ vẫn là hằng ngày sống trong địa ngục đó thôi!

 

Con người sống trong thế gian, dẫu tuổi rất thọ, vẫn là chớp mắt liền qua! Nếu chẳng tự gắng sức th́ phần nhiều sẽ đều đọa lạc trong ác đạo. Muốn lại được mang thân người, thật chẳng phải là chuyện dễ dàng. Ông nay có thể biết sai sửa lỗi, tận lực tu Tịnh nghiệp th́ vẫn c̣n thể cách vật (tức là sửa đổi ḿnh, chứ không phải là trừ bỏ những vật bên ngoài), trí tri (đạt đến sự thấy chân chánh không bị lệch lạc cong vạy v́ dục vọng, tri kiến tà vạy), sống sẽ dự vào bậc hiền thánh, nghiệp tận t́nh không, mất sẽ về cơi Cực Lạc. Dẫu chưa thể nghiệp tận t́nh không, nhưng nếu đầy đủ ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, ắt sẽ có thể nương theo Phật từ lực văng sanh Tây Phương, như vậy là chẳng phụ đấng sanh thành, chẳng phụ sở học, cũng chẳng phụ một phen lao đao này. Đấy gọi là: “Do họa mà được phước”. Hăy nên phát tâm đại Bồ Đề bất thoái lâu xa th́ chắc chắn sẽ đạt được lợi ích lớn lao như trên đă nói. Nếu trọn chẳng có thành kính, chỉ màu mè bề ngoài, mong được người khác khen ḿnh là tu tŕ chân thật, chứ thật ra hoàn toàn là giả vờ th́ sẽ không đạt được lợi ích thật sự nào cả!

Di Đà Kinh Bạch Thoại Giải được sắp chữ tại [xưởng in của] trại giam Tào Hà Kính vẫn chưa xong (tù nhân sắp chữ khéo léo không thua ǵ thợ của Thư Cục). Lần này in một vạn bộ Văn Sao ở Hàng Châu, phải đến tháng Mười mới có thể ra sách được! Do trước đó đă in bảy ngàn bộ An Sĩ Toàn Thư, ước chừng sẽ giao sách vào Trung Thu; lại c̣n in Thọ Khang Bảo Giám một vạn cuốn sẽ phát hành chung với Văn Sao. Tôi sẽ gởi cho ông mỗi thứ một gói. Nay tôi gởi cho ông một gói gồm bảy bộ Quán Âm Tụng, trước kia chắc đă có gởi rồi [hay không] tôi cũng không nhớ nữa. Có dư th́ nên tặng cho viên giám đốc nhà giam, hay giám thị, hoặc những người cùng chí hướng có tín tâm, thông văn lư, biết cung kính. Tuy có các sách, vẫn phải lấy niệm Phật, niệm thánh hiệu Quán Âm làm chánh. Chớ nên chỉ đọc rồi không hành th́ sẽ giống như nh́n món ăn ngon chẳng có ích ǵ cho cái bụng rỗng cả!

Nay đặt pháp danh cho ông là Huệ Thành v́ ḷng Thành là cái gốc của đạo. Kẻ chẳng thể mở rộng, sanh trưởng đạo đều do ngu si, không có trí huệ. Nếu có thể do ḷng Thành mà phát khởi Minh (Minh chính là trí huệ), do Minh mà hiển hiện Thành th́ đạo tự được sanh. Thành chính là Minh Đức, Huệ chính là Minh vậy. Huệ lẫn Thành đầy đủ, tức là “minh Minh Đức” (làm tỏa rạng Minh Đức). Minh Minh Đức chính là Thành Minh. Thành thuộc về Tánh Đức, Minh thuộc về Tu Đức. Tánh Đức ai nấy đều sẵn có, nhưng Tu Đức th́ có nghịch hay thuận. Nghịch th́ đọa lạc, thuận bèn siêu thăng. Thuận đến cùng cực ắt sẽ viên thành Phật đạo. Chúng ta không có sức lực ấy, chỉ thuận theo cái tâm rộng hay hẹp, công phu sâu hay cạn để được các thứ lợi ích mà thôi!

Từ Bổn Mậu đă biết tu tŕ, sao lại không thể ăn chay trường? Ấy là v́ nghĩ thịt ăn ngon lành, chẳng nỡ ḷng bỏ vậy! Thử nghĩ t́nh trạng khổ sở, đau đớn của hết thảy những loài sinh vật khi chúng bị giết, há nỡ ḷng nào v́ sướng miệng mà ăn chúng hay sao? Nếu như chính thân ta lâm vào cảnh ấy, há có thể yên tâm muốn người ta giết ḿnh để trám đầy bụng miệng họ hay chăng? Đối với đủ mọi thứ tâm hạnh tham ăn tàn nhẫn, chỉ một lời đă bao quát trọn: “Chẳng suy nghĩ!” Nếu suy nghĩ cặn kẽ, sẽ trọn chẳng dám ăn! Oán nghiệp phải do chính ḿnh giải quyết, ông vẫn cứ muốn ăn thịt bọn chúng th́ tất cả những nỗi khổ trước khi chưa chết đều chẳng đáng gọi là khổ! Đời này ăn thịt bọn chúng, tương lai ắt sẽ có ngày bị chúng ăn lại, đấy thật đáng gọi là “oán nghiệp khó kết thúc”. Lời ông ta nói tựa hồ có cơ duyên tỉnh ngộ, nhưng vẫn c̣n muốn ăn thịt th́ cái ngộ ấy chỉ là nói xuông. Nói xuông sẽ chẳng có ích lợi mảy may nào đâu! Ví như kể chuyện ăn có cứu được cái đói của ông hay chăng? Không phải là Quang ép người khác ăn chay, chỉ v́ điều ông ta mong mỏi và việc ông ta làm hai đằng chẳng phù hợp nên mới tha thiết bảo ban đấy thôi!

Chị và em gái ông đều đă ăn chay trường niệm Phật, tôi nghĩ chắc là do đọc Văn Sao mà ra. Nay sẽ đặt pháp danh cho mỗi người, chị ông là Vân Khanh pháp danh là Huệ Vân, em gái ông là Hạnh Mai pháp danh là Huệ Hạnh. Nếu có thể dùng mây trí huệ để tuôn trận mưa trí huệ thấm nhuần khắp mầm đạo Bồ Đề và nương theo trí huệ để làm chuyện thuộc về bổn phận thế gian lẫn xuất thế gian (chuyện thế gian chính là hiếu, đễ v.v… chuyện xuất thế gian chính là từ thiện, tịnh nghiệp) th́ chính là Huệ Hạnh. Nếu có huệ mà không có hạnh th́ chẳng gọi là chân huệ. Có hạnh mà không có huệ th́ sẽ đâm ra bị đọa lạc. Đấy là ư nghĩa chánh yếu của cái tên đă đặt vậy.

C̣n đối với chuyện giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, giúp chồng dạy con v.v… hăy nên dựa theo những điều đă nói trong Văn Sao để thuật cặn kẽ với bọn họ khiến cho hai người ấy sẽ do đây mà tiến nhập giác đạo thắng diệu của Như Lai th́ sống sẽ là bậc thầy khuôn mẫu cho nữ giới, làm bậc mẫu nghi trong chốn khuê các, lúc mất sẽ giă biệt cơi Sa Bà đầy các nỗi khổ để lên cơi Phật thanh tịnh, chẳng uổng cuộc sống này, chẳng phí dịp gặp gỡ này. Xin hăy nói cặn kẽ với họ về ư này th́ may mắn lắm thay. Đợi khi Gia Ngôn Lục in ra, sẽ gởi cho mỗi người một cuốn để họ tiện thọ tŕ.

 

574. Thư trả lời cư sĩ Chương Đạo Sanh (Thư thứ hai)

Từ Bổn Mậu đă có thể tận lực sám hối túc khiên, trừ sạch đồ mặn tanh tưởi, đúng là chân thật tu tŕ, sửa lỗi cũ, từ nay hăy tu hành để mong khôi phục nguồn tâm sẵn có. Trần Quốc Phủ phát nguyện suốt đời niệm Phật, tụng kinh, chí ấy tốt đẹp lắm; nhưng cần phải phát cái tâm bất thoái lâu xa, đừng có đầu không đuôi! Nay đặt pháp danh cho Từ Bổn Mậu là Huệ Bổn, nghĩa là lấy trí huệ làm gốc, th́ hết thảy những suy nghĩ, lời lẽ, hành vi đều có thể trên hợp với tâm Phật và thiên lư, chẳng đến nỗi vẫn mê muội y như cũ, tạo ác nghiệp, đọa ác đạo. Quốc Phủ pháp danh là Huệ Phủ. Phủ là tiếng xưng hô đẹp đẽ vậy. Nếu có thể thống thiết sửa đổi lỗi trước, tâm giữ chánh niệm, giữ tấm ḷng tốt, nói lời tốt lành, làm chuyện tốt đẹp, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành, tận lực hành những chuyện hiếu, đễ, trung, tín v.v… Lại c̣n chí thành niệm Phật cầu sanh Tây Phương th́ mới đúng thật là Huệ Phủ. Nếu không, chỉ là hư danh mà thôi, nào có ích chi?

Cách thức đối trước đức Phật lănh nhận quy y th́ trong Văn Sao đă có nói rồi. Hăy nên dựa theo đó để nói với ông ta. Chuyện thế gian hay xuất thế gian đều lấy chân thành làm gốc, mong hăy thường phản tỉnh, quán sát lỗi ḿnh, ngơ hầu ngày càng tiến đến chỗ cao minh. Kể từ sau khi sắp chữ Văn Sao xong vào năm ngoái, tất cả hết thảy bản thảo thư từ tôi đều nhất loạt chẳng giữ lại để mong đỡ tốn giấy, bớt việc. Thư từ mặc ông giữ lại hay vứt đi, Quang chẳng cần phải bận tâm đến nữa.

575. Thư trả lời cư sĩ Chương Đạo Sanh (Thư thứ ba)

Đă lâu chưa gởi thư, chẳng biết gần đây ông tu tŕ ra sao. Tôi thường nghĩ đến ông. Nay gởi cho một bộ Văn Sao loại mới in. Bộ này so với bản in năm trước nhiều hơn một trăm trang. Tuy không có văn từ nào nêu tỏ lư tột cùng, nhưng lại có thể tiêu trừ từng điều nghi ngại của kẻ sơ cơ tu Tịnh nghiệp! Lại c̣n có một cuốn Thọ Khang Bảo Giám, hăy nên v́ bọn thiếu niên mà lưu tâm đọc để trong tương lai khi ra khỏi nhà giam trở về nhà, sẽ có cái để làm gốc ḥng cứu vớt hết thảy thân thích, xóm giềng [khỏi phải chết v́ sắc dục].

Tánh t́nh ông khá thông minh, mẫn tiệp. Thường có những kẻ thông minh, mẫn tiệp sử dụng tâm tư sai lầm, chẳng những vô ích mà c̣n gây hại nữa; quả thật là chướng ngại cho nghiên cứu, tu tŕ! Vào tháng Bảy, tôi qua đất Hỗ, đất Hàng, lẩn quẩn ở đấy hơn hai tháng. Có một chàng tuổi trẻ khá thông minh, nhưng những điều anh ta thưa hỏi đều là những thứ chẳng đáng nên để ư. Thật là nực cười, đáng thương quá!

1) Hỏi: Hết thảy hữu t́nh đều có Phật tánh, lớn - bé tuy khác, nhưng đều sợ chết như nhau. Phàm là người phóng sanh, trước hết hăy nên chú trọng đến những loài nhỏ bé th́ sẽ chẳng trái nghịch với thuyết “[cùng có] Phật tánh, sợ chết giống như nhau”.

[Đáp]: Đă biết là giống nhau, cố nhiên nên tùy phần tùy sức tận lực cứu vớt, sao lại luận trước hay sau? Nếu vẫn giảng diễn thông suốt lư sự “Phật tánh giống như nhau, sợ chết chẳng khác” th́ sẽ có lợi ích lớn lao. Cớ sao lại thiên chấp trước - sau?

2) [Hỏi]: Trong nước, trên không, những loài trùng bé tí vô lượng vô biên, theo một hơi thở của con người, chúng sẽ bị hút vào chẳng thể tính được số. [Như vậy th́] nghiệp báo trong tương lai làm sao có lúc kết thúc cho được? Cũng như nói đă biết con người và loài vật tuần hoàn th́ xưa nay các bậc đại Nho thông hiểu Phật lư rất nhiều, sao chẳng chế định ra luật nhằm đoạn trừ chuyện sát sanh? Lại nói: “Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai, há nên giết hại, cũng chớ nên dâm dật”; nhưng trong hôn nhân chánh thức, biết đâu cũng là người thân trong đời trước?

[Đáp]: Ba câu hỏi ấy đều phô ra trí thông minh vặt vănh, lầm lạc tưởng đó là những sự tướng có nghĩa lư hết sức tột cùng. Chẳng những vô ích mà c̣n gây hại! V́ sao? Chớ nên v́ chẳng thể không sát sanh những loài nhỏ tí liền muốn bỏ sạch chuyện phóng sanh những loài thô to! Ví như kẻ thích sạch sẽ, muốn chẳng dính bụi đất, nhưng xét kĩ bên trong thân thể: phân, tiểu, mủ, máu, ngoài thân là hờm (ghét), mồ hôi, tóc, lông, và muỗi, ṃng, rận, rệp suốt ngày thường phóng uế trên thân ta. Do vậy nghĩ cái thân này trong - ngoài đều dơ bẩn, xấu xa, trọn chẳng khác ǵ nhà xí, bèn chẳng thèm sạch sẽ nữa, cứ suốt ngày vui thú trong nhà xí ư?

C̣n như anh ta nói những vị quan lại nổi danh xưa nay, sao chẳng đặt ra luật lệ cấm giết hại sanh mạng loài vật, vẫn là chẳng biết pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian có Quyền, có Thật. Dẫu họ biết là thật, nhưng do ḷng người chưa thể hoàn toàn quy y theo sự giáo hóa của đức Phật, cố nhiên chẳng dễ ǵ dựa theo Thật Lư để chế luật được!

[Cũng giống như] do kính tiếc chữ mà thường nói đến giấy, bởi giấy là vật dùng để viết chữ. Tuy chữ có thể viết nơi các chỗ, trên các vật, nhưng rốt cuộc vẫn chẳng nhiều bằng giấy. V́ thế, thường nói “kính tiếc giấy chữ”! Chứ không phải là chữ được viết trên giấy th́ tiếc nuối, c̣n nếu [chữ] không được viết trên giấy th́ đều chẳng đáng tiếc! Chữ cố nhiên nên tiếc, nhưng ư nghĩa của chữ lại càng đáng tiếc nhất! Nếu con người chẳng nương theo đạo làm người để hành xử, tức là đă quên mất tám chữ “hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ”. Con người mà quên mất đi tám chữ ấy có c̣n đáng gọi là “người” hay chăng? Hăy nên dốc sức vào đấy th́ cái gốc lớn lao đă thành lập, dẫu chẳng thể dứt hết những chuyện làm bẩn [chữ viết] trên hết thảy các vật, nhưng [những chữ] bị làm bẩn đă hiếm hoi hẳn đi!

Quân tử xử sự theo đúng địa vị; phàm những ǵ sức ḿnh không thể làm thấu th́ đều chẳng nên viện cớ “do sức không thể làm được” để phá hoại! Biết sức ḿnh chẳng thể làm được bèn đặc biệt dốc sức nơi những ǵ sức ḿnh làm được th́ chính là đại thiện. Kẻ do sức chẳng thể làm nổi bèn đả phá, bài xích những người có sức làm được, bảo họ đừng làm th́ chính là đại ác! Kẻ thông minh phần nhiều có thứ tà kiến ấy. Thứ ngôn luận này Quang đă từng hay biết, tiếp xúc chẳng biết là bao nhiêu! Chỉ sợ con người chẳng khéo dụng tâm nên đến nỗi vướng lấy tội lỗi!

Do tôi nghĩ “không chừng ông vướng phải thứ tà kiến ấy, hoặc trong số những người cùng hàng [với ông] mang thứ tà kiến ấy”, nếu Quang chẳng trừ khử sẵn, trong tương lai chắc sẽ đến nỗi tự lầm, lầm người. V́ thế, nói đại lược đầu mối với ông! Đối với những thứ ngôn luận tà kiến vừa được Quang chiết phục ấy, cố nhiên nếu chẳng bỏ công trọn mấy hôm sẽ chẳng thể viết đầy đủ hết được! “Đôn đốc luân thường, khác tận kỷ phận, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành” (Giữ vẹn luân thường, nghiêm túc trọn hết bổn phận, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành), mười sáu chữ ấy là cái gốc để “sống sẽ dự vào bậc thánh hiền, mất về cơi Cực Lạc”. Nguyện học tṛ tôi kính cẩn vâng giữ, tận lực thực hiện th́ may mắn lắm thay!

Ḷng Thành đến cùng cực, đá vàng sẽ nứt! Hơn nữa, “thực ít, hơn dối nhiều, khéo quá chẳng bằng vụng!” Khi ông Hoàng Hàm Chi giữ chức Đài Đạo ở Ninh Ba và Thiệu Hưng, phát tâm ăn chay trường, khuyên mẹ cũng nên ăn chay. Nhưng dọn thức ăn chay ra, bà cụ chỉ ăn cơm không. Hoàng Hàm Chi gởi thư hỏi tôi phải làm theo phương cách nào; Quang dạy ông ta thay mẹ chí thành sám hối để nghiệp tiêu th́ cụ sẽ ăn chay được! Chưa đầy một tháng cụ liền ăn chay trường.

Con gái ông Thích Tắc Châu mười chín tuổi, hai mắt mất ánh sáng, đưa tay ngay trước mặt cũng chẳng thấy được, gởi thư đến báo. Khi ấy, ông ta ở tại Tam Thánh Đường trên núi [Phổ Đà], được tin liền vội về nhà, đưa con gái sang ni am ở Hàng Châu. Quang bảo ông ta viết thư cho con gái, khuyên cô ta chí thành niệm thánh hiệu Quán Âm. Chưa đầy một tháng, [cô ta] liền đích thân viết thư báo tin đă lành bệnh. Một phụ nữ từ năm mười sáu tuổi bị bệnh khí đông, mỗi ngày ắt lên cơn hai ba lượt, lúc lên cơn, đau đớn gần muốn mất mạng, nay đă năm mươi sáu tuổi, đến xin quy y. Quang dạy bà ta chí thành niệm Quán Âm và cho một phương thuốc, tức toa cai thuốc phiện trong bộ Văn Sao, nhưng không thêm thuốc phiện. Bà ta liền sắc một liều, vừa mới uống lần đầu đă không c̣n đau nữa. Chữa trị đủ thầy lẫn thuốc suốt bốn mươi mốt năm mà không sao dứt được căn bệnh dai dẳng ấy, nay vừa uống thuốc một lần liền hoàn toàn b́nh phục! Nếu bà ta không chí thành niệm danh hiệu Bồ Tát há có gặp được phương thuốc này hay chăng?

Ba người này đều là dùng sức ít mà được hiệu quả lớn lao, là v́ ḷng Thành vậy! Ông than không có cách nào chữa lành căn bệnh dây dưa của mẹ, Quang trách ông sao không dùng niệm Phật để cầu cho mẹ tiêu được nghiệp? Ông liền viết là “đă lễ Phật biết bao lần, vẫn chẳng thấy hiệu nghiệm!” Do vậy tôi mới viết “thực ít, hơn dối nhiều”. Nếu ông thật sự chân thật lễ bái tŕ tụng như thế mà căn bệnh dây dưa của mẹ ông chẳng lành, Quang sẽ mù mắt, trời đất sẽ đổi ngôi, mặt trời, mặt trăng xoay ngược. Há có lẽ ấy hay chăng?

Quang sợ ông chưa thấu hiểu ư tột cùng của một chữ Thành, nên mới đặt pháp danh cho ông là Huệ Thành, [do chuyện này] liền biết ḷng Thành của ông nằm trên ngọn bút chứ không phải ở trong tâm! Nếu ở nơi tâm, trọn chẳng đến nỗi tu tŕ như thế mà hoàn toàn chẳng được lợi ích ǵ! Ông muốn sống làm học tṛ của thánh hiền, mất đi sẽ vào cơi Cực Lạc th́ cần phải hoàn toàn đem cái tâm tướng hư giả vứt ra ngoài biển khơi, nghiêm túc tu hành thật sự. Hễ nói được th́ phải làm được, hễ làm không được bèn chẳng chịu nói. Được như thế th́ tổ tông, cha mẹ của ông đều được rạng mày nở mặt lớn lao. Quang cũng nhờ vào công đức thật hành của ông mà tiêu trừ tội nghiệp. Nếu do Quang chẳng thể tận mắt thấy được, liền cứ tùy tiện nói dối, dẫu cho Quang tưởng là thật đi nữa, th́ trời đất, quỷ thần, Phật, Bồ Tát cũng tưởng là thật hay sao? Ông đă có cái tâm ấy th́ chính là bất hiếu v́ đă dối cha mẹ, dối thầy, dối Phật! Đối với cha mẹ và thầy mà có thể thật sự dối trá được sao? [Chỉ là] ông tự dối ḿnh đó thôi!

Do thấy ông c̣n hiểu lư, Quang mới nhiều lần cảnh tỉnh, răn nhắc! Nếu nghĩ Quang là sai, xin từ nay đừng nên thư từ qua lại nữa th́ hơn! “Quân tử khả khi dĩ kỳ phương, nan vơng dĩ phi kỳ đạo” (Có thể dùng lời lẽ hợp lư để lừa quân tử, chứ khó thể dùng lời phi lư để dối gạt được). Chẳng phải là Quang ăn nói quá gắt gao, mà là v́ ông ăn nói trước - sau không phù hợp, nhưng những chuyện ấy đâu phải là do ông ở trong nhà tù rồi sẽ không thể thực hiện được! Quang tuy vô đạo đức, nhưng đă sống trên đời sáu mươi tám năm, nên rất khó thể bị dối gạt bởi những chuyện chẳng hợp t́nh hợp lư! Xin hăy thống thiết sửa đổi. Nếu không, sẽ là tội nhân chung thân của cả Nho lẫn Thích đấy!

 

576. Thư trả lời cư sĩ Chương Đạo Sanh (Thư thứ tư)

Nhận được thư, biết bọn họ vẫn có thể thực hành, vui mừng, an ủi đến cùng cực! Mẹ ông bệnh đă ba mươi mấy năm, sao chẳng chí thành niệm Phật và niệm Quán Thế Âm để hồi hướng cho mẹ, và đem chuyện này khuyên vợ và con cái cũng niệm như thế? Phận làm con tu tŕ cho cha mẹ, nếu tâm chân thành ắt sẽ có cảm ứng lạ lùng! Hăy nên gởi thư uyển chuyển khuyên chính mẹ ông cũng niệm như thế. Nếu từ đây c̣n có thể sanh ḷng tin, chân thật hành th́ căn bệnh lâu năm sẽ trở thành bậc đạo sư hướng dẫn xuất thế.

Nay thuận theo ư ông, cũng đặt pháp danh cho mẹ ông để mong thật sự thêm một cành hoa sen trong ao bảy báu cơi Tây Phương. Nay đặt pháp danh cho cụ là Đức Siêu, nghĩa là nhất tâm niệm Phật, vượt khỏi trần lụy thế gian trong hiện tại. Do lúc chưa niệm Phật th́ ḷng hoàn toàn đặt nơi trần lụy; đă có thể nhất tâm niệm Phật sẽ chẳng thấy trần lụy động được cái tâm. Đấy chính là do trần lụy mà vượt trỗi được trần lụy vậy! Lâm chung vượt thoát tam giới, lên thẳng chín phẩm sen. Chẳng những không bị bệnh khổ mà c̣n có thể cứu vớt hết thảy chúng sanh bệnh khổ cùng ĺa các khổ, cùng hưởng các sự vui.

Phận làm con phụng sự cha mẹ, lấy hầu hạ, phụng dưỡng làm nền tảng ban đầu, lấy lập thân hành đạo làm cái gốc lớn lao. Nếu trong tâm khởi lên tà niệm, đấy chính là bất hiếu! Hăy nên lập tức sám trừ cho sạch, ngơ hầu tâm này không lúc nào, không niệm nào chẳng xứng với thiên địa quỷ thần, ấy là nền tảng đă lập. Lại c̣n dùng ḷng tín nguyện niệm Phật, công phu chân thật, thiết tha, th́ sống sẽ dự vào bậc hiền thánh, mất về cơi Cực Lạc, ai ngăn cản được?

Nếu như miệng nói tu tŕ, tấm ḷng chẳng lành, muốn mạo danh “chánh nhân quân tử, chân thật tu tŕ” th́ sẽ trở thành gă chân tiểu nhân mưu mẹo, man trá, vô liêm, vô sỉ! Vốn muốn khinh người, rốt cuộc trở thành tự khinh! Những kẻ như thế đều vốn là hạng đại thông minh, có bản lănh lớn lao, há chẳng đáng buồn quá đỗi ư? Ví như [gươm báu] Can Tương, Mạc Da chặt ngọc như bùn, đem dùng để chặt bùn th́ bùn chẳng thành được ǵ, chỉ hao hụt sức bén nhọn! Nguyện ông thấu hiểu lời Quang, dốc ḷng thực hiện th́ thánh hiền, Phật, Bồ Tát, há lẽ nào chuyên ở tận đâu đâu, chẳng ở tại nơi ta ư?

Kinh Thư nói: “Chỉ v́ thánh mất niệm mà thành cuồng, chỉ do cuồng khắc chế được ư niệm mà thành thánh”. Kinh Phật dạy: “Trong thế gian có hai hạng người mạnh mẽ, một là tự chẳng tạo tội, hai là gây tội rồi biết hối”. Sửa lỗi chẳng tiếc nuối chính là phương cách để mong thành thánh của Nho gia; bộc bạch tội khiên chính là điều trọng yếu để đệ tử Phật khôi phục cái gốc. Thư từ mấy năm, ông vẫn chưa thể bày tỏ lỗi ḿnh lần nào! Do Quang thấy ông c̣n chịu phát tâm tu hành nên cũng không truy tới quá khứ của ông, vẫn viết thư, tặng sách cho ông, mong ông sống sẽ dự vào bậc thánh hiền, mất sẽ lên cơi Cực Lạc. Nào biết ông vẫn giả dối tô chuốt lời lẽ, mà vẫn chẳng thấy đó là dối người!

Nay thấy ông nói trước kia đă từng tịnh tọa ba năm, đối với Tinh Thần Học khá có tâm đắc khiến Quang đau ḷng! Ông đă có thể như thế, sao lại làm những thứ hành vi như thế. Một năm là đă quá nhiều, huống chi lại mấy năm! Mười mắt, mười tay, cùng thấy, cùng nghe, tính muốn dối Quang há có được chăng? Ông thấy thư này nếu có thể thống thiết sửa đổi tâm trước th́ vẫn chưa trễ tràng. Nếu không, tôi sẽ vĩnh viễn tuyệt giao, mặc cho ông đạo học cao siêu trùm lấp cơi đời, Quang chẳng can dự!

Con người với tấm thân chỉ bảy thước lại sánh với trời đất cùng mang tiếng là Tam Tài là v́ có thể thay cho trời giáo hóa, tham dự giúp đỡ sự sanh thành dưỡng dục của trời đất. Nếu không, con người xấu hèn hơn cầm thú đến trăm ngàn lần! V́ thế, Mạnh Tử nói: “Kỳ cơ hy” (chẳng khác chi lắm), há nào phải chỉ “kỳ cơ hy” mà thôi! Trước đây, nhà tù Tào Hà Kính gởi tới hai ngàn cuốn kinh do ông Sài Dă Ngu đặt in, nay tôi bảo gởi mười cuốn để làm hướng dẫn cho những liên hữu cùng ở [trong trại giam]! Mong ông hăy suốt đời đọc thuộc lá thư Quang gởi cho ông Ngu th́ sẽ do ngay nơi “phước đường” (nhà tù, thời cổ gọi trại giam là Đường) này liền đạt đến cơi Cực Lạc.

Nay gởi cho ông một gói An Sĩ Toàn Thư, một gói Thọ Khang Bảo Giám gồm hai mươi lăm cuốn, Văn Sao th́ đă bảo Chiết Giang Ấn Loát Công Ty gởi cho ông ba gói sách để tặng cho chú bác trong nhà ông và các huynh đệ đọc; nhưng cần phải răn nhắc họ cung kính, đừng khinh nhờn. Nếu chẳng thể đọc được xin hăy tặng lại cho người thông văn lư, có tín tâm, ngơ hầu chẳng đến nỗi do phước mà mắc họa! Những điều khác không rảnh rỗi để nhắc đến, chỉ đọc kĩ trong Văn Sao sẽ tự có cái để làm khuôn phép. Lá thư gởi cho Sài Dă Ngu có thể coi như là giáo huấn thiết thực cho hết thảy mọi người mong thành thánh, thành hiền, học Phật, học Tổ, chứ không phải chỉ là giáo huấn thiết thực dành riêng cho kẻ sống trong Phước Đường!

 

577. Thư trả lời cư sĩ Thí Tông Đạo

Ba hôm trước nhận được di cảo của cha ông, biết nhà ông tổ đức rất sâu. Làm phận con muốn cho cha mẹ được vẻ vang, hăy nên lấy giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành làm gốc. Nếu không, dẫu cho tổ phụ công đức mỗi mỗi đều chói ngời, nhưng thân ta chẳng hành đạo, đâm ra khiến cho cha mẹ bị nhục! Nước ta loạn lạc từ xưa đến nay chưa từng có, cái gốc họa là v́ Tŕnh - Châu đả phá nhân quả, cho là “Phật gạt gẫm ngu phu, ngu phụ!” Lại c̣n hiểu “trí tri cách vật” sai be sai bét! Bác nhân quả th́ không có cái gốc để trị quốc, trị dân. Hiểu sai “cách vật” thành “thấu hiểu cùng tận lư của mọi sự vật trong thiên hạ” th́ mấy ai có thể làm được!

Trong bản Tục Biên Di Cảo của cha ông đă giảng: [Đạt đến] “trí tri” là do nơi “cách vật”, giảng giải khá rộng răi, nhưng thật ra vẫn chưa phải là căn bản để thành ư chánh tâm; bởi lẽ, chữ Vật ấy chỉ cho những tư dục trong tâm. Một khi trừ được tư dục trong tâm rồi th́ đúng đúng, sai sai, trọn chẳng lầm loạn! Hễ có tư dục th́ chẳng biết được lẽ chánh, như gă yêu vợ thương con, dẫu vợ con không tốt, hắn trọn chẳng biết là không tốt, do v́ tư dục yêu mến đă ngăn chướng, che lấp chân tri rồi! Tŕnh - Châu hiểu sai [chữ “vật” trong “cách vật”] là “ngoại vật” (vật chất ở bên ngoài cái tâm) nên chỉ nói đến chánh tâm thành ư, chứ không nhắc đến “trí tri cách vật”. Hễ lầm lẫn chỗ này th́ ai nấy chẳng dụng công nơi trừ khử tư dục. Đấy chính là một sự đại bất hạnh cho nền học thuật của nước ta!

Cụ cố của ông là bậc quân tử tận tụy thực hành, ba anh em ông hăy nên vâng theo đức của người đời trước mà tận lực hành thiện pháp thế gian lẫn xuất thế gian để tự lợi, lợi người th́ trên là làm rạng mày nở mặt cụ cố, dưới là tạo khuôn mẫu tốt đẹp cho con cháu, mà cũng làm gương mẫu tốt đẹp cho cả làng, cả ấp. Sự vinh hiển ấy làm sao diễn tả cho xuể? Chị ông là Thanh Liên thật hiền, điều này có thể thấy qua lời răn dạy của cha ông. Do đấy biết nề nếp giáo dục trong gia đ́nh của cha mẹ ông; cố nhiên Quang nào dám múa lưỡi! Nhưng cha con ông đă coi Quang là thầy, nên chẳng ngại ǵ dùng thân phận một vị thầy để khuyên răn, khích lệ!

 

578. Thư trả lời cư sĩ Tế Huệ

Sáu mươi mấy tuổi! Chẳng c̣n là khách lâu ngày trong cơi đời nữa đâu! Hăy nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, [tha thiết, chân thành] như chôn cha mẹ, như cứu đầu cháy. [Đặt cho ông] pháp danh là Tông Huệ, nghĩa là dùng pháp này để cứu vớt khắp hết thảy. Quang già rồi, mục lực lẫn tinh thần đều chẳng đủ, chẳng thể viết khai thị tường tận. Nay gởi cho ông hai gói sách, xin hăy chí thành cung kính đọc th́ không mối nghi nào chẳng cởi gỡ, có nguyện ǵ đều được! Từ nay về sau đừng gởi thư đến nữa, do tôi không có sức để thù tiếp!

 

579. Thư trả lời cư sĩ Tông Nghĩa

Chuyện thọ giới tùy theo ư nguyện của ḿnh. Thọ lại cũng được, mà không thọ lại cũng chẳng sao. Ông muốn đắp y th́ hăy nên tuân theo cấm chế của đức Phật mà mặc mạn y, đừng dùng y năm điều. Mạn y chính là loại y gồm năm miếng dài, c̣n y năm điều là y gồm [năm miếng dài ghép lại, nhưng mỗi miếng lại cắt ra] thành [hai miếng] một miếng dài, một miếng ngắn. Hiện thời phần nhiều sử dụng bừa băi!

Người tại gia không nhất định phải đắp y; nếu [đắp y sai loại] trái với cấm chế của đức Phật, chẳng thà không đắp y có tốt hơn hay không? Đối với chuyện đốt hương trên đỉnh đầu hay trên cánh tay vốn là nhằm để phát tâm cúng Phật, chứ không phải là đốt hương để thọ giới! Xin hăy chú trọng chân tu, đừng chỉ mong cầu nơi h́nh thức hư danh th́ may mắn lắm thay!

 

580. Thư trả lời cư sĩ Thang Cẩm Trung

Ngày Hai Mươi Tám tháng Ba, Quang nhận được thư của ông Vương Hải Tuyền từ bưu cục Nhị Giáp ở Hải Môn gởi đến, cho biết bọn ông X… đă vâng theo lời phủ dụ từ đàn cầu cơ, liên lạc các giới nông, công, thương, giáo dục, quân đội, chánh khách trong bốn huyện Nam Thông, Hải Môn, Khải Đông, Như Cao, thiết lập đạo tràng cầu cho thế giới ḥa b́nh, đă thành lập được mấy chục nơi. Quang bảo ông Vương: “Từ nay trở đi, bất luận người đă quy y hay chưa quy y trong bốn huyện ấy tôi đều chẳng trao đổi thư từ với họ. Dẫu họ có gởi thư bảo đảm tới, tôi cũng để nguyên thư trả lại nhằm khỏi bị bọn X… lôi kéo Quang vào chuyện cầu cơ! Bởi lẽ, các cơ quan Phật giáo trong bốn huyện đều bị bọn chúng hiệu triệu, Quang chẳng lọt bẫy chúng! Người đời sau sẽ chẳng thể đem chuyện cầu cơ hoại loạn Phật pháp bắt tội Quang được!”

Ngoài thư xin quy y ra, các hạ chưa nêu rơ tên huyện. Nếu ghi rơ tên huyện, thư sẽ bị gởi trả lại, quyết chẳng bóc ra. Nay đă bóc ra xem, thấy ông đă lôi kéo được ba người giới thiệu, có thể thấy được ḷng Thành; do vậy bèn đặt pháp danh là Huệ Chánh, nhưng vẫn để nguyên thư [của những người giới thiệu] gởi trả lại để lần sau họ khỏi gởi thư tới nữa!

Ông X… vốn là bậc quân tử hậu đức, hồi c̣n dạy dỗ học sinh trong ngành giáo dục, do dụng tâm quá độ bị bệnh, thuốc Tàu lẫn thuốc Tây đều chẳng thể chữa lành, có người bạn khuyên niệm Phật, liền dần dần khỏi bệnh. Năm Dân Quốc 11 (1922), Quang từ Phổ Đà đến chùa Thái B́nh ở Thượng Hải, ông ta thường đến thăm. Năm sau, ông ta trở về quê khuyên người khác ăn chay niệm Phật có cảm ứng lớn lao. Mười mấy năm qua vẫn chưa biến đổi. Gần đây mê đắm chuyện cầu cơ, Quang biết được bèn cực lực chỉ rơ điều lợi lẽ tệ của việc cầu cơ, nhưng ông ta đă được [những linh quỷ giáng cơ mạo danh thần tiên] khen ngợi đến nỗi mất trí điên cuồng, chẳng những không nghe lời Quang khuyên mà c̣n đem thư Quang đốt đi. Cuối thư Quang gởi cho ông ta có câu: “Nếu chẳng coi lời Quang là đúng th́ hăy giao cho ngọn lửa”. Ông ta viết thư trả lời Quang: “Tôn dụ đọc xong liền giao cho ngọn lửa”, lại c̣n gởi mấy bài cơ bút khen ngợi Quang, muốn mê hoặc Quang. Quang bảo: “Bậc thánh nhân đắc đạo, quyết chẳng khen ngợi người khác quá lố như thế! Do một chuyện này, có thể biết đấy là linh quỷ giả mạo!” Sau khi đem nguyên thư gởi trả lại, ông ta lại gởi mấy bài [cơ bút] nữa! Quang nói: “Tuy họ khen ngợi Quang, càng khiến Quang chán ngán. Ai có chí nấy, mỗi người thấy đúng - sai mỗi cách. Từ nay về sau, đừng gởi cho tôi một chữ nào nữa!”

Quang không có sức hoằng pháp, nào dám dùng cách cầu cơ tưởng chừng như là đúng mà [thật ra là] sai để hoại loạn Phật pháp ư? Nói đến cái lợi của cầu cơ th́ những hành động tốt lành như cứu trợ tai ương v.v… quyên mộ đều chẳng được mấy. Những lời giáng cơ th́ ai cũng chẳng dám trái nghịch, nhưng thật ra quá nửa là do người vịn cơ bút ngụy tạo, chứ chưa chắc đă đều phải là do linh quỷ giả mạo, huống là chân tiên ư? C̣n bảo là của Phật, Bồ Tát giáng cơ th́ càng chẳng cần phải nói nữa! Điều này tuy có lợi, nhưng quả thật đă dẫn khởi điều tệ. V́ thế, chẳng muốn nhận lấy cái hại của thói tệ ấy, mà ngay cả điều ích lợi của nó cũng chẳng dám nhận! Xin hăy dựa theo pháp môn Tịnh Độ để tự hành, dạy người và đưa thư này cho ba người giới thiệu xem ngơ hầu bọn họ đều biết rơ nguyên do. Đừng gởi thư tới nữa để chẳng đến nỗi lầm lẫn sanh ḷng oán cừu!

 

581. Thư trả lời cư sĩ Huệ Hải (Thư thứ nhất)

Nhận được thư đầy đủ, nhưng v́ gặp đúng kỳ [thiện tín tới Phổ Đà] dâng hương nên bận rộn chẳng thể trả lời ngay được! Hôm trước, tôi đă nhờ pḥng kế toán chùa Thái B́nh ở Thượng Hải gởi [cho ông] một trăm bộ Văn Sao. Nếu sách sắp hết th́ có thể giảm số lượng xuống một nửa, đều gởi bằng thư bảo đảm; họ sẽ gởi ngay. Nếu ở Tân Giang có nhiều người muốn thỉnh th́ khi Quang sang Thượng Hải sẽ gởi một trăm bộ nữa để mong kết duyên, khoản tiền ấy không cần phải gởi trả! Nhưng ai có thể đứng ra in Quán Âm Bồ Tát Tụng th́ không nguyện nào chẳng được chu toàn, sẽ dần dần cảm hóa được quyến thuộc, lâu ngày họ sẽ đều được cảm hóa mà không hay không biết; nhưng điều ấy tùy thuộc cái tâm của chính ḿnh có chân thành hay không? Nếu chính ḿnh vẫn theo thói sáo rỗng, bày vẽ giả dối bề ngoài th́ sẽ không có sức cảm hóa, ngược lại c̣n chuốc lấy nỗi nhục bị phỉ báng. [Bởi lẽ], pháp thế gian hay xuất thế gian đều lấy thân làm gốc!

Thư từ b́nh thường chỉ nên dùng những chữ dễ nhận biết là được rồi, cần ǵ phải cố ư dùng từ ngữ tinh xảo, bóng bảy, đến nỗi người đọc không hiểu trọn vẹn! Hết thảy những thiện sự đều xin tùy hỷ, [làm được những việc ấy] quả thật là đại Bồ Đề tâm. Đợi sau này khi có lúc rảnh rỗi, sẽ tŕnh bày cặn kẽ nhân duyên thành lập Viện Mồ Côi chùa Pháp Vân, xin ông hăy tùy tâm tán trợ. Trong Văn Sao đă có hai bài sớ về chuyện này, [đọc hai bài sớ ấy] chắc sẽ hiểu được ư [của những người đứng ra xướng suất]. Chuyện ấy không do Quang đề xướng mà do các vị như Ngụy Mai Tôn v.v… (Mai Tôn giữ chức quan Hàn Lâm vào đời Thanh trước kia, đến thời Dân Quốc bèn ẩn cư, đủ biết tánh t́nh khẳng khái của ông ta) lôi kéo Quang vào đấy để giúp phần náo nhiệt vậy!

 

582. Thư trả lời cư sĩ Huệ Hải (Thư thứ hai)

Nhận được thư đầy đủ. Ông nói đến bệnh cũ, chắc đă lành hẳn rồi. Đă nhận được hối phiếu, đừng lo. Sự văng sanh của Không Tam tuy kỳ lạ, nhưng thật ra hết sức b́nh thường, chẳng có mảy may lạ lùng, đặc biệt ǵ! Như người trở về nhà, hễ muốn đi liền đi. Nếu trước hết chẳng quét dọn tâm địa cho sạch sẽ th́ sẽ bị nghiệp lôi kéo, chính ḿnh cũng chẳng thể làm chủ được mảy may nào, chỉ đành theo nó đi. Chuyện ấy nếu là thật th́ ngài Đế Nhàn và sư Đàm Hư sẽ tự ghi chép để làm rạng rỡ môn đ́nh, chẳng cần đến ông và tôi nhọc ḷng lo thay cho họ!

C̣n đối với chuyện cưới gả của con cái hiện thời th́ một khi nó đă tự quyết định, chỉ đành thuận theo nó. Nếu không, sau này bọn chúng chắc sẽ buông lời oán trách. Tuy nói là “không thốt ra lời oán trách nào”, nhưng một mai t́nh yêu gần cạn th́ những kẻ ly hôn, đi lấy người khác chẳng biết số đến bao nhiêu! Nước nhà sắp hưng thịnh th́ luân thường, kỷ cương ắt sẽ chấn hưng; nước nhà sắp suy bại ắt luân thường, kỷ cương sẽ lỏng lẻo, bỏ phế! Đă chẳng nói ǵ đến luân thường, kỷ cương, th́ c̣n nói ǵ đến gia giáo nữa? Gia giáo (giáo dục trong gia đ́nh) đă không có th́ đất nước há có người hiền được ư? Đấy là một điều đại bất hạnh cho nước ta! Nếu chuyện con cái đă xong xuôi rồi th́ hăy để mặc cho chúng nó tự chủ trương nhằm chống đỡ thể diện theo kiểu mới của bọn chúng! Chúng ta hăy chuyên tâm niệm Phật để tu pháp môn cũ kĩ của chúng ta th́ đôi bên đều được thoải mái, ngơ hầu chẳng đến nỗi phải lo lắng quá sức về chuyện con cái để rồi đại sự sanh tử của chính ḿnh xôi hỏng bỏng không!

 

583. Thư trả lời cư sĩ Huệ Hải (Thư thứ ba)

Niệm kinh, niệm Phật đều có thể siêu độ vong nhân. Chỉ có điều niệm Phật th́ có thể không gián đoạn, chứ niệm kinh chẳng thể không gián đoạn như niệm Phật được! Hơn nữa, niệm kinh tốn sức hơn niệm Phật. Do vậy, Quang thường khuyên người khác niệm Phật. Ông phát nguyện niệm Địa Tạng Kinh rất tốt.

Gần đây, Mai Tôn rất chân thật niệm Phật, lo toan thực hiện những nghĩa cử tốt lành. Nói ông ta xuất gia chính là lời đồn. Chí thành, cung kính quả thật là cái gốc để mong thành hiền, thành thánh, học Phật, học Tổ. Hễ tâm con người chú trọng nơi cung kính th́ hết thảy những cái tâm phóng túng, tà vạy, xa xỉ sẽ tự không c̣n do đâu dấy lên được nữa! Ông đă chân thật hành tŕ như thế, cũng phải nên khuyên vợ con tùy phần tùy sức tu tŕ th́ mới đúng là đạo “tự lợi, lợi người từ thân đến sơ” ngơ hầu ai nấy tâm đều được tương ứng với Phật.

 

584. Thư trả lời cư sĩ Huệ Hải (Thư thứ tư)

Nhận được thư cho biết Hoàng Đích Viên sẽ sang Thượng Hải thăm viếng. Ngày hôm qua ông ta có tới đây, tán gẫu về duyên do giữa Tịnh và Mật. Căn bệnh của người học Mật Tông là “muốn đắc thần thông, muốn thành Phật ngay trong thân hiện tại”. Hễ hỏi đến th́ ai cũng nói không có ư niệm ấy, nhưng thật ra, không một ai chẳng có ư niệm đó! Bởi lẽ, trước hết người xướng suất hướng dẫn đă dùng thần thông để thu hút, lay động kẻ khác th́ người học sao lại chẳng có ư niệm ấy cho được? Ngày hôm qua có khoảng năm sáu vị, chứ không phải một ḿnh ông Hoàng. Bọn họ có tin tưởng hay không, tôi chẳng bận tâm! Bọn họ học Mật mà hồi hướng Tịnh Độ cố nhiên là chánh lư; chỉ sợ bọn họ đă coi rẻ sự văng sanh Tịnh Độ, chỉ muốn thành Phật ngay trong thân hiện tại th́ chắc sẽ đến nỗi mắc bệnh!

Nếu bọn họ không có thứ tri kiến ấy sẽ trọn chẳng đến nỗi khen ngợi Đại Ngu. Đă khen ngợi Đại Ngu tức là coi những ǵ Đại Ngu đă nói là lời luận nghị hết sức xác đáng! Nhưng đệ tử “thành Phật” của Đại Ngu hoàn toàn không có những biểu thị cho thấy họ đă thành Phật! Đủ thấy ông ta hứa khả người khác đă [chứng đắc] bừa băi để mong được người đời cung kính cúng dường, tôn xưng ḿnh là vị cao tăng đă thành Phật. Ông ta phạm đại vọng ngữ, mắc tội “đem phàm lạm thánh” quả thật chẳng nhỏ!

Chúng ta chỉ nên giữ lấy cách tu tŕ Tịnh Độ, nhường cho hết thảy mọi người đều được thành Phật để độ bọn ta th́ may mắn chi hơn? Hai đứa con trai ông cùng đến Bắc B́nh (Bắc Kinh), hăy cực lực khuyên chúng nó học hành giỏi giang. Muốn học hành giỏi giang th́ trước hết phải bắt đầu bằng lập chí, lập phẩm đức, biết nhân, rơ quả. Không lập chí th́ sẽ không có ǵ để hướng về. Không lập phẩm đức th́ việc làm bị kém hèn, nhơ bẩn. Không biết nhân quả th́ không thể ngăn chặn tà niệm ḥng giữ được ḷng Thành, ắt sẽ đến nỗi lọt vào phường tiểu nhân mà không hay biết!

 

585. Thư trả lời cư sĩ Huệ Hải (Thư thứ năm)

Nhận được thư đầy đủ, ông đă ăn chay niệm Phật, hăy nên làm cho quyến thuộc cùng được hưởng vô thượng lợi ích ấy th́ mới là đạo tự lợi, lợi tha. Thế đạo hiện thời là thế đạo hoạn nạn. Nếu chẳng tu tŕ sẵn, rốt cuộc chẳng biết sau này sẽ nguy hiểm ra sao! Nếu có thể chí thành niệm Phật và niệm Quán Âm th́ sẽ được gia hộ ngấm ngầm. Trước đây, tôi sợ Văn Sao đă phát ra hết, nay thầy Chân Đạt từ chùa Thái B́nh trở về núi, cho biết hăy c̣n mấy trăm bộ. Nếu ông muốn kết duyên th́ tôi sẽ gởi tới ba bốn chục gói (mỗi gói là ba bộ), chẳng cần phải thỉnh từ Thương Vụ Ấn Quán là loại sách in bằng giấy có độ bóng.

Đối với những lời tôn kính thừa thăi th́ ở nơi xa bất tiện, chẳng cần phải bắt chước theo thói tục sáo rỗng ấy. Ngay như với những bộ Văn Sao đă gởi, cũng đừng gởi tiền [thỉnh sách] tới, v́ những sách ấy vốn nhằm để kết duyên. Nếu có thể khiến cho người nơi đất Cáp (Cáp Nhĩ Tân: Harbin) đều cùng sanh ḷng tin th́ lợi ích lớn lao thay! Đợi đến mùa Thu khi Quang sang Thượng Hải sắp chữ cuốn Đại Sĩ Tụng xong, thương lượng giá thành ổn thỏa, thích đáng, sẽ in một chương tŕnh gởi kèm theo thư để ông tự đứng ra bỏ tiền in, hoặc khuyên người khác bỏ tiền ra in, ngơ hầu sách được lưu truyền rộng răi th́ sẽ vô cùng lợi ích.

Ông đă tŕ tụng các kinh như Kim Cang v.v… th́ cũng chẳng cần phải bỏ [không tŕ tụng nữa], nhưng phải đều đem hết công đức tŕ kinh tụng chú hồi hướng văng sanh th́ lục độ, vạn hạnh sẽ đều trở thành trợ duyên văng sanh. Đấy chính là viên tu vậy!

 

586. Thư trả lời cư sĩ Huệ Hải (thư thứ sáu)

Năm mới đă đến, chúc ông đứng - ngồi hưởng phước, các duyên như ư. Ngày Hai Mươi Chín tháng Chạp, Ngụy Mai Tôn từ Nam Kinh gởi thư đến có kèm theo thư ông, cho biết đă đảm nhiệm in hơn ba ngàn cuốn Đại Sĩ Tụng, tôi cảm thấy vui mừng, may mắn khôn cùng! Ông nói đến chuyện lệ phí chuyển tiền, bưu phí v.v… th́ Quang đă ứng ra rồi. Do Cáp Nhĩ Tân xa xôi, dẫu không có ai đứng ra bỏ tiền in, cũng sẽ gởi chừng đó bộ để sự giáo hóa từ bi của Đại Sĩ được biết đến rộng răi. Món tiền ấy bất quá một hai trăm đồng, cần ǵ phải tính toán chi ly vậy?

Đại Sĩ Tụng đă được sắp chữ xong, tổng cộng hai trăm lẻ sáu trang, thêm hai trang ghi tên công đức, thành ra hai trăm lẻ tám trang. Mỗi bộ sẽ tốn thêm một xu th́ một ngàn bộ sẽ phải tốn thêm mười đồng, nhưng chẳng cần phải gởi bù khoản tiền ấy. Như sau này có ai muốn bỏ tiền ra in, hỏi tới th́ hăy đem chuyện này bảo với họ để họ biết nguyên do.

Đối với khoản tiền đă gởi, nếu lần này Trung Hoa [Thư Cục] đă giao biên nhận th́ thôi. Nếu như sau này có ai gởi tiền th́ bất luận bao nhiêu người cũng chỉ gởi một biên lai chung cho người đứng ra gởi tiền, chẳng cần phải giao biên lai cho từng người, bởi lẽ chuyện này khác với quyên mộ để làm thiện sự. Chuyện này sẽ có sách để giao cho người ta th́ cần ǵ phải giao biên lai nữa? Người đứng ra gởi tiền hễ nhận được biên lai liền biết món tiền đem gởi đă được giao tới nơi không bị thất lạc là được rồi! Lúc sách in xong, đa số sách ấy sẽ do công ty chuyển vận gởi đến tận chỗ ở. Xin hăy dựa theo danh sách quyên mộ để phân phát th́ so ra sẽ ổn thỏa, thích đáng hơn!

Mai Tôn chẳng ở tại Thượng Hải, v́ thế gởi thư của ông cho Quang, nhờ báo với Trung Hoa [Thư Cục] rằng: “Đối với chuyện ghi tên người làm công đức, hăy nên dùng biện pháp đỡ tốn giấy: Từ mười đồng trở lên th́ đề tên, c̣n dưới mười đồng th́ chỉ ghi tổng cộng in bao nhiêu bộ là được rồi”. Do [mỗi bộ] đỡ tốn một trang giấy th́ hai vạn bộ sẽ tiết kiệm được ba mươi đồng, mười vạn bộ sẽ tiết kiệm được một trăm năm mươi đồng. Huống chi đă có sách giao cho họ, chẳng đến nỗi bị dị nghị, cho là đă mất tiền xuông v.v… Nêu tên người làm công đức và số sách [đứng in] th́ một là để nêu rơ thiện tâm của người đứng ra bỏ tiền in, hai là để nêu rơ người ấy đă lưu thông bao nhiêu đó cuốn.

587. Thư trả lời cư sĩ Huệ Hải (Thư thứ bảy)

Hôm qua, cư sĩ Kiếm Thanh đến đây, cầm theo thư ông, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Lễ giáo thế gian suy vi, chuyện cưới gả phần nhiều chú trọng sát sanh để phô trương, chẳng biết nam nữ lập gia đ́nh là đầu mối của nhân luân, là chuyện vui mừng đẹp đẽ nhất. Do tổ chức cuộc lễ vui mừng tốt đẹp ấy mà đến nỗi có vô số con vật bị lâm vào tử địa để cung cấp cho con người ăn nuốt; hung ác, xui xẻo đến cùng cực! Nhưng người đời vẫn cứ coi đó là sang v́ quen thói xấu ác mà ra! Nếu suy nghĩ, ắt cái tâm hồi hộp bất an sẽ tràn trề nảy sanh. Phong tục chuyển biến đều do một hai người đứng ra đề xướng mà được bắt đầu. Ông gả con gái như thế (tức là đăi khách bằng cỗ chay) chắc sẽ có người bắt chước làm theo, chắc là lề thói xa xỉ cũng sẽ do đây mà dần dần giảm bớt!

Tôi thường nói: “Thiên hạ chẳng yên, thất phu có trách nhiệm”, trách nhiệm ấy ở nơi đâu? Chính là trong gia đ́nh khéo dạy dỗ con cái, nhưng dạy dỗ con gái lại càng thiết yếu hơn! Bởi lẽ, nếu con gái hiền ắt sẽ có thể giúp chồng thành tựu đức hạnh, nêu gương mẫu cho con cái. Từ đấy, con cháu sẽ nối tiếp nhau làm người hiền thiện. Hăy nên dạy cho lệnh ái hiểu cặn kẽ nghĩa này, trong Văn Sao đă nhiều lần nhắc đến. Nếu cô ta đọc thuộc rồi tận lực thực hành th́ lợi ích lớn lắm!

Cư sĩ Kiếm Thanh đạo tâm chân thật, thiết tha, thật chẳng dễ có; nhưng do thời gian ngắn ngủi, chỉ ở lại một đêm rồi đi, thất vọng không chi hơn! Đă gởi đi năm gói Đại Sĩ Tụng trong hôm Mười Tám tháng Tư, chắc đă nhận được rồi! Tổng cộng là ba mươi lăm bộ, sau đó lại gởi bao nhiêu bộ đó nữa. Số c̣n lại th́ đợi sách được in ra trong lần thứ hai, thứ ba mới có thể giao trọn hết số lượng được. Văn Sao đă cho sắp chữ, ước chừng trong năm nay có thể ra sách; so với lần trước tăng thêm ba bốn vạn chữ; nhưng chỉ là “gom lá, đắp cát” mà thôi, rốt cuộc đều chẳng liên can ǵ tới Phật pháp lẫn tâm pháp!

 

588. Thư trả lời cư sĩ Huệ Hải (Thư thứ tám)

Nhận được thư, biết ông từ chức, về ở nhà, hằng ngày cùng quyến thuộc tu tŕ Tịnh nghiệp để mong cùng thoát khỏi thế giới khổ sở này, lên cơi Cực Lạc kia, thường được thân cận A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí và các vị thượng thiện nhân, khôn ngăn vui mừng, an ủi.

Mùa Đông năm ngoái, Chiết Giang Ấn Loát Công Ty ở Hàng Châu gởi tới hai mươi gói Tăng Quảng Văn Sao bản in mới bằng thư bảo đảm, mỗi gói là ba bộ, bốn gói Thọ Khang Bảo Giám, mỗi gói là hai mươi lăm cuốn; tôi đă bảo gởi tới chỗ ông tại đường Hoa Viên, chẳng biết ông đă nhận được hay chưa? Những sách ấy tặng cho ông để kết duyên. Nếu chưa nhận được, xin hăy đến bưu cục hỏi xem những sách này rốt cuộc đă giao tới chỗ nào? Lại nữa, đă gởi tới Cáp Phụ Tuyên Giảng Đường năm mươi gói An Sĩ Toàn Thư, mỗi gói bốn bộ, hai mươi gói Thọ Khang Bảo Giám.

Sợ rằng chưa thể gởi được Văn Sao v́ trong hôm Hai Mươi tháng Chạp năm ngoái, [ấn quán] gởi hóa đơn giao hàng tới, [cho biết có lẽ] ba bốn bữa sau sẽ gởi sách đi. Nào ngờ đến hôm Hai Mươi Bốn, [ấn quán] bị chạm điện, gian nhà chánh bị cháy sạch nhà cửa lẫn đồ đạc. Sách Quán Âm Tụng, An Sĩ Toàn Thư, Văn Sao, Bảo Giám, bốn bức Chỉ Bản của Quang đều bị cháy ra tro. Tôi đă thỏa thuận với công ty ấy để in một vạn cuốn Văn Sao và ba vạn cuốn Bảo Giám. Họ in trước năm ngàn bộ Văn Sao, hai vạn cuốn Bảo Giám nhưng báo với Quang đă in xong xuôi toàn bộ, đă phát ra một nửa, đ̣i phải giao tiền. Quang bảo họ gởi hóa đơn giao sách tới, nhưng khoản tiền ấy tôi chưa trả. Đến khi chùa Thái B́nh ở Thượng Hải sắp đem tiền tới, họ mới đem tờ hóa đơn ấy gởi tới, [khi ấy] tôi mới biết họ chỉ in một nửa, nhưng đă dùng lố tiền ấn loát hơn một ngàn đồng. Ngày hôm trước nhận được tờ hóa đơn ấy th́ ngày hôm sau liền nhận được tin họ bị hỏa hoạn. Đây là v́ họ một mực gian trá, điêu ngoa khiến cho thần nổi giận mà ra. Nếu ước theo lương tâm để nói, sách của Quang không đến nỗi bị cháy nhiều lắm v́ những sách đă đóng b́a xong đều được cất trong một căn nhà nhỏ ở phía sau, căn nhà nhỏ ấy chưa cháy; c̣n những sách chưa hoàn tất th́ để ở chỗ đóng b́a.

Nếu bọn họ không thiếu lương tâm, giao hết số sách đă in xong cho Quang, Quang vẫn phải chịu thiệt trên dưới một ngàn đồng (đây là món tiền họ xài lố). Nếu bọn họ thiếu lương tâm, Quang sẽ tổn thất khoảng hai ngàn ba trăm đồng, không tính bốn bức Chỉ Bản [bị cháy] trong [khoản tiền thất thoát] ấy. Đây là v́ Quang không có đạo đức, bọn họ vô lương tâm, hết thảy Tịnh nghiệp học nhân thiếu duyên đọc những sách ấy cho nên mới có tai nạn này.

Trong tháng Nhuận, tôi sẽ sang in ở Thượng Hải. Phàm những ai đă bỏ tiền đều căn cứ theo số tiền mà giao đủ sách, chẳng thiếu sót mảy may nào! Phàm những sách để kết duyên th́ đành lượng sức mà thôi, chẳng thể như trước được! Xin hăy đến Tuyên Giảng Đường hỏi xem An Sĩ Toàn Thư, Thọ Khang Bảo Giám như tôi đă nói [trong phần trên] đă gởi tới hay chưa? Văn Sao gởi tới bao nhiêu đó bộ; nếu chưa gởi tới trọn hết th́ vẫn c̣n thiếu họ sáu mươi sáu đồng, trong mùa Hạ sẽ gởi tới. Nếu đă gởi đủ số th́ dư ra hơn hai trăm đồng.

Lệ phí chuyển tiền ở đất Cáp Nhĩ Tân quá nặng. Bất luận là Tuyên Giảng Đường hay ông đều đừng nên gởi tiền tới. Tuy Quang gặp phải nạn này nhưng vẫn chưa đến nỗi túng quẫn không làm ǵ được! Trong khoảng Xuân - Hạ sẽ có đôi ba gói Di Đà Kinh Bạch Thoại Chú và Gia Ngôn Lục được gởi tới. Hai loại sách này Quang đều cho tạo thành bốn bức Chỉ Bản, tính gởi một bức sang Cáp Tuyên Giảng Đường hoặc chùa Cực Lạc, ngơ hầu sau này chẳng cần phải thỉnh sách từ phương Nam nữa.

Thế đạo hiện thời không có cách nào văn hồi. Nếu muốn cứu đời, ngoại trừ đề xướng nhân quả báo ứng và giáo dục trong gia đ́nh, không thể nào thực hiện được. Giáo dục trong gia đ́nh rất cần chú ư đến nhân quả báo ứng, nhưng dạy dỗ con gái lại là thiết yếu nhất! Bởi lẽ, không có hiền nữ sẽ không có hiền mẫu, không có hiền mẫu làm sao có con cái hiền lương cho được? Đấy chính là pháp luân căn bản. Những điều con người hiện thời đề xướng toàn là cành nhánh. Từ thuở bé đă chẳng biết đến đạo làm người và sự lư nhân quả báo ứng th́ một khi bị kẻ tà vạy dụ dỗ sẽ mặc sức làm càn. Những đứa phế luân thường, vứt bỏ ḷng thẹn, giết cha, gian mẹ đều do thuở ban đầu không được mẹ hiền un đúc mà ra!

 

589. Thư trả lời cư sĩ Lư Thiếu Viên (Thư thứ nhất)

Mấy hôm trước, nhận được thư do Lư Viên Tịnh chuyển đến, biết cư sĩ gần đây tu tŕ khá thiết tha mà cái tâm lợi người lại càng hết sức chân thật, thiết tha, tôi khôn ngăn vui mừng, an ủi! Chương tŕnh của Niệm Phật Đoàn khá hay, chỉ có lời khai thị trong khi trợ niệm không hợp lẽ cho lắm nên tôi sửa đổi đại lược và nêu nguyên do. Đă giao cho Lư Viên Tịnh cầm đi, chắc ông đă đọc qua rồi!

Gần đây, Quang bận bịu đến tột bậc do phải giảo chánh, đối chiếu Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ. Sách ấy do Quang từng khuyên Ngụy Mai Tôn biên tập vào năm Dân Quốc 13 (1924). Ông ta cũng hết sức hoan hỷ, nhưng do tinh lực không đủ, phải bỏ dở giữa chừng. Năm trước, Nhiếp Vân Đài thỉnh Hứa Chỉ Tịnh biên tập, hoàn thành bản thảo vào tháng Tám. Nhiếp Vân Đài bị bệnh, chẳng thể lo toan được. Do muốn thỏa măn ư nguyện xưa của ḿnh, Quang liền một ḿnh gánh vác chuyện ấy, nay đă sắp chữ gần xong. Lại c̣n sắp xếp một bản in khác với cỡ chữ Tứ Hiệu Tự, cho in bằng giấy báo; ước chừng cuối tháng Mười Một sẽ có thể sắp chữ xong. Xong chuyện, sẽ ở ẩn lâu dài.

Bộ sách ấy thâu thập những sự tích cảm ứng trong hai mươi bốn bộ sử, lại c̣n có thêm lời b́nh luận sao cho phù hợp với nhân quả ba đời như đức Phật đă nói. Nếu hạng Nhất Xiển Đề chẳng thèm để mắt tới th́ không biết làm sao; chứ nếu ngó tới, ắt sẽ có ngày cải tà quy chánh! Do vậy, Quang chẳng tiếc sức nhọc nhằn để lo liệu. Hiện thời đă quyên mộ đủ tiền in hai vạn bộ (trọn chẳng phải là đặc biệt quyên mộ, mà là có những người biết được liền xin bỏ tiền giúp đỡ [ấn hành]). Một đồng có thể in được hai bộ. Sách được chia thành bốn cuốn, gồm ba trăm năm chục, sáu chục trang. Hiện thời, do vẫn chưa sắp chữ xong nên chưa thể biết chắc số trang được, nhưng ước chừng là như thế, dẫu bao nhiêu đi nữa cũng không vượt quá số trang ấy.

Nói tới chuyện quy y th́ do ông đă quyết định, Quang cũng chỉ đành tùy duyên. Nay đặt pháp danh cho ông là Trí Viên, nghĩa là dùng cái trí vô ngại viên dung để tu Chân ngay trong cơi tục, hiểu trọn vẹn các pháp, chuyên tu Tịnh nghiệp ḥng tự lợi, lợi tha (tuy hiểu trọn vẹn các pháp, nhưng quyết chẳng thể không chuyên tu Tịnh nghiệp. Nếu không, sẽ chẳng phải là Tịnh nghiệp hành nhân mà chính là người tu pháp môn tự lực theo đường lối thông thường).

Những bậc đại thông gia hiện thời phần nhiều muốn cho môn đ́nh cao lớn, nên phần nhiều giảng thuyết những pháp chẳng hợp căn cơ, hoặc chỉ bàn nói điều huyền lẽ diệu, chuyên ỷ vào tự lực, chắc sẽ đến nỗi Chân lẫn Tục đều ngoắt ngoéo, bị cơi đời cười chê (Phàm là người học Phật ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng giữ các điều lành. Chẳng y theo điều này để dạy người th́ sẽ chẳng hợp căn cơ! Muốn học Phật pháp, ắt phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận. Nếu không, c̣n là tội nhân trong thế gian, làm sao đạt được lợi ích chân thật nơi Phật pháp ư?) Những điều khác đă nói tường tận trong Văn Sao, Gia Ngôn Lục, ở đây không viết cặn kẽ. Xin hăy sáng suốt suy xét th́ may mắn thay!

Ông nói người văng sanh ít ỏi, quả thật là do tín nguyện chẳng chân thật thiết tha mà ra! Nếu tín nguyện chân thật, thiết tha, dẫu lúc lâm chung mới niệm th́ được văng sanh vẫn là hợp lẽ. Nếu hời hợt, phù phiếm, trong tâm vẫn mơ màng phước báo đời sau, làm sao văng sanh được? Gốc bệnh ở nơi ấy, chớ nên không biết! (Ngày Hai Mươi Ba tháng Mười năm Dân Quốc 18 - 1929)

 

590. Thư trả lời cư sĩ Lư Thiếu Viên (Thư thứ hai)

Nhận được thư và Tự Tri Lục, biết tâm mộ đạo của cư sĩ và các vị hết sức chân thật, thiết tha, tiếc là chưa biết gương mẫu tu hành tốt đẹp, bèn coi những lời nói nhăng nói càn, đơm đặt bịa chuyện là quư báu nhất (chỉ Tự Tri Lục) rồi muốn lưu thông [những lời do kẻ khác bịa đặt], ngơ hầu ai nấy đều đạt được cảnh ấy, chẳng biết đấy chính là lời lẽ ma mị đáng ghét bậc nhất, dẫn dắt người khác lọt vào cảnh ma!

Đầu mùa Hạ năm ngoái, cư sĩ La Tế Đồng ở Thượng Hải có được cuốn sách ấy liền cho in thạch bản một ngàn cuốn để biếu tặng người khác. Cư sĩ Đinh Quế Tiều muốn lưu truyền rộng răi bèn bảo Tế Đồng gởi cho Quang một gói; c̣n Quế Tiều tự viết thư cho Quang, xin Quang đọc để “hễ sách chẳng đến nỗi làm cho người khác bị lầm lạc th́ sẽ viết lời phê b́nh tường tận”, c̣n cậy Quang viết lời tựa để mong được lưu truyền rộng răi. Quang đọc xong, khôn ngăn kinh dị, bèn để nguyên gói sách gởi trả lại cho Quế Tiều, cực lực thuật rơ những cái họa của cuốn sách ấy.

Bởi lẽ, [sách ấy sẽ] lôi kéo những kẻ sơ tâm chẳng dụng công nơi nhất tâm chí thành nghĩ nhớ, mà chỉ thường muốn thấy cảnh giới tốt đẹp. Nếu họ vừa thấy cuốn sách này sẽ liền chẳng học theo bà Hồ chân thật dụng công mà cứ chuyên muốn đạt được cảnh giới tốt đẹp giống như bà Hồ. Do cái tâm cuồng vọng, gấp rút, thiết tha, thường khởi ư niệm như thế ấy, ắt sẽ đến nỗi dẫn khởi oán gia trong đời trước biến hiện những cảnh kẻ ấy hâm mộ và khi vừa được thấy cảnh ấy liền sanh ḷng hoan hỷ lớn lao, oán gia sẽ liền dựa vào thân. Kẻ ấy liền mất trí điên cuồng, Phật cũng chẳng thể làm sao [cứu giúp người ấy] được! Quang cũng chẳng thể bảo “lời bà Hồ kể toàn là bịa chuyện”, nhưng cũng chẳng dám bảo là chân thật không dối trá. V́ sao vậy? Nếu bà ta thật sự đạt đến loại cảnh giới ấy, há lẽ nào chẳng biết những lời lẽ ấy sẽ khiến cho người khác bị lầm lẫn. Xin hăy nói với ông La Tế Đồng, từ nay đừng gởi tặng cho người khác nữa! Những sách c̣n lại hăy nên giao cho ngọn lửa để diệt mầm họa.

Chưa đầy một tháng sau, ông Vương Mưu Phụng ở Hàng Châu lại nhận được cuốn sách ấy, khôn ngăn hoan hỷ, cũng cho in thạch bản một ngàn cuốn. Có người bảo hăy gởi cho Quang xin chứng minh, giám định. Do vậy ông ta viết thư và gởi sách đến, Quang liền lấy đại ư những lời đă nói với ông Đinh Quế Tiều để phúc đáp. Vương Mưu Phụng mới ngưng in, đem thư Quang đăng trên tờ Phật Học Châu San, sao các vị vẫn chưa đọc? Mùa Thu năm ngoái tôi sang đất Hỗ, hỏi Tế Đồng đă phân phát hết hay chưa? [Ông ta] nói hăy c̣n hai ba trăm cuốn, chẳng dám phân phát, tính đốt đi. Quang khen ngợi: “Ông thiêu đi sẽ có công đức vô lượng vô biên!”

Mùa Hạ năm nay tôi đến đất Hỗ, Tế Đồng từ kinh đô trở về, hỏi ḍ thực chất của bà Hồ mới biết con người ấy rất thông minh nhưng phiền năo rất nặng! [Bà ta] sống trong Cực Lạc Am, hễ có chuyện nào hơi chẳng vừa ư bèn chửi bới người khác. Về sau bị bệnh thổ huyết, chẳng lâu sau đă chết. Lúc chết chẳng biết có phải là v́ thổ huyết hay không? Cũng chẳng biết cảnh tượng lúc mất ra sao? Mà văn tự của bà ta cũng không được lưu loát như thế đâu; đấy là do một cư sĩ ở Tứ Xuyên soạn ra, Quang biết người ấy, nhưng chẳng muốn nêu tên! Đến tháng Sáu, có một cư sĩ người Hồ Nam từng sống tại Cực Lạc Am, kể [về bà Hồ] chẳng khác ǵ lời Tế Đồng đă thuật! Đủ thấy bọn họ chỉ muốn dối đời trộm danh, chẳng đoái hoài đă dẫn dắt người khác vào cái họa ma mị! Than ôi, đau đớn thay!

Chư vị muốn được lợi ích thật sự, hăy nên dựa theo lời Phật, Bồ Tát, Tổ Sư để tu, quyết sẽ được lợi ích chân thật. Cổ đức dạy người, chỉ giảng cho người khác cách dụng công, ai lại lôi hết cảnh giới của chính ḿnh đă thấy để bảo ban người khác! Viễn công đại sư là Sơ Tổ Liên Tông đến lúc lâm chung thấy Phật mới nói với môn nhân: “Ta đă thấy thánh tượng ba lần, nay lại được thấy, ta văng sanh đây!” Nếu luận về thân phận của Viễn Công th́ cao hơn bà Hồ đâu phải chỉ như sự cách biệt giữa trời với vực! Há phải Ngài chỉ ba lần thấy thánh tượng, chẳng có một tí cảnh giới tốt đẹp nào khác ư? Nếu đạt đến lúc “tâm không, cảnh tịch” th́ c̣n có cảnh giới chi nữa! Ấy gọi là “tâm và Phật tương ứng, tâm lẫn Phật cùng mất, bốn tướng chẳng c̣n, ba tâm há được?” “Vô niệm mà thường niệm” chính là niệm mà trọn chẳng có cái tâm để niệm và [chẳng thấy có] đức Phật được niệm. Nơi ấy nào có cảnh giới? Nếu niệm đến mức như thế th́ chẳng ngại ǵ tịnh cảnh Tây Phương sẽ phô bày trọn vẹn triệt để. Nhưng do “niệm tịch, t́nh vong” nên lại càng được lợi ích nơi đấy, quyết chẳng đến nỗi sanh ḷng hoan hỷ lớn lao, hiểu lầm tin tức đến nỗi ma dựa phát cuồng.

Nếu lúc chưa đạt đến nhất tâm mà trong tâm cứ niệm niệm mong tưởng cảnh giới th́ khi cảnh giới ấy hiện, chắc chắn sẽ gặp họa. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Chẳng nghĩ là thánh cảnh th́ gọi là cảnh giới tốt lành; nếu coi là thánh cảnh th́ sẽ lạc vào các loài tà”. Đấy tuy vẫn chưa phải là cảnh ma được cảm vời bởi cái tâm bộp chộp, vọng động, nhưng hễ sanh ḷng hoan hỷ cho là “đă chứng thánh quả” th́ sẽ trở thành gă ma con! Huống chi ngay từ lúc ban đầu tâm đă như vậy, tâm ma chiêu cảm cảnh ma, cứ tưởng là cảnh thánh ư? Xin hăy đọc kĩ Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục th́ sẽ có cái để noi theo, không cách chi bị ma dựa được!

 

591. Thư trả lời cư sĩ Tịnh Thiện (Thư thứ nhất)

Nghề Y dễ khuyến hóa người khác nhất. Phàm là kẻ có bệnh không ai chẳng mong bệnh chóng lành. Bảo họ “ăn chay niệm Phật sẽ tiêu trừ túc nghiệp, tăng trưởng thiện căn” th́ tự họ sẽ chịu tin theo. Tin rồi niệm th́ bệnh sẽ chóng lành. Hơn nữa, đừng học theo Tây Y; nói chung [Tây Y] dạy người ta ăn thịt v́ thịt giàu chất dinh dưỡng; những hạng người ấy trong tương lai đều phải làm thức ăn cho kẻ khác bởi nói đạo lư ngược ngạo, tự hại, hại người! Ông chịu giữ tấm ḷng tốt đẹp ấy th́ Y đạo ắt sẽ tiến triển lớn lao. Sách Nhị Khóa Hiệp Giải đă không c̣n, tôi bảo gởi cho ông một bộ Văn Sao. Quang già rồi, chỉ nên y theo Văn Sao tu tŕ, chẳng cần phải gởi thư tới nữa do không có sức để thù tiếp!

 

592. Thư trả lời cư sĩ Tịnh Thiện (Thư thứ hai)

Mỗi người nhập đạo đều có thời tiết, nhân duyên. Những sách thuộc loại khuyên răn [kiêng giết, phóng sanh] thường chép truyện ông Triệu X… là huyện lệnh xứ Bồ Thành, Phước Kiến, ăn chay trường thờ Phật. Bà vợ trọn chẳng có ḷng tin, nhằm dịp sanh nhật năm mươi tuổi bèn mua rất nhiều con vật c̣n sống, tính giết để đăi khách. Ông Triệu bảo: “Bà muốn chúc thọ nhưng lại khiến cho những con vật này đều bị chết, có yên ḷng được chăng?” Bà vợ đáp: “Ông toàn nói những câu vô ích! Nếu nghe theo lời Phật dạy, nam nữ cũng không được ngủ chung, những con vật này cũng không giết th́ chưa đầy mấy chục năm, trọn khắp thế giới sẽ đều là súc sanh hết!” Ông Triệu không biết làm sao, đành để mặc bà ta.

Đến đêm, bà vợ mộng thấy đi xuống bếp, trông thấy người ta giết lợn, tự ḿnh đă biến thành con lợn. Đầu bếp trói chặt bốn vó con lợn, đặt lên bàn mổ để giết, đầy tớ đứng bên cạnh xem, [bà ta] vội kêu họ cứu nhưng chẳng một ai nghe tiếng! Giết rồi mổ bụng, móc ruột ra, vẫn cảm thấy đau đớn. Giết xong con lợn lại giết những con vật khác th́ chính ḿnh lại biến thành những con vật khác, đau đớn không thể nào nói nổi! Tạm ngưng một khắc, lại thấy một đứa đầy tớ cầm một con cá chép vào. Nha đầu nói: “Đem con cá chép này giao cho đầu bếp nấu canh cá cho bà chủ, để khi bà chủ thức dậy sẽ dùng làm món điểm tâm!” Họ liền chặt đầu đuôi, lóc vảy, chặt thành từng miếng nhỏ. Mỗi một miếng đều cảm thấy đau đớn, thống khổ cùng cực, choàng tỉnh dậy, kinh hồn vỡ mật! [Ngay lúc đó], nha đầu bưng canh cá lên mời ăn điểm tâm, chẳng nỡ ḷng ăn nữa, sai đem những con vật đă mua phóng sanh hết. Do đích thân nếm mùi vị [thống khổ v́ bị giết chóc], bèn theo chồng ăn chay niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Vợ ông chắc cũng được oai thần Tam Bảo gia bị, cũng đích thân nếm mùi vị ấy rồi cơi ḷng mới xoay chuyển.

Lời đồn Lộc Uyển là nơi Ngô Vương nuôi hươu chưa đủ để làm căn cứ! Sợ rằng xưa kia có Lộc Uyển Tự, do lâu năm nên đă mất dấu. Nhà Nho bèn đem ư nghĩa [tên vườn] Linh Hữu của Văn Vương ghép vào. [C̣n trong danh xưng] Lộc Uyển Liên Xă th́ Lộc Uyển (Mrgadāva) là nơi đức Phật thuyết pháp khi mới thành đạo. Liên Xă chính là pháp để người tu hành lúc lâm chung được văng sanh Tây Phương. [Như vậy th́ danh xưng Lộc Uyển Liên Xă] đă nêu bật [ư nghĩa] “bao gồm hết thảy những nghĩa từ đầu đến cuối trong giáo pháp của suốt cả một đời đức Phật”.

Hiện thời chiến tranh liên miên, tai họa kết lại, há nên khởi công xây dựng lớn lao? Xây dựng chính là chuốc lấy họa bị bọn thổ phỉ cướp đoạt, là nền tảng chuốc lấy cái họa bị phi cơ oanh tạc. Xây dựng càng đẹp đẽ, tai họa càng lớn! Nếu thật sự hoằng pháp lợi sanh th́ dù trong gia đ́nh hay nơi đất trống đều là chỗ để diễn thuyết lợi ích [của pháp môn Tịnh Độ]. Tu tŕ có chia ra mấy chỗ cũng đâu có trở ngại ǵ, vừa chẳng tốn tiền, tốn sức mà cũng chẳng bỏ lỡ công việc, cũng giống như đi ra chợ mua gom các thứ đem về nhà dùng.

Mở mang một đạo tràng hoằng pháp lớn lao th́ phải đợi sau này nhằm lúc t́nh thế ḥa b́nh mới có thể làm được. Hiện thời, các tỉnh bị hạn hán dữ dội, sắp xảy ra thảm trạng con người ăn thịt lẫn nhau. Một mai vỡ đê th́ sẽ dùng cách nào để kiềm chế? Tri kiến của Quang trọn chẳng giống với người khác. Y theo cách người ta làm trong hiện thời chắc sẽ có lợi ích nhỏ nhoi, nhưng sẽ chuốc lấy họa lớn. Làm theo cách của Quang, tuy không nổi tiếng, chói ngời lớn lao được, nhưng trọn chẳng phát sanh hiểm họa nhỏ nhặt nào! [Ông yêu cầu Quang soạn] bài tựa duyên khởi th́ đă có bài tựa cho Triều Dương Phật Giáo Cư Sĩ Lâm do Bàng Đức Siêu đă khắc để làm gốc, chỉ cần sửa đổi đôi chút địa danh và tên người cũng như những đặc điểm đặc biệt mà thôi. Chuyện này không cần Quang phải đích thân soạn. Người thông văn lư đợi đến khi xây dựng xong xuôi sẽ châm chước mà sử dụng [bài tựa duyên khởi ấy]. Hiện thời do không nhắc đến chuyện xây cất th́ cũng không cần phải soạn văn sẵn.

Các vị Thiện Đạo, Thiếu Khang hoằng dương Tịnh Tông, tiếng Phật hiệu vang khắp ngơ hẻm đường phố. Như xướng khúc hát gieo mạ, ai nấy đều muốn nghe; như truyền thánh chỉ của nhà vua, ai nấy đều tuân hành. Ai bảo là “không có chùa miếu sẽ chẳng thể hoằng pháp được?” Cần biết rằng: Hễ có chân tâm th́ sẽ tự khuyến hóa được. Lấy thân làm gương để mong ai nấy trọn hết bổn phận, lấy cổ nhân làm khuôn phép, ngơ hầu nhà nhà đều trở thành đạo tràng. Đang trong cơi đời đại loạn này, tốt nhất là nên hoằng pháp một cách không dấu vết. So với những kẻ xây dựng lớn lao, tốn sức, bó tay, nhọc ḷng gánh vác nỗi lo th́ sẽ khác biệt lớn lao vời vợi!

 

593. Thư trả lời cư sĩ Tịnh Thiện (Thư thứ ba)

Thư nhận được đầy đủ, cổ nhân nói: “Sau khi đại loạn, dân sẽ dễ trị”. Đang trong lúc loạn lạc đến cùng cực này, nếu có người đức cao vọng trọng đề xướng Phật pháp, dạy họ kiêng giết, bảo vệ sanh mạng, ăn chay, niệm Phật, nói với họ về nhân quả ba đời và luân hồi trong lục đạo th́ kẻ có ḷng nhân ai mà chẳng bội phục? Nho giáo nói: “Đối xử nhân từ với dân, yêu thương loài vật”. Trong một đời người, cần phải bắt đầu thực hiện lời này kể từ khi c̣n đang độ tuổi thơ ấu th́ sự đối xử nhân từ với dân mới có thể [thực hiện] rốt ráo được! Nếu chẳng thực hiện từ lúc c̣n thơ ấu th́ đối xử nhân từ với dân [không đúng cách] chắc sẽ đến nỗi trở thành gây phiền cho dân, ḷng yêu thương ấy sẽ trở thành nói xuông!

Nay tôi sẽ nói nguyên do: Trẻ nhỏ vô tri thấy những con vật bay, chạy v.v… ắt giết ngay hoặc bắt lấy rồi nghịch ngợm khiến chúng bị chết. Nếu bất luận là con vật nào, người lớn đều không cho trẻ giết, bởi lẽ hễ giết th́ chính ḿnh sẽ bị tổn phước giảm thọ đến nỗi thiên địa quỷ thần đều chẳng che chở, gia hộ. Từ lúc bé tẹo đă dưỡng thành thói quen ấy, lớn lên quyết chẳng đến nỗi coi tàn sát lẫn nhau là vui.

Mười mấy năm trước, có người nước Anh tên là Lâm X… sống ở Nam Kinh, đến Phổ Đà gặp Quang, tặng cho Quang mấy cuốn sách bảo do chính ông ta soạn. Ông ta nói tiếng Trung Quốc c̣n chưa sơi lắm, sao lại có thể viết được những văn tự rất hay ấy? [Trong số ấy] có một cuốn chuyên đề xướng phép giữ ǵn sức khỏe, chuyên môn chú trọng sát sanh. Những cuốn khác tôi đều đem tặng cho người ta, chỉ có cuốn sách nói về phép giữ ǵn sức khỏe ấy th́ Quang xé nát, tống vào giỏ giấy vụn, sợ kẻ vô tri cầm đi th́ hại người, hại vật chẳng thể cùng tận!

Ông Châu đă lậm sâu chất độc của người Tây Dương, chẳng biết đạo “bảo vệ sanh mạng, lợi người”. Con người là “vạn vật chi linh”, nhưng cũng là một loài động vật. Ta và vạn vật cùng sống trong ṿng trời đất, chúng nó không đ̣i mạng ta, sao ta lại muốn đoạt mạng chúng? Nhà nào đập ruồi, ruồi sẽ càng nhiều. Kẻ nào giết rết, thường bị rết cắn. Những kẻ thường muốn bảo vệ sức khỏe trong đời này, chưa chắc đă được hưởng ích lợi ngay trong đời hiện tại. Do cả một đời này tâm thường ôm ḷng giết chóc th́ tương lai đời đời kiếp kiếp thường bị kẻ khác giết, nhưng do chưa đích thân thấy nên vẫn vui sướng giết chóc quên mệt!

Trong sách cổ có [chép chuyện] kẻ ghét kiến, kiến xúm đen xúm đỏ xác hắn ta. Kẻ ghét ruồi, ruồi bu trên thân, không làm cách nào được, than thở xuông cũng chẳng làm ǵ được! Quang thấy chuyện [giết chóc] ấy chính căn bản của đại sát kiếp. Nếu vẫn muốn noi theo ư kiến của chính ḿnh để làm th́ trộm sợ rằng sau này có lúc hối hận chẳng kịp, đáng xót, đáng thương lắm, không có cách ǵ cứu giúp được! Bậc quân tử sẵn ḷng nhân sao nỡ chuyên chú trọng giết hại loài vật khiến cho hết thảy những kẻ vô tri đều bắt chước theo ư?

Mười mấy năm trước, một đệ tử quy y có một đứa con nhỏ, mua một cái đập ruồi để làm đồ chơi, nó liền thường hay đập ruồi. Một bữa nọ ruồi nhiều đến cùng cực, nó bèn cực lực đập, chợt thấy cả nhà đều tối om. Người lớn bèn mở toang cửa cái, cửa sổ, niệm Phật sám hối; chẳng mấy chốc ruồi bay đi hết. Từ đấy đem đốt cái đập ruồi, ruồi cũng không bu đến nữa. Đấy chính là v́ đệ tử Phật được gia bị bởi ḷng Từ của đức Phật khiến cho sát nghiệp chấm dứt. Nếu là kẻ không có ḷng tin, sợ rằng sẽ chẳng gặp được điềm báo như vậy th́ đời kế tiếp, đời sau há thể tưởng tượng được ư?

Nếu chỉ gởi gạo Đại Bi th́ rất tốn công, nay gởi cho ông hai gói tro hương Đại Bi, so với gạo càng dễ cất giữ hơn mà lợi ích cũng giống như gạo, để lâu không bị hư. Nếu gặp phải căn bệnh thầy thuốc chẳng thể chữa lành, hăy lấy hai phần tro đổ vào một cái tô lớn, pha bằng nước sôi, khuấy lên, đợi khi chất tro lắng xuống sẽ gạn lấy nước trong đổ vào đồ đựng, chia ra uống mười lần. Mỗi ngày uống ba hay bốn lần. Hễ lành bệnh th́ không cần phải uống nữa. Hễ chưa lành lại pha tiếp. Bao tro ấy nên để thờ ở phía dưới khám thờ Phật hoặc treo ở chỗ cao sạch, chớ nên khinh nhờn! Đây là loại tro hương được gia tŕ hơn một vạn biến chú Đại Bi. Phàm bị bệnh nguy hiểm, [uống nước tro Đại Bi vào] dẫu chẳng lành cũng thấy giảm bớt rồi mới chết. Chất tro đă pha xong nên thêm nước vào để tưới cây hoặc trát lên nóc nhà.

Nay đem Vật Do Như Thử, Sức Chung Tân Lương, Thọ Khang Bảo Giám, Tức Tai Khai Thị, Liễu Phàm Tứ Huấn, mỗi thứ hai cuốn, lèn chặt [thành một bưu kiện]. Những thứ giấy dùng để chèn chỗ trống cũng đừng vất đi, bởi đấy chính là Sớ Lễ Quán Âm Cầu Con và Ba Điều Trọng Yếu Để Cầu Con, cũng là bài văn có quan hệ lớn lao cho hết thảy kẻ thanh niên. Bất luận già hay trẻ đều chớ nên không biết! Nếu không, chẳng biết tiết dục mà mong sanh con th́ chưa sanh được con mà cha đă chết trước rồi! Hoặc mẹ do ân ái quá nhiều bị mắc bệnh lao sái, chẳng biết là bao nhiêu!

Đồ Hữu Sanh khá thông minh. Những con em thông minh hiện thời phần nhiều mắc bệnh thủ dâm, hăy bảo chúng nó đọc Thọ Khang Bảo Giám và Liễu Phàm Tứ Huấn th́ sẽ chẳng đến nỗi mắc phải những mối họa đau khổ như trở thành tàn tật và đoản mạng mà chết. Xưa kia, thánh vương sai quan bố cáo [khuyên mọi người không nên ăn nằm khi sấm sắp động vào đầu Xuân], nay th́ cha, mẹ, thầy, bạn nhất loạt chẳng nói đến chuyện này, cũng là do ác nghiệp của mọi người cảm thành!

Có kẻ càng ngu hơn, hễ con cái bị bệnh liền cưới vợ cho nó; ư muốn cho con mau được lành bệnh, thật ra là làm cho nó chóng chết! Chẳng đáng buồn ư? Một người ở Hồ Nam có hai đứa con đều chết v́ lư do này. Đứa con thứ ba mắc bệnh vẫn muốn làm như thế, bị một người bạn quở trách mới thôi. Ấy chính là quả báo do đời trước dụ dỗ kẻ khác chơi bời bừa băi đến chết. Một đứa đă chết c̣n chưa ngộ, hai đứa chết luôn mà vẫn chưa ngộ! Nếu không bị người bạn quở trách chắc sẽ bị tuyệt tự! Rốt cuộc v́ lẽ nào mà tâm kẻ ấy ngu như thế? Nếu không phải do oán quỷ xui khiến, ắt chẳng đến nỗi ngu như thế! Xin hăy sáng suốt th́ may mắn thay!

 

594. Thư trả lời cư sĩ Tịnh Thiện (Thư thứ tư)

Ông nói hai vấn đề (chỉ có điều thứ nhất là đáng bàn bạc, chứ điều thứ hai là nói nhăng nói càn. Khi điều thứ nhất đă hoàn toàn đả phá được th́ không cần phải nói [tới điều thứ hai nữa]. Nhưng lời này chỉ nên truyền miệng, đừng nên đăng báo kẻo người xứ… trông thấy sẽ làm hại. Thiết yếu đến cùng cực). Vợ ông chẳng chịu ăn chay niệm Phật, hăy thử hỏi [bà ta]: “Bà có muốn thường bị bọn người xứ... đánh chửi, làm nhục hay không?” Ắt bà ta sẽ chẳng nói là “thường muốn!”

Ở Vô Tích, [bọn người xứ…] giết huyện trưởng, vây thành ba ngày, lùng bắt những kẻ chống đối khiến cho cả nhà đều phải bỏ trốn. Bọn chúng bắt được món đồ ǵ tốt đẹp liền tịch thâu, chẳng ai dám hó hé! Trong nhà ông Viên Lệ Đ́nh có rất nhiều người niệm Phật; lính xứ… chẳng tới nhà ấy. Có nhà bị chúng lùng sục mấy lượt, những món đồ tốt đẹp đều bị cướp đi hết. Lúc Tô Châu thất thủ, bọn lính xứ… gian dâm phụ nữ, thảm chẳng nỡ nghe! Một nữ đệ tử v́ mẹ chết, linh cữu (quan tài) c̣n đang quàn tại nhà, chẳng nỡ bỏ trốn, bèn đóng cửa niệm Phật. Lính xứ… phá cửa, thấy cô ta đang niệm Phật nên không làm nhục! Chúng chỉ vào cái rương, bắt đổ ngược hết ra, nhưng chẳng lấy một món nào, bỏ đi! Nếu cô ta không niệm Phật th́ bà già sáu bảy chục tuổi vẫn bị ô nhục, huống hồ thiếu phụ ấy mới ba mươi mấy tuổi ư?

Nơi cửa thành, [bọn chúng] kiểm soát rất ngặt (thoạt đầu do binh lính lục soát, về sau mới sai phụ nữ lục soát), nữ nhân cũng bị sờ nắn khắp ḿnh. Những người cầm chuỗi niệm Phật đa số không bị xét gắt gao như vậy; cũng có người chẳng bị xét, cho đi luôn. Niệm Phật chính là diệu pháp cứu nạn cứu mạng trong đời loạn. Người xứ… tin Phật, đối với nam nữ cầm xâu chuỗi đều không ngược đăi quá đáng, sẽ khiến cho hết thảy mọi người đều niệm Phật. Phàm những ai đi ra ngoài đều cầm chuỗi niệm Phật, dẫu là kẻ chúng muốn bắt làm phu phục dịch cũng sẽ thả cho đi.

Một đệ tử ở Vu Hồ tên là Ngô Thương Châu làm sĩ quan. Năm Dân Quốc 24 (1935), ông ta tham chiến tại Tuy Viễn, bị lính xứ… bắt được, lột quần áo khám xét, thấy ông ta cổ đeo chuỗi niệm Phật liền tỏ vẻ kính trọng, không xét nữa, dẫn đến gặp viên Tư Lệnh. Viên Tư Lệnh do thấy ông ta vốn làm giáo viên ở trường X…, nói: “Ông cũng đến đây rồi!” Ông Ngô nói: “Tôi đến đây để ngắm phong cảnh”. Viên Tư Lệnh liền ra lệnh thả cho ông ta đi. Nếu chẳng đeo chuỗi niệm Phật ấy, chắc tánh mạng đă mất trong tay bọn lính rồi, có c̣n gặp được viên Tư Lệnh hay chăng? Đấy chính là vô thượng diệu pháp để gặp dữ hóa lành trong hiện tại. Vợ ông không chịu niệm, lỡ xảy ra những chuyện như khám xét v.v… th́ sẽ xử sự như thế nào? Đây là mối họa do con người gây ra. Nếu gặp phải oán gia đối đầu trong đời trước mà nếu không niệm Phật sẽ đành bỏ mặc cho nó làm ǵ th́ làm, có cách nào để trốn tránh được đâu!

Dưới triều Tống, Trần Xí lỡ giết người. Một hôm thấy kẻ ấy đi tới, biết là hắn đến đ̣i mạng, vội vă niệm Nam Mô A Di Đà Phật, oán quỷ liền đứng sững không tiến lên được! Càng niệm rất gấp, oán quỷ liền bỏ đi. Trần Xí liền sốt sắng niệm Phật, lại sống được mấy chục năm rồi mới văng sanh Tây Phương. [Văng sanh rồi] c̣n trở về, nhập vào thân đứa cháu nội gái nói chuyện ông ta đă văng sanh. Người nhà nói: “Lúc cụ c̣n sống chưa kịp vẽ h́nh tượng. Nếu cụ chịu hiện thân, sẽ vẽ h́nh tượng để thờ”, liền hiện h́nh thân h́nh của người cơi Tây Phương.

Năm Dân Quốc 19 (1930), một thanh niên hai mươi bốn tuổi ở Tô Châu tên là Quách Chấn Thanh nhà ở đường Cảnh Đức, Tô Châu, mở tiệm bán giấy Hợp Pháp, theo một người già trong gia đ́nh đến chùa Báo Quốc quy y. Quang bảo anh ta: “Hiện thời đang nhằm t́nh thế hoạn nạn, hăy thường niệm Phật và niệm thánh hiệu Quán Âm”. Chàng trai hai mươi bốn tuổi béo phục phịch ấy liền chịu nghe theo. Tháng Chạp năm sau sang Thượng Hải; chiến sự nổ ra, chẳng thể trở về đất Tô được. Đến Tết vẫn c̣n đánh nhau, chẳng biết tới bao giờ mới kết thúc. Đường xe lửa đă bị cắt đứt, liền ngồi tàu thủy nhỏ ṿng qua ngă Gia Hưng trở về Tô Châu. [Tàu thủy] tới lui đều bị cường đạo cướp bóc, anh ta bèn thường niệm thánh hiệu Quán Âm, nhưng chỉ niệm thầm chứ không niệm ra tiếng. Ban đêm cường đạo đến cướp, anh ta đang ở dưới cabin. Trong cabin có rất nhiều người nghèo. Bọn cướp lục soát trên boong xong xuôi liền xuống hầm tàu, tiền bạc của những kẻ nghèo cùng đều bị tước sạch. Anh ta người béo phục phịch, lại mặc một cái áo da, nhưng bọn cướp trọn chẳng thèm hỏi tới! Cả tàu đều bị cướp sạch, chỉ ḿnh anh ta là không buồn hỏi tới! Ấy chính là do Phật quang gia bị nên lũ cường đạo chẳng thấy anh ta.

Một nữ nhân ở Hồ Nam sanh nở, oán quỷ dựa vào thân, phát cuồng, cười ngặt nghẽo, cắn đứt thịt trên tay ḿnh mấy chỗ mà miệng vẫn cười! Cha mẹ chồng thấy vậy không biết làm cách nào, bèn lớn tiếng niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Cô ta liền như si ngốc, không cười nữa, sanh đứa con ra. Ấy là do chí thành niệm Quán Ân, oán quỷ bỏ đi.

Vợ ông không biết “trong hiện tại chẳng biết chắc lúc nào sẽ có họa lớn tầy trời”. Nếu hiểu được đạo lư ngừa sẵn tai họa, dù có cấm cản bà ta đừng niệm, bà ta vẫn cứ muốn lén lút thầm niệm, cần ǵ ông phải khuyên? Do bà ta là kẻ hồ đồ thiếu hiểu biết nên chẳng biết ḿnh đang hoàn toàn sống trong cảnh họa hoạn, ngược ngạo tưởng là yên vui. Tới khi đại họa giáng xuống thân, không cách nào tránh né, hoảng sợ như sét nổ long trời, bưng tai chẳng kịp! Người như vậy đáng gọi là “kẻ si dại đáng thương xót, là phường ù ù cạc cạc chẳng thể cứu được, là kẻ sống oan uổng một đời”. Chẳng đáng buồn sao! Chẳng đáng xót sao?

Ông hăy đưa thư của tôi cho bà ta xem. Nếu bà ta không biết chữ th́ hăy giảng nói cho bà ta, chắc sẽ phát tâm! Nếu không, đành mặc cho bà ta vào A Tỳ địa ngục, thường hưởng thụ những món cúng dường thượng diệu của Diêm La đại vương như giường sắt, cột đồng, rừng gươm, núi đao, vạc sôi, ḷ than, coi đó là sung sướng, sung sướng không chi hơn được! Thử hỏi bà ta có muốn hưởng thụ những thứ cúng dường tốt đẹp ấy và muốn nhận lănh sự yên vui ấy hay không? Nếu bà ta muốn th́ cũng đáng coi là một hảo hán. Sợ rằng dẫu chỉ nghe [nói tới chuyện ấy] bà ta cũng chẳng muốn nghe. Chẳng chấp nhận làm gă hảo hán ấy th́ phải làm một bà cụ già vô dụng chỉ biết niệm Phật!

Ông làm nghề Y, đừng nên học theo bọn thầy thuốc tầm thường “đau đầu bèn chữa đầu, đau chân bèn chữa chân” hiện thời! Bất luận nam hay nữ [hễ bị bệnh] đều nên dạy họ ngưng ân ái, măi cho tới khi b́nh phục hoàn toàn, vẫn phải đợi hơn cả tháng rồi mới có thể ân ái một lần. Nếu không, dẫu chẳng đến nỗi chết ngay, nhưng cũng trở thành kẻ tàn phế vô dụng. Trừ khuê nữ, quả phụ là chẳng nên nói ra, đối với những kẻ khác đều phải nên nói [chuyện này], chớ nên ngượng miệng!

Hễ ai cầu con th́ dạy họ ngưng ân ái nửa năm để bồi bổ Tiên Thiên cho đầy đủ, đợi khi vợ sạch kinh nguyệt rồi, vào đêm khí trời trong trẻo, nhằm ngày tốt không xui xẻo mới ân ái th́ sẽ thụ thai! Từ đấy vĩnh viễn ngưng ăn nằm, chắc chắn đứa con sanh ra thân thể mạnh khỏe, tâm thức thông minh, mẫn tiệp, tánh t́nh hiền thiện. Lại dạy vợ chồng họ thường niệm thánh hiệu Quán Âm, chắc chắn sẽ sanh được con cái phước đức, trí huệ, rạng rỡ đất nước lẫn gia đ́nh.

Thầy thuốc hiện thời chỉ biết chữa bệnh, c̣n điều kiêng kỵ lớn lao đối với bệnh tật là ân ái đều nhất loạt chẳng chịu nhắc tới. Họ chẳng biết do đây mà bao nhiêu thanh niên nam nữ bị chết mất. Đấy chẳng phải là do thầy thuốc chữa bệnh làm chết bệnh nhân, nhưng v́ chẳng chịu nói những điều kiêng kỵ trong bệnh tật đến nỗi người bệnh phải chết, th́ cũng chẳng thể nào không gánh cái tội làm hại tánh mạng của người ta! Nếu bất luận là bệnh nào, đều dạy họ thôi ăn nằm th́ công đức lớn lao giống như ban cho người ấy sức khỏe, trường thọ, yên vui vậy! Lại c̣n khuyên người ta ăn chay niệm Phật, niệm Quán Âm th́ c̣n có thể làm cho người ấy liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, tức là “làm nghề mà tăng tấn đạo” vậy. So với những kẻ chỉ trị bệnh th́ công đức càng lớn lao hơn nhiều lắm!

Nữ nhân khi sanh nở niệm Quán Âm chắc chắn chẳng bị khó sanh. Trong Một Lá Thư Trả Lời Khắp đă có nói rồi. Con gái từ nhỏ phải học tánh từ thiện, chẳng nóng giận th́ những điều tốt lành sau này sẽ chẳng thể nào nói trọn. Nếu ưa nổi nóng th́ những nỗi khổ sở sau này cũng chẳng thể nào nói trọn! Nếu cho con bú sữa mà nổi nóng đùng đùng th́ đứa nhỏ ắt sẽ chết, nếu như nổi nóng vừa vừa th́ đứa nhỏ ắt bị bệnh. Đấy chính là điều các danh y, thần y từ xưa tới nay chưa hề nói rơ! Nữ nhân tánh t́nh nhu ḥa th́ gia đạo cũng sẽ ḥa thuận, con cháu nh́n theo bắt chước làm lành, lợi ích vô cùng!

Bài thuốc trị bệnh sốt rét trong Dược Phương dẫu người đă bị bệnh hơn mấy chục năm chẳng trị được cũng đều hễ trị liền lành. Năm ngoái, một đệ tử trị lành bệnh cho một người ở Thường Châu mắc bệnh sốt rét suốt mười bốn năm. Suốt mười bốn năm không biết người ấy đă qua tay bao nhiêu thầy thuốc chữa trị! Toa cai thuốc phiện trị được bệnh khí thống nơi gan, nơi bao tử. Dẫu ai bị bệnh khí thống mấy chục năm cũng hễ trị liền lành. Do mắt Quang chẳng dám nh́n vào giấy trắng ngần để viết nên ghi vào đây.

Toa thuốc trị chó dại cắn có nhiều vị thuốc đắt tiền, các tiệm thuốc đều đem thuốc giả thay vào, đến nỗi gây nguy hiểm cho tánh mạng người khác. C̣n phương thuốc này hết sức tiện lợi, nhưng trong ấy có Địa Ngao Trùng, nhà người bệnh phải niệm Phật siêu độ cho loài trùng ấy sanh về Tây Phương th́ đôi bên đều được lợi ích. Quang già rồi, từ nay về sau đừng gởi thư tới nữa do không có mục lực lẫn tinh thần để thù tiếp.

 

595. Thư trả lời cư sĩ Điển Uẩn

Hôm qua nhận được thư của cha ông, cho biết đối với hai gói sách Quang gởi cho cụ vào năm ngoái, ông đọc xong rất hoan hỷ, cũng muốn cùng với vợ quy y. Đối với những sách đă gởi vào năm ngoái, nếu ông đọc kĩ lưỡng th́ chẳng những biết pháp tắc tu tŕ Tịnh nghiệp, mà ngay cả cách giữ ḿnh cư xử trong cơi đời, thờ cha mẹ, dạy con, đều có pháp tắc.

Hiện thời sát kiếp ngập tràn, nhân dân lầm than, xét tới cội nguồn th́ vẫn là do chính ḿnh gây nên, chính ḿnh phải hứng chịu. V́ sao vậy? Do người đời tham ăn ngon cho sướng bụng, giết các loài vật sống trong nước, trên mặt đất, bay trên không để thỏa thích bụng miệng. Sát nghiệp kết lại lâu ngày nên to dần, trở thành sát kiếp. Đối với cái nghiệp đă qua, chỉ có chí thành niệm Nam Mô A Di Đà Phật để siêu độ những sanh mạng bị giết ăn trong nhiều đời nhiều kiếp. Từ nay kiêng giết, ăn chay để vừa dứt sát nghiệp vừa rất phù hợp với cách thức giữ ǵn sức khỏe lớn lao.

Chẳng biết cha ông đă ăn thuần món chay hay chưa? Ông hăy nên thuận theo chí cha mà ăn chay. Nếu cha ông chưa ăn chay trường th́ hăy nên khuyên cụ ăn chay trường. Đă không ăn thịt th́ một ngày sẽ đỡ giết bao nhiêu đó mạng, vui sướng chi hơn? Ngay cả con cái cũng nên khuyên chúng ăn chay. Đấy là yêu thương chân thật vậy!

Ông đọc tờ thông cáo rộng răi về chuyện sữa độc giết chết trẻ con sẽ biết ăn thịt có hại, đă gây trở ngại lớn lao cho phép giữ ǵn sức khỏe hiện thời, huống chi lại c̣n phải đền trả thân mạng trong đời sau, đời sau nữa!